Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh với người làm báo
Ngày 21.6.1925, tại Quảng Châu (Trung Quốc), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã sáng lập ra tờ báo Thanh Niên - cơ quan của tổ chức Thanh niên Cách mạng Việt Nam. Đây là tờ báo cách mạng Việt Nam đầu tiên do Bác Hồ sáng lập, chỉ đạo và là người biên tập chính. Báo Thanh Niên giữ vai trò lịch sử đặc biệt quan trọng, mở đầu cho việc tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa cách mạng theo quan điểm Mác - Lênin, viết bằng quốc ngữ Việt Nam, được phổ biến rộng khắp cả nước, trong người dân Việt - nhất là trong tầng lớp thanh niên, công nhân, nông dân…
Nói về làm báo và viết báo, Bác Hồ cho rằng: “Tờ báo chỉ là giấy trắng mực đen mà thôi. Nhưng với giấy trắng mực đen ấy, người ta có thể viết nên những bức tối hậu thư, người ta có thể viết những bức thư yêu đương” (Trả lời phỏng vấn báo chí năm 1946). Và Người cho là:“Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà” (Thư gửi anh em trí thức Nam Bộ, năm 1947).
Trong kháng chiến chống Pháp, với những cán bộ, học viên vào học lớp viết báo đầu tiên năm 1949, Bác dạy bảo: “Nhiệm vụ của tờ báo là tuyên truyền, cổ động, huấn luyện, giáo dục và tổ chức dân chúng để đưa dân chúng đến mục đích chung. Mục đích chung là kháng chiến và kiến quốc” (Thư gửi Lớp học viết báo Huỳnh Thúc Kháng, năm 1949).
Bác căn dặn các nhà báo: Trước khi đặt bút xuống trang giấy, người viết cần tự mình thật sáng tỏ, ta “Viết cho ai? Viết để làm gì? Viết như thế nào?” (Phát biểu tại Đại hội lần II Hội Nhà báo Việt Nam, năm 1959), “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng” (Phát biểu tại Đại hội lần thứ III Hội Nhà báo Việt Nam, năm 1962). Vì “Đối với những người viết báo chúng ta, cây bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng động viên quần chúng đoàn kết đấu tranh...” (Điện mừng Hội Nhà báo Á - Phi, năm 1965)...
Nói về kinh nghiệm trong đời làm báo, Bác Hồ chia sẻ với báo giới: “Kinh nghiệm làm báo của Bác là kinh nghiệm ngược. Bác học viết báo Pháp trước, rồi học viết báo Trung Quốc, rồi sau mới học viết báo Việt Nam”. Sự đi ngược ấy theo Người nói, là bắt nguồn từ yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng và hoàn cảnh từng lúc, từng nơi. Khởi đầu, Nguyễn Ái Quốc, thông qua những bài báo viết bằng tiếng Pháp, đánh động dư luận Pháp và châu Âu về tình cảnh các nước thuộc địa trên bán đảo Đông Dương. Sau đó, đến làm việc tại nước nào, Bác cũng cố gắng nắm vững ngôn ngữ nước ấy để viết báo, như tiếng Nga, tiếng Đức, tiếng Trung Hoa...
Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, Người và các đồng chí lãnh đạo Trung ương từ chiến khu về Hà Nội, Bác chỉ thị ngay phải thành lập Đài Phát thanh quốc gia - mà từ chỉ đạo của Người, lời xướng của VOV hiện nay trở thành biểu tượng dân tộc đến nay sau 75 năm: “Đây là Tiếng nói Việt Nam - phát thanh từ Hà Nội, Thủ đô...”. Từ đó, với trọng trách Nguyên thủ quốc gia, công việc hết sức nặng nề, bộn bề sau ngày Cách mạng Tháng Tám và đối phó với cuộc xâm lược lần 2 của thực dân Pháp, song Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn không ngừng viết, theo dõi báo chí, khi cần là viết các bài với nhiều bút danh khác nhau, không mệt mỏi, bằng sự đam mê ít người sánh bằng, có bài đăng trên các tờ báo lớn, cổ vũ cho công cuộc kháng chiến, kiến quốc nước nhà.
Trong những ngày kháng chiến chống Pháp ác liệt, Người vẫn không quên chỉ đạo việc mở lớp đào tạo các nhà báo. Tại lớp báo chí đầu tiên trong chiến khu, năm 1949, chính Người đã gửi thư chúc mừng và hoan nghênh các nhà báo dù rất xa xôi, đã về dự lớp học viết báo đầu tiên vẫn được tổ chức ở khu rừng Bờ Rạ thuộc tỉnh Thái Nguyên. Lớp học khai giảng vào đúng ngày 4-4-1949 gồm có 43 học viên, trong đó có 3 nhà báo nữ. Tham gia giảng dạy cho lớp báo chí đầu tiên có 29 giảng viên, trong đó có các nhà báo Hoàng Quốc Việt, Bí thư Tổng bộ Việt Minh, Tổng Biên tập Báo Cứu Quốc; nhà báo Đỗ Đức Dục, Phó Bí thư Tổng bộ Việt Minh, Chủ nhiệm Báo Độc Lập (sau được bổ nhiệm Giám đốc Trường Huỳnh Thúc Kháng); Nhà báo Xuân Thủy, Ủy viên Thường trực Tổng bộ Việt Minh, Chủ nhiệm Báo Cứu Quốc (sau là Phó Giám đốc), cùng nhiều nhà báo nổi tiếng khác.
Chiến dịch Điện Biên Phủ vừa kết thúc thắng lợi, Người đã thúc giục các nhà báo, nhà văn của Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, lúc này đang đóng ở Chiến khu Việt Bắc, để cho ra đời tờ báo cho thiếu niên. Người đã chỉ đạo đồng chí Nguyễn Lam, lúc đó là Bí thư thứ Nhất Trung ương Đoàn và Trung ương Đoàn đã chỉ định Nhạc sĩ Phong Nhã làm Tổng Biên tập khi ra đời báo Thiếu niên Tiền phong. Và chính Người không những viết bài cho các cháu thiếu niên, mà còn góp ý kỹ của từng số báo từ năm ra đời ngày 1.6.1954 tại Bản Dôn, xã Thanh La, chiến khu Việt Bắc, nay là huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Bác Hồ đọc báo, viết báo tới ngày cận kề trước lúc Người đi xa tháng 9-1969. Qua hơn 2.000 bài báo các thể loại, trong bất cứ hoàn cảnh nào Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng coi báo chí là một kênh thông tin có sứ mệnh tuyên truyền đầy đủ các chủ trương, đường lối của Đảng, Chính phủ, giáo dục cán bộ, hướng dẫn nhân dân, tổ chức phong trào, bày tỏ chính kiến đối với mọi vấn đề thời cuộc của đất nước, thế giới.
Thực hiện lời dạy về làm báo, viết báo của Người, từ hàng chục năm nay, Đảng, Nhà nước đã hết lòng, hết sức phấn đấu vì những người đã đổ xương máu, hy sinh và đóng góp một phần thân thể cho Tổ quốc, trong đó có đội ngũ người làm báo mà hiện nay đã trở nên đội ngũ hùng hậu, với 41.000 nhà báo trong cả nước, đang là một đội ngũ tiêu biểu đã, đang học tập và làm theo Bác từ trong đạo đức, phong cách, việc làm, đến những bài báo được đến tay bạn đọc, đến người nghe, người xem.
Nhắc lại những lời dạy thiêng liêng của Bác Hồ nhân kỷ niệm 95 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam để thấy rằng, trải qua các giai đoạn của cách mạng, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Bác Hồ cũng đều nghĩ đến báo chí, tác động của báo chí. Người đã dạy về cách làm, cách đối nhân xử thế cho người làm báo, hay cái TÂM, cái TẦM của nhà báo. Nay, với trách nhiệm của những người cầm bút, những chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng - văn hóa của Đảng, trước hết phải là những người có tính Đảng cao nhất./.
Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Xây dựng Đảng điện tử ngày 20.6.2020
Bài liên quan
- Giải pháp nâng cao vai trò của báo mạng điện tử đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam
- Ngôn ngữ truyền thông thương hiệu ca sĩ Việt Nam trên mạng xã hội và hàm ý quản trị
- Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông nguy cơ tại Việt Nam hiện nay
- Vai trò của người học trong chuyển hóa trải nghiệm truyền thông thành tài sản thương hiệu đại học
- Các góc độ nghiên cứu quản trị tài chính cơ quan báo chí trong bối cảnh chuyển đổi số
Xem nhiều
-
1
Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV: củng cố nền tảng, khơi thông động lực, thúc đẩy phát triển bền vững
-
2
Tạp chí điện tử Văn hoá và Phát triển với vai trò bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Mường
-
3
Thông tin về phòng, chống tội phạm công nghệ cao trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay
-
4
Bế mạc Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV: Thống nhất cao về những vấn đề lớn, hệ trọng
-
5
Kiên định tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh giữ gìn “hồn dân tộc”, đón nhận “trí tuệ nhân loại” trong kỷ nguyên số
-
6
Cơ sở lý luận và thực tiễn về Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc trong Báo cáo Chính trị Đại hội XIV của Đảng
Liên kết
- Báo điện tử đảng cộng sản việt nam
- Báo nhân dân
- Báo Quân đội nhân dân
- Cổng thông tin điện tử Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia hồ chí minh
- Tạp chí Cộng sản
- Tạp chí Giáo dục lý luận
- Tạp chí Giáo dục và Xã hội
- Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
- Tạp chí Lý luận chính trị
- Tạp chí Nghiên cứu con người
- TẠP CHÍ Nghiên cứu dân tộc
- Tạp chí Người làm báo
- Tạp chí Nội chính
- Tạp chí Quản lý Nhà nước
- Tạp chí Tổ chức Nhà nước
- Tạp chí Tuyên giáo
- Tạp chí Xây Dựng Đảng
- Thư viện số Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Trang thông tin điện tử Hội đồng Lý luận Trung ương
Kiên định tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh giữ gìn “hồn dân tộc”, đón nhận “trí tuệ nhân loại” trong kỷ nguyên số
Bài viết tập trung phân tích giá trị thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa giữ gìn “hồn dân tộc” và tiếp thu “trí tuệ nhân loại” trước tác động mạnh mẽ của cách mạng công nghiệp 4.0. Từ việc nhận diện các nguy cơ “xâm lăng văn hóa” và “lai căng giá trị”, bài viết đề xuất phương thức sử dụng công nghệ số để lan tỏa di sản và thiết lập “bộ lọc văn hóa” để tiếp nhận tri thức nhân loại trên cơ sở có chọn lọc. Từ đó, khẳng định việc kiên định tư tưởng Hồ Chí Minh là giải pháp then chốt để xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc, giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng mà không bị hòa tan trong kỷ nguyên số.
Giải pháp nâng cao vai trò của báo mạng điện tử đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam
Giải pháp nâng cao vai trò của báo mạng điện tử đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam
Thời gian qua, báo mạng điện tử đã thể hiện tinh thần đấu tranh phòng, chống tham nhũng quyết liệt theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và gặt hái được nhiều thành công đáng ghi nhận, khẳng định vai trò và vị thế tiên phong. Tuy nhiên, hoạt động đấu tranh phòng, chống tham nhũng của báo mạng điện tử cũng còn tồn tại một số hạn chế trong nội dung thông tin, cách thức đấu tranh và hình thức thể hiện. Do vậy, bằng phương pháp phân tích nội dung báo chí kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và định tính, bài viết sẽ chỉ ra những thành công, hạn chế, tìm ra nguyên nhân, làm cơ sở đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của báo mạng điện tử trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam thời gian tới.
Ngôn ngữ truyền thông thương hiệu ca sĩ Việt Nam trên mạng xã hội và hàm ý quản trị
Ngôn ngữ truyền thông thương hiệu ca sĩ Việt Nam trên mạng xã hội và hàm ý quản trị
Trong quản trị truyền thông thương hiệu cá nhân trên mạng xã hội, ngôn ngữ truyền thông đã trở thành công cụ chiến lược để nghệ sĩ định vị thương hiệu cá nhân. Bài viết tập trung phân tích đặc trưng ngôn ngữ truyền thông thương hiệu của ba ca sĩ Việt Nam tiêu biểu là Quốc Thiên, Đức Phúc và Bích Phương trên các nền tảng Facebook, YouTube và TikTok. Bằng phương pháp nghiên cứu tài liệu, phân tích nội dung và quan sát thực nghiệm, nghiên cứu chỉ ra sự chuyển dịch linh hoạt trong việc sử dụng ngôn ngữ: từ ngôn ngữ biểu cảm, gần gũi nhằm xây dựng cộng đồng người hâm mộ đến ngôn ngữ chuyên môn khẳng định giá trị nghệ thuật thực lực. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc cá nhân hóa ngôn ngữ truyền thông và sự nhất quán trong thông điệp đa nền tảng là yếu tố then chốt tạo nên tài sản thương hiệu bền vững. Đồng thời, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm chuẩn hóa ngôn ngữ truyền thông của nghệ sĩ, góp phần nâng cao văn hóa ứng xử trên không gian mạng và phát huy “sức mạnh mềm” của văn hóa Việt Nam.
Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông nguy cơ tại Việt Nam hiện nay
Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông nguy cơ tại Việt Nam hiện nay
Bài báo hệ thống hóa cơ sở lý luận về truyền thông nguy cơ từ lăng kính quản trị quốc gia, bảo vệ an ninh phi truyền thống và định hướng dư luận xã hội. Thông qua phân tích thực trạng công tác truyền thông nguy cơ tại Việt Nam trong bối cảnh ứng phó với các dịch bệnh lây nhiễm mới nổi và thảm họa y tế công cộng, nghiên cứu làm sáng tỏ những dấu ấn thành tựu trong việc huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị nhằm củng cố vững chắc thế trận lòng dân. Song song đó, bài viết nhận diện một cách khách quan, khoa học những điểm nghẽn mang tính cấu trúc về năng lực “gác cổng” thông tin, sự thiếu đồng bộ trong quy trình điều hành liên ngành và công tác kiểm soát khủng hoảng trên không gian mạng tại tuyến cơ sở. Dựa trên hệ quy chiếu lý luận và thực tiễn, nghiên cứu đề xuất hệ thống giải pháp chiến lược nhằm chuẩn hóa diễn ngôn học thuật, hoàn thiện thể chế ứng phó và nâng tầm bản lĩnh chính trị cho đội ngũ truyền thông, qua đó góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước mọi biến cố.
Vai trò của người học trong chuyển hóa trải nghiệm truyền thông thành tài sản thương hiệu đại học
Vai trò của người học trong chuyển hóa trải nghiệm truyền thông thành tài sản thương hiệu đại học
Trong bối cảnh tự chủ đại học được luật hóa và chuyển đổi số trở thành định hướng chiến lược, quản trị truyền thông thương hiệu trường đại học đang chuyển từ quảng bá hình ảnh sang kiến tạo giá trị và niềm tin của người học. Trên cơ sở tiếp cận lý thuyết tài sản thương hiệu dựa trên khách hàng và truyền thông tích hợp, bài báo phân tích vai trò trung gian của người học trong quá trình chuyển hóa các trải nghiệm truyền thông thành tài sản thương hiệu đại học. Nghiên cứu sử dụng phương pháp tổng quan và tổng hợp lý thuyết, gắn với bối cảnh chính sách giáo dục đại học hiện hành. Kết quả cho thấy, trải nghiệm người học là yếu tố then chốt kết nối thông điệp truyền thông với giá trị thương hiệu được cảm nhận, qua đó góp phần củng cố uy tín và niềm tin đối với nhà trường trong môi trường số.
llcttt1994dientu@gmail.com
024.38348033
Bình luận