Khát vọng Hồ Chí Minh và trách nhiệm của hệ thống chính trị cùng toàn xã hội trong sự nghiệp phát triển đất nước hiện nay
Mục tiêu này thể hiện ý chí, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời, đó là sự phát huy, tiếp nối khát vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Chúng tôi đồng tình với quan điểm của các nhà nghiên cứu rằng, khát vọng Hồ Chí Minh là: “Việt Nam độc lập, tự do, hạnh phúc, dân chủ, phồn vinh, hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu”(1). Việc thực hiện thắng lợi mục tiêu trên đây do Đại hội Đảng đề ra cũng chính là hiện thực hóa khát vọng của Người và đưa đất nước ta phát triển lên một tầm cao mới. Mục tiêu đó cũng đặt ra cho hệ thống chính trị và toàn xã hội những trách nhiệm lớn lao trong sự nghiệp phát triển đất nước hiện nay.
1. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ có “một ham muốn, ham muốn tột bậc, đó là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”(2). Ham muốn đó của Người chính là khát vọng, đồng thời là động lực mạnh mẽ thúc đẩy người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành xuất dương tìm đường cứu nước ở tuổi 21; giúp cho Người vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ và hiểm nguy trong hơn 30 năm bôn ba khắp năm châu, bốn biển. Dù phải làm việc cực nhọc trên các con tàu viễn dương hay tại các thành phố ở châu Âu, phải đối mặt với mạng lưới mật vụ của chính quyền thực dân, đế quốc, phải chịu cảnh giam cầm tại nhà tù của thực dân Anh (tại Hồng Kông, từ năm 1931 - 1933), tại nhà tù của chính quyền Tưởng Giới Thạch (tại Quảng Tây, từ năm 1942 - 1943), nhưng nhờ có động lực đó, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh vẫn giữ vững ý chí và mục tiêu phấn đấu cho độc lập, tự do của đất nước, hạnh phúc của nhân dân.
Trong quá trình hiểu các học thuyết và thực tiễn các cuộc cách mạng trên thế giới, Hồ Chí Minh tiếp thu, kế thừa nhiều giá trị lý luận và bài học kinh nghiệm quý giá để vận dụng vào cách mạng nước ta. Ngoài chủ nghĩa Mác - Lênin và các cuộc cách mạng vô sản, Người còn tìm hiểu và học hỏi từ những học thuyết và các cuộc cách mạng khác để viết cuốn sách Đường kách mệnh (xuất bản lần đầu năm 1927) và nhiều sách báo, tài liệu khác. Trong đó, Người tiếp thu chủ nghĩa tam dân của cuộc Cách mạng Tân Hợi (Trung Quốc, năm 1911), đó là: “Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc”, để từ đó, sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Người đã chọn tiêu ngữ cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” mà chúng ta tiếp tục sử dụng đến ngày nay.
Khi soạn thảo bản Tuyên ngôn độc lập đọc trước quốc dân, đồng bào ngày 2.9.1945, Hồ Chí Minh cũng trích dẫn bản tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ, trong đó có “quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Theo Người, giành độc lập là tiền đề quan trọng để mang lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(3). Để thực hiện được tự do, hạnh phúc cho nhân dân, tất yếu phải xây dựng chủ nghĩa xã hội, như Người đã chỉ rõ: “Mục đích của chủ nghĩa xã hội là gì? Nói một cách đơn giản và dễ hiểu là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”(4).
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân, đất nước ta cần phấn đấu để đuổi kịp các nước phát triển trên thế giới. Vì thế, từ ngày mới giành được độc lập, Người đã nhắc tới ngày đất nước ta “sánh vai các cường quốc năm châu”. Trong những năm tháng trên cương vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mặc dù phải tập trung lãnh đạo nhân dân ta đương đầu với các cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân, đế quốc với tinh thần “không có gì quý hơn độc lập, tự do”, nhưng Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Người dành nhiều thời gian đi thăm các nhà máy, công trường, nông trường, hợp tác xã nông nghiệp để kiểm tra tình hình sản xuất và động viên cán bộ, công nhân viên, nông dân.
Năm 1966, khi cuộc Kháng chiến chống Mỹ đang trong giai đoạn ác liệt nhất, Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi chống Mỹ cứu nước, trong đó, Người chỉ rõ: “Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Trong bản Di chúc ngày 10.6.1969, Người viết: “Còn non, còn nước, còn người. Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”(5). Cuối bản Di chúc, Người viết: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đoàn kết, phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”(6). Như vậy, có thể nói, trọn cuộc đời hoạt động của mình, khát vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng nước Việt Nam độc lập, tự do, hạnh phúc, dân chủ, phồn vinh, hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu luôn mãnh liệt và trở thành định hướng quan trọng cho cách mạng Việt Nam.
2. Khát vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã truyền động lực mạnh mẽ cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta. Trong mọi thời kỳ cách mạng, bên cạnh nhiệm vụ đấu tranh giải phóng dân tộc, Đảng ta luôn coi trọng nhiệm vụ đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế, xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Ngay sau ngày hòa bình lập lại (năm 1954), cả miền Bắc tập trung vào nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời cùng với miền Nam tiếp tục đấu tranh chống ngoại xâm, thống nhất đất nước. Các thế hệ thanh niên hăng hái “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”; ở hậu phương, đồng bào thi đua sản xuất, toàn miền Bắc ra sức phấn đấu với tinh thần “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”.
Từ một nền kinh tế lạc hậu, được sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế, miền Bắc đã từng bước xây dựng nền công nghiệp, chuẩn bị cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, đảm bảo cuộc sống no ấm của nhân dân và chi viện cho chiến trường miền Nam. Những công trình xây dựng, nhà máy, khu mỏ lần lượt ra đời tại nhiều nơi trên miền Bắc, như: thủy điện Thác Bà, khu gang thép Thái Nguyên, nhà máy điện Việt Trì, khu mỏ than Hồng Gai, Cẩm Phả, cảng Hải Phòng, công trình đại thủy nông Bắc Hưng Hải, Nông trường Đồng Giao... Đây là những thành tựu to lớn, phục vụ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và góp phần vào những chiến công vang dội của đồng bào, chiến sĩ trên chiến trường miền Nam.
Ngay sau ngày thống nhất, đất nước ta phải tập trung lực lượng cho các cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và phía Bắc, đồng thời do cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt, bao vây cấm vận, nên nền kinh tế nước ta gặp khó khăn gay gắt. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã kịp thời đề ra đường lối đổi mới, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, huy động tiềm năng to lớn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
Khi sự nghiệp đổi mới đất nước mới thực hiện được những bước đầu tiên thì cuối thập kỷ 80, các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu lần lượt sụp đổ, năm 1991, Liên Xô tan rã. Chủ nghĩa xã hội trên thế giới lâm vào thoái trào, các thế lực thù địch hí hửng. Ở trong nước, nhiều cán bộ, đảng viên lo lắng cho sự nghiệp cách mạng. Tuy nhiên, những thành quả bước đầu của công cuộc đổi mới đã giúp cho đất nước ta vượt qua được khủng hoảng, tiếp tục vững bước phát triển. Sau 35 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn về mọi mặt.
Nền kinh tế kế hoạch hóa được chuyển đổi mạnh mẽ sang nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa; các thành phần kinh tế nhà nước, tập thể, tư nhân và đầu tư nước ngoài phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước liên tục tăng cao, đưa Việt Nam vào nhóm quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trên thế giới và khu vực. Khoa học, kỹ thuật và công nghệ trở thành động lực mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Cuối năm 2020, nền kinh tế Việt Nam đã vươn lên xếp thứ tư trong khu vực Đông Nam Á. Sự phát triển của nền kinh tế đã tạo ra tiềm lực vật chất vững chắc để giữ vững quốc phòng, an ninh. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội tiếp tục được phát triển. Giảm nghèo nhanh và bền vững hơn, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong cả nước được nâng cao về mọi mặt. Với mục tiêu, “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, Việt Nam đang vững bước trên con đường phát triển toàn diện. Đánh giá về những thành tựu đó, Đại hội Đảng lần thứ XIII đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(7).
Những thành tựu to lớn của 35 năm đổi mới đất nước có ý nghĩa lịch sử và là kết tinh sức sáng tạo của Đảng và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước ta phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại. Những thành tựu này là thành công trong việc thực hiện khát vọng Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, đất nước ta vẫn còn không ít hạn chế. Kinh tế - xã hội phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của đất nước và còn nhiều khó khăn, thách thức. Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong 10 năm gần đây và việc tạo nền tảng để đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại chưa đạt được mục tiêu đề ra. Công cuộc đổi mới tiếp tục đặt ra nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn phải tập trung giải quyết để đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững hơn theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
3. Hiện nay, tình hình thế giới đang biến động nhanh chóng và phức tạp. Kinh tế thế giới sau một giai đoạn phát triển mạnh mẽ, nay đang lâm vào khủng hoảng, suy thoái nghiêm trọng. Sự tác động tiêu cực của đại dịch COVID -19 khiến cho sự khủng hoảng này có thể tiếp tục kéo dài. Các nước trên thế giới, nhất là các nước lớn đang điều chỉnh lại chiến lược phát triển; cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại, các cuộc tranh giành thị trường, nguồn tài nguyên, công nghệ, nhân lực chất lượng cao, thu hút đầu tư nước ngoài ngày càng quyết liệt.
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là công nghệ số phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với mỗi quốc gia. Ở trong nước, sự tác động tiêu cực của kinh tế thế giới và đại dịch Covid -19 gây ra khó khăn về mọi mặt: tốc độ phát triển kinh tế bị giảm sút, một số ngành kinh tế quan trọng bị tê liệt hoặc hoạt động cầm chừng, số lượng doanh nghiệp bị phá sản hoặc thua lỗ nặng, nợ nần lớn tăng cao; đời sống nhân dân ở các vùng dịch, nhất là người lao động có thu nhập thấp vô cùng khó khăn.
Đứng trước tình hình đó, một nhiệm vụ cấp bách đề ra trong năm nay và năm tới là phải ngăn chặn, đẩy lùi đại dịch Covid-19, đồng thời thực hiện mục tiêu duy trì và phát triển kinh tế - xã hội. Trong dài hạn, toàn xã hội phải tiếp tục thực hiện thắng lợi mục tiêu Đại hội Đảng đã đề ra, trong đó, mục tiêu “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi việc hoàn thành thắng lợi mục tiêu này chính là huy động được nguồn lực con người to lớn của 97 triệu đồng bào trong nước với hàng triệu kiều bào ta ở nước ngoài cùng chung tay xây dựng đất nước; tiếp nối khát vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng đất nước.
Về mục tiêu này, một vấn đề được đặt ra là, Việt Nam là một quốc gia đông dân số (đứng thứ 15 trên thế giới), mật độ dân số cao; người Việt Nam thông minh, cần cù; đất nước ta giàu tài nguyên thiên nhiên và có vị trí địa lý thuận lợi; nhưng năng suất lao động của người Việt Nam luôn bị đánh giá thấp so với thế giới và khu vực; nền kinh tế của nước ta trong 35 năm qua phát triển nhanh nhưng chưa tương xứng với tiềm năng. Trong khi đó, nhiều quốc gia trên thế giới vốn rất nghèo tài nguyên, mật độ dân số cao, đã từng trải qua những giai đoạn rất khó khăn (như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Israel…), nhưng nhờ phát huy nguồn lực con người, họ đã phát triển, vươn lên mạnh mẽ. Chính vì thế, việc khơi dậy khát vọng phát triển đất nước trong cả hệ thống chính trị, toàn thể dân tộc là một trong những yếu tố quan trọng để phát huy nguồn lực con người, là tiềm năng, thế mạnh của đất nước ta hiện nay. Để thực hiện được mục tiêu này, theo quan điểm của chúng tôi, trong thời gian tới, cả hệ thống chính trị và toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta cần tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau đây:
Một là, trước mắt, cả hệ thống chính trị và toàn dân quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu đẩy lùi đại dịch Covid -19, hoàn thành mục tiêu kép: bảo vệ an toàn tính mạng, sức khỏe cho nhân dân, đồng thời phát triển kinh tế - xã hội. Mỗi đơn vị, cá nhân cần nâng cao ý thức trách nhiệm của mình trước cộng đồng, tích cực hưởng ứng Lời kêu gọi của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, thực hiện nghiêm túc các quy định của Chính phủ về công tác phòng, chống đại dịch; chia sẻ khó khăn của các cơ quan chức năng và nhân dân; đồng thời, duy trì thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Với tinh thần “Chống dịch như chống giặc”, mỗi công dân cần phát huy lòng dũng cảm, sẵn sàng cống hiến sức lực, trí tuệ và vật chất cho sự nghiệp chung; khắc phục khó khăn, gian khổ; thần tốc tiến hành các biện pháp, nhiệm vụ, quyết tâm giành thắng lợi.
Hai là, các cấp ủy, chính quyền coi trọng việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, trong đó đặc biệt là việc phát huy yếu tố con người. Trước hết, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải gương mẫu, thực hiện nghiêm túc các nhiệm vụ xây dựng và chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức và tổ chức cán bộ. Tiếp tục coi trọng việc học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Xây dựng cơ chế bảo vệ những cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung.
Ba là, phát huy các nguồn lực to lớn trong nhân dân và kiều bào ta ở nước ngoài. Tiếp tục đổi mới, cải cách hành chính, hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm tạo thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát huy cao nhất tiềm năng của mình; thu hút các nguồn lực vật chất và tinh thần từ bên ngoài; khuyến khích, tôn vinh các đơn vị, cá nhân đổi mới, sáng tạo, tận tụy lao động, sản xuất tạo ra giá trị cho xã hội. Phấn đấu sẽ có những tập đoàn kinh tế lớn thuộc các thành phần kinh tế, các cơ quan nghiên cứu và các nhà khoa học với những thành tựu khoa học, công nghệ có giá trị cao trong nước và trên thế giới. Đổi mới và đa dạng hóa các phong trào thi đua yêu nước phù hợp với điều kiện xã hội mới./.
________________________________________
(1) PGS, TS Bùi Đình Phong (2021), Khát vọng Hồ Chí Minh: Việt Nam độc lập, tự do, hạnh phúc, dân chủ, phồn vinh, hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu, Nxb. Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, tr.1.
(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, T.4, tr.161 - 162.
(3) Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb. CTQG Sự thật, Hà Nội, T.5, tr.64.
(4) Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Nxb. CTQG Hà Nội, T.10, tr.271.
(5), (6) Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1999), Nxb. CTQG, Hà Nội, tr.38, 40.
(7) Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nxb. CTQG Sự thật, Hà Nội, T.1, tr.104.
Nguồn: Bài đăng trên Báo Đảng cộng sản điện tử ngày 02.9.2021
Bài liên quan
- Kiên định tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh giữ gìn “hồn dân tộc”, đón nhận “trí tuệ nhân loại” trong kỷ nguyên số
- Phát huy giá trị di tích Hồ Chí Minh trong nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập lý luận chính trị cho sinh viên hiện nay
- Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên lý luận chính trị ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền hiện nay
- Vai trò của đoàn kết dân tộc trong xây dựng, bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Những vấn đề đặt ra trong nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm phát triển báo chí, truyền thông Việt Nam hiện nay
Xem nhiều
-
1
Tạp chí điện tử Văn hoá và Phát triển với vai trò bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Mường
-
2
Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV: củng cố nền tảng, khơi thông động lực, thúc đẩy phát triển bền vững
-
3
Kiên định tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh giữ gìn “hồn dân tộc”, đón nhận “trí tuệ nhân loại” trong kỷ nguyên số
-
4
Cơ sở lý luận và thực tiễn về Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc trong Báo cáo Chính trị Đại hội XIV của Đảng
-
5
Chiến lược truyền thông về du lịch Halal trên thế giới và gợi mở cho truyền thông Việt Nam
-
6
Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông nguy cơ tại Việt Nam hiện nay
Liên kết
- Báo điện tử đảng cộng sản việt nam
- Báo nhân dân
- Báo Quân đội nhân dân
- Cổng thông tin điện tử Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia hồ chí minh
- Tạp chí Cộng sản
- Tạp chí Giáo dục lý luận
- Tạp chí Giáo dục và Xã hội
- Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
- Tạp chí Lý luận chính trị
- Tạp chí Nghiên cứu con người
- TẠP CHÍ Nghiên cứu dân tộc
- Tạp chí Người làm báo
- Tạp chí Nội chính
- Tạp chí Quản lý Nhà nước
- Tạp chí Tổ chức Nhà nước
- Tạp chí Tuyên giáo
- Tạp chí Xây Dựng Đảng
- Thư viện số Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Trang thông tin điện tử Hội đồng Lý luận Trung ương
Giải pháp nâng cao vai trò của báo mạng điện tử đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam
Thời gian qua, báo mạng điện tử đã thể hiện tinh thần đấu tranh phòng, chống tham nhũng quyết liệt theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và gặt hái được nhiều thành công đáng ghi nhận, khẳng định vai trò và vị thế tiên phong. Tuy nhiên, hoạt động đấu tranh phòng, chống tham nhũng của báo mạng điện tử cũng còn tồn tại một số hạn chế trong nội dung thông tin, cách thức đấu tranh và hình thức thể hiện. Do vậy, bằng phương pháp phân tích nội dung báo chí kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và định tính, bài viết sẽ chỉ ra những thành công, hạn chế, tìm ra nguyên nhân, làm cơ sở đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của báo mạng điện tử trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam thời gian tới.
Kiên định tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh giữ gìn “hồn dân tộc”, đón nhận “trí tuệ nhân loại” trong kỷ nguyên số
Kiên định tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh giữ gìn “hồn dân tộc”, đón nhận “trí tuệ nhân loại” trong kỷ nguyên số
Bài viết tập trung phân tích giá trị thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa giữ gìn “hồn dân tộc” và tiếp thu “trí tuệ nhân loại” trước tác động mạnh mẽ của cách mạng công nghiệp 4.0. Từ việc nhận diện các nguy cơ “xâm lăng văn hóa” và “lai căng giá trị”, bài viết đề xuất phương thức sử dụng công nghệ số để lan tỏa di sản và thiết lập “bộ lọc văn hóa” để tiếp nhận tri thức nhân loại trên cơ sở có chọn lọc. Từ đó, khẳng định việc kiên định tư tưởng Hồ Chí Minh là giải pháp then chốt để xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc, giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng mà không bị hòa tan trong kỷ nguyên số.
Phát huy giá trị di tích Hồ Chí Minh trong nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập lý luận chính trị cho sinh viên hiện nay
Phát huy giá trị di tích Hồ Chí Minh trong nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập lý luận chính trị cho sinh viên hiện nay
Với gần 900 bảo tàng, di tích, điểm di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở mọi miền đất nước, hệ thống di tích Hồ Chí Minh đã góp phần làm phong phú thêm về cuộc đời cao đẹp, sự nghiệp vĩ đại, tư tưởng tiến bộ, đạo đức sáng ngời, phong cách giản dị, cao quý của Người. Không chỉ là “địa chỉ đỏ” để quy tụ tình cảm, giáo dục truyền thống, khơi dậy khát vọng cống hiến, sáng tạo của các thế hệ người Việt Nam nói chung, thế hệ trẻ nói riêng, hệ thống này còn lan tỏa các giá trị trường tồn của di sản Hồ Chí Minh đến các dân tộc trên thế giới. Vì vậy, tiếp tục nghiên cứu, bảo tồn, gìn giữ và phát huy giá trị di tích Hồ Chí Minh hiện nay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Từ đó giúp mỗi người chúng ta, đặc biệt là thế hệ trẻ, tin tưởng, tích cực, chủ động trong học tập và làm theo Bác với tất cả sự kính trọng, tình cảm, trách nhiệm và niềm tin vào con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn.
Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên lý luận chính trị ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền hiện nay
Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên lý luận chính trị ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền hiện nay
Giảng viên lý luận chính trị ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền là lực lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng trong sự nghiệp giáo dục lý luận chính trị của Học viện. Trước yêu cầu, nhiệm vụ chính trị ngày càng cao trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đội ngũ giảng viên lý luận chính trị phải thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực nghiên cứu, trong đó, việc nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học giữ vai trò then chốt. Bài viết phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động nghiên cứu của giảng viên lý luận chính trị tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, đồng thời đề xuất một số giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng nghiên cứu khoa học của đội ngũ này trong thời gian tới.
Vai trò của đoàn kết dân tộc trong xây dựng, bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Vai trò của đoàn kết dân tộc trong xây dựng, bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Đoàn kết dân tộc giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc củng cố nền tảng chính trị - xã hội, tạo sự đồng thuận cho quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thông qua việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết, giúp tăng cường niềm tin của Nhân dân, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Đoàn kết dân tộc cũng góp phần bảo vệ vững chắc an ninh, ổn định xã hội trong bối cảnh mới. Bài viết phân tích vai trò và đề xuất giải pháp phát huy vai trò đoàn kết dân tộc trong xây dựng, bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
llcttt1994dientu@gmail.com
024.38348033
Bình luận