Tạp chí điện tử tiếng Việt

Chấp nhận và sử dụng trí tuệ nhân tạo trong học tập của sinh viên báo chí - truyền thông ở Việt Nam

Acceptance and use of Artificial Intelligence in learning among journalism and communication students in Vietnam

Đoàn Thị Quỳnh Nga dqnga.ajc@gmail.com Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Ngày nhận bài: 18/09/2026 Ngày phản biện: 21/09/2026 Ngày xuất bản: 29/10/2026
Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi cách sinh viên tiếp cận thông tin, phát triển ý tưởng và thực hiện các nhiệm vụ học tập, đồng thời đặt ra những yêu cầu mới đối với đào tạo báo chí - truyền thông. Nghiên cứu phân tích mức độ chấp nhận và sử dụng AI trong học tập của sinh viên báo chí - truyền thông ở Việt Nam trên các phương diện: hành vi sử dụng, nhận thức về tính hữu ích, nhận thức về tính dễ sử dụng, thái độ và ý định sử dụng. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng, khảo sát trực tuyến thông qua Google Forms với 1.460 phiếu hợp lệ. Kết quả cho thấy sự không đồng đều giữa hành vi sử dụng và các chiều cạnh nhận thức, thái độ đối với AI, từ đó, đặt ra yêu cầu chuyển trọng tâm đào tạo từ kỹ năng vận hành công cụ sang năng lực sử dụng AI có phản biện, kiểm chứng và trách nhiệm.
The rapid development of generative artificial intelligence (AI) is transforming how students access information, develop ideas, and complete learning tasks, while also creating new requirements for journalism and communication education. This study examines the acceptance and use of AI in learning among journalism and communication students in Vietnam across five dimensions: usage behavior, perceived usefulness, perceived ease of use, attitudes, and behavioral intention to use AI. A quantitative approach was adopted, using an online survey administered via Google Forms, which yielded 1,460 valid responses. The findings reveal disparities between actual usage behavior and students’ perceptions of and attitudes toward AI. These findings highlight the need to shift the focus of education from operational skills in using AI tools to the development of competencies for critical, verifiable, and responsible AI use. Keywords: artificial intelligence, AI acceptance and use, AI use among journalism and communication students, journalism and communication students’ adaptation to AI.

trí tuệ nhân tạo, chấp nhận và sử dụng AI, AI với sinh viên báo chí - truyền thông, sinh viên báo chí - truyền thông thích ứng với AI.

artificial intelligence, AI acceptance and use, AI use among journalism and communication students, journalism and communication students’ adaptation to AI

Bộ Chính trị. (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-ve-dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-quoc-gia-119241224180048642.htm

 

Davis, F. D. (1989). Perceived usefulness, perceived ease of use, and user acceptance of information technology. MIS Quarterly, 13(3), 319–340. https://doi.org/10.2307/249008

 

Đặng Văn Em, Nguyễn Đình Loan Phương, & Nguyễn Thị Hảo. (2024). Thực trạng ứng dụng ChatGPT trong việc học tập, nghiên cứu của sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Giáo dục, 24(1), 36–41. https://tcgd.tapchigiaoduc.edu.vn/index.php/tapchi/article/view/1212

 

Hornberger, M., Bewersdorff, A., & Nerdel, C. (2023). What do university students know about artificial intelligence? Development and validation of an AI literacy test. Computers and Education: Artificial Intelligence, 5, Article 100165. https://doi.org/10.1016/j.caeai.2023.100165

 

Miao, F., & Holmes, W. (2023). Guidance for generative AI in education and research. UNESCO. https://doi.org/10.54675/EWZM9535

 

Nguyễn Minh Sang, Nguyễn Minh Tuấn, & Thái Hoài Minh. (2025). Sự chấp nhận sử dụng ChatGPT trong học tập: Trường hợp sinh viên Khoa Hoá học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh – Khoa học Xã hội, 21(1), 78–92. https://doi.org/10.46223/HCMCOUJS.soci.vi.21.1.4387.2026

 

Pavlik, J. V. (2023). Collaborating with ChatGPT: Considering the implications of generative artificial intelligence for journalism and media education. Journalism & Mass Communication Educator, 78(1), 84–93. https://doi.org/10.1177/10776958221149577

 

Veenstra, A. S., Wilder, M., Shimu, F., Schlauder, L., & Dousdebés, F. (2025). Journalism students’ use, expectations, and understanding of generative AI tools. Journalism & Mass Communication Educator, 80(1), 115–128. https://doi.org/10.1177/10776958241296474

1. Đặt vấn đề

Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi hoạt động dạy và học trong giáo dục đại học. Trí tuệ nhân tạo không chỉ hỗ trợ tìm kiếm thông tin mà còn có khả năng tham gia trực tiếp vào nhiều hoạt động học tập như phát triển ý tưởng, tóm tắt tài liệu, dịch thuật, xây dựng văn bản và sản xuất nội dung. Trong tài liệu hướng dẫn về trí tuệ nhân tạo tạo sinh trong giáo dục và nghiên cứu, Miao và Holmes (2023) cho rằng sự phát triển nhanh của GenAI đòi hỏi các cơ sở giáo dục vừa khai thác tiềm năng của công nghệ, vừa bảo đảm cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm, an toàn và có trách nhiệm. Tại Việt Nam, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo được đặt trong định hướng thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia xác định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những nội dung quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới (Bộ Chính trị, 2024). Trong bối cảnh đó, các cơ sở giáo dục đại học đứng trước yêu cầu trang bị cho người học những kiến thức và kỹ năng phù hợp với môi trường học tập, làm việc có sự tham gia ngày càng sâu rộng của công nghệ số và AI.

Vấn đề này đặc biệt đáng chú ý trong đào tạo báo chí - truyền thông bởi nhiều chức năng của AI gắn trực tiếp với các hoạt động nghề nghiệp như tìm kiếm và xử lý thông tin, phát triển ý tưởng, viết, biên tập và sản xuất nội dung. Trong nghiên cứu về những tác động của trí tuệ nhân tạo tạo sinh đối với báo chí và đào tạo truyền thông, đã thảo luận những cơ hội và thách thức mà AI tạo sinh đặt ra đối với hoạt động báo chí và đào tạo truyền thông (Pavlik, 2023, tr.92). Đồng thời, đây là lĩnh vực đặc biệt coi trọng tính chính xác, kiểm chứng thông tin và trách nhiệm nghề nghiệp. Sử dụng AI thường xuyên vì vậy chưa chắc đồng nghĩa với việc người học tin tưởng hoặc làm chủ công nghệ này.

Ở Việt Nam, đã có một số khảo sát về việc sinh viên sử dụng ChatGPT trong học tập. Trong nghiên cứu về việc sử dụng ChatGPT của sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, đã khảo sát 584 sinh viên thuộc sáu trường đại học thành viên (Đặng Văn Em et el, 2024). Kết quả cho thấy ChatGPT được sử dụng khá phổ biến, chủ yếu nhằm tra cứu thông tin và tài liệu. Trong các nội dung được khảo sát, niềm tin của sinh viên vào tính chính xác và độ tin cậy của thông tin do ChatGPT cung cấp có điểm đánh giá thấp nhất. Trong nghiên cứu khác về sự chấp nhận sử dụng ChatGPT trong học tập của sinh viên Khoa Hóa học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, đã vận dụng mô hình chấp nhận công nghệ để phân tích dữ liệu khảo sát từ 235 sinh viên (Nguyễn Minh Sang et el 2025). Kết quả cho thấy sự đổi mới cá nhân có tác động tích cực đến nhận thức về tính hữu ích, tính dễ sử dụng và thái độ sử dụng ChatGPT, trong khi sự lo lắng về công nghệ có tác động tiêu cực đến ý định sử dụng và nhận thức về tính dễ sử dụng.

Các nghiên cứu trên cho thấy AI đã được sinh viên Việt Nam sử dụng rất phổ biến trong nhiều ngành hoặc cơ sở đào tạo cụ thể. Tuy nhiên, theo khảo sát tài liệu của tác giả, các nghiên cứu này chưa tập trung vào sinh viên báo chí - truyền thông, lĩnh vực đặc biệt coi trọng tính chính xác và kiểm chứng thông tin, và chưa gắn kết quả khảo sát với yêu cầu đào tạo đặc thù của lĩnh vực này. Bài viết này nhằm trả lời ba câu hỏi: (1) Sinh viên báo chí - truyền thông sử dụng AI với tần suất và mục đích nào? (2) Sinh viên nhận thức thế nào về tính hữu ích và tính dễ sử dụng của AI? (3) Thái độ và ý định sử dụng AI của sinh viên có tương ứng với mức độ sử dụng hay không, và điều này đặt ra yêu cầu gì đối với đào tạo?

2. Phương pháp nghiên cứu

2.1. Mô hình Chấp nhận công nghệ và việc tiếp nhận AI tạo sinh

Nghiên cứu sử dụng Mô hình Chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model - TAM) của Davis (1989) làm khung tham chiếu để phân tích mức độ chấp nhận và sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong học tập của sinh viên báo chí - truyền thông. TAM là một trong những mô hình lý thuyết được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu về sự chấp nhận công nghệ, tập trung giải thích các yếu tố nhận thức ảnh hưởng đến thái độ, ý định và hành vi sử dụng công nghệ của cá nhân. Davis xác định hai yếu tố quan trọng là nhận thức về tính hữu ích (Perceived Usefulness - PU), được định nghĩa là “mức độ một người tin rằng việc sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ nâng cao hiệu quả thực hiện công việc của mình”, và nhận thức về tính dễ sử dụng (Perceived Ease of Use - PEOU), được định nghĩa là “mức độ một người tin rằng việc sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ không đòi hỏi nỗ lực” (Davis 1989, tr. 320).

Trí tuệ nhân tạo tạo sinh là các hệ thống AI có khả năng tạo ra nội dung như văn bản, hình ảnh và những dạng nội dung khác dựa trên dữ liệu và yêu cầu đầu vào của người sử dụng (Miao & Holmes, 2023, tr. 8). Việc sử dụng GenAI trong giáo dục đặt ra những yêu cầu liên quan đến độ tin cậy của nội dung do hệ thống tạo ra, tính chính xác của thông tin và trách nhiệm của người sử dụng. Vì vậy, trong bài viết này, “chấp nhận AI” được xem xét trên năm phương diện: hành vi sử dụng, nhận thức về tính hữu ích (PU), nhận thức về tính dễ sử dụng (PEOU), thái độ và ý định sử dụng.

2.2. Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng, thu thập dữ liệu bằng bảng hỏi trực tuyến thông qua Google Forms từ tháng 4-6/2026. Đối tượng khảo sát là sinh viên đang theo học các ngành thuộc lĩnh vực báo chí - truyền thông tại năm cơ sở giáo dục đại học ở ba miền: Học viện Báo chí và Tuyên truyền; Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội; Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên; Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế. Các cơ sở được chọn theo tiêu chí quy mô đào tạo, vị trí địa lý đại diện cho các vùng miền và mức độ triển khai đào tạo báo chí - truyền thông.

Bảng hỏi tập trung vào các nhóm nội dung gồm đặc điểm và mục đích sử dụng AI, nhận thức về tính hữu ích (PU), nhận thức về tính dễ sử dụng (PEOU), thái độ và ý định sử dụng. Các biến về nhận thức và thái độ được đo bằng thang Likert 5 mức. Tổng số 1.484 phiếu được thu về, trong đó 1.460 phiếu hợp lệ được đưa vào phân tích, đạt tỷ lệ 98,38%. Xét theo nhóm ngành, sinh viên Báo chí chiếm 43,01%; Quan hệ công chúng, Quảng cáo và Truyền thông marketing chiếm 22,19%; Truyền thông đa phương tiện và Truyền thông đại chúng chiếm 21,16%; các ngành liên quan khác chiếm 13,63%.

3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

3.1. Kết quả nghiên cứu

3.1.1. Mức độ và mục đích sử dụng AI trong học tập

Kết quả cho thấy AI đã được sử dụng phổ biến. Trong 1.460 sinh viên, 401 sinh viên (27,47%) sử dụng AI hằng ngày và 853 sinh viên (58,42%) sử dụng vài lần mỗi tuần, tức 85,89% sử dụng ít nhất vài lần mỗi tuần. Có 177 sinh viên (12,12%) thỉnh thoảng sử dụng, 23 sinh viên (1,58%) hiếm khi sử dụng và 6 sinh viên (0,41%) chưa từng sử dụng.

Về mục đích sử dụng, AI được tích hợp vào nhiều công đoạn của quá trình học tập. Hoạt động phổ biến nhất là hình thành ý tưởng và tìm kiếm đề tài, được 81,51% sinh viên lựa chọn; tiếp theo là tổng hợp, tóm tắt tài liệu tham khảo với 75% và viết nháp, xây dựng dàn ý hoặc chỉnh sửa câu chữ với 64,59%. Ngoài ra, 51,44% sinh viên sử dụng AI để dịch thuật tài liệu ngoại ngữ, 43,29% sử dụng để phân tích và xử lý dữ liệu, trong khi 20,48% sử dụng cho thiết kế đồ họa, hình ảnh, video và âm thanh.

Bảng 1. Mục đích sử dụng AI trong học tập của sinh viên (N = 1.460)

0==

Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả. Người trả lời có thể lựa chọn nhiều phương án

nên tổng tỷ lệ lớn hơn 100%.

Kết quả cho thấy AI không còn đơn thuần là công nghệ được sinh viên thử nghiệm mà đã trở thành một công cụ được sử dụng thường xuyên trong hoạt động học tập. Đáng chú ý, AI được khai thác nhiều nhất ở các hoạt động hình thành ý tưởng, tổng hợp tài liệu và xây dựng nội dung. Đây không chỉ là những thao tác kỹ thuật mà còn liên quan trực tiếp đến quá trình hình thành tư duy và năng lực nghề nghiệp. Vì vậy, vấn đề đối với đào tạo không còn đơn thuần là sinh viên có sử dụng AI hay không, mà cần quan tâm AI đang tham gia vào những công đoạn nào của quá trình học tập và người học còn trực tiếp thực hiện những thao tác nhận thức nào.

3.1.2. Nhận thứ về tính hữu ích và tính dễ sử dụng của AI

 

Kết quả khảo sát cho thấy các chỉ báo về nhận thức tính hữu ích của AI dao động từ 3,5 đến 4,1 trên thang điểm 5, phản ánh đánh giá tương đối tích cực của sinh viên đối với giá trị của AI trong học tập. Hai chỉ báo đạt điểm cao nhất là “AI giúp tiết kiệm thời gian làm bài” và “AI giúp tổng hợp tài liệu dài”, cùng đạt 4,1 điểm; tiếp theo là khả năng hỗ trợ tìm kiếm ý tưởng với 4,0 điểm. Các chỉ báo về mở rộng góc nhìn sáng tạo, tối ưu hiệu quả học tập và hỗ trợ dịch thuật cùng đạt 3,9 điểm.

Trong khi đó, những nội dung gắn trực tiếp hơn với phát triển kỹ năng chuyên môn có mức đánh giá thấp hơn. Khả năng cải thiện chất lượng bài tập và phát hiện chủ đề đạt 3,8 điểm, nhanh chóng nắm bắt thông tin đạt 3,7 điểm, còn khả năng cải thiện kỹ năng viết báo chỉ đạt 3,5 điểm, thấp nhất trong nhóm nhận thức về tính hữu ích.

Bảng 2. Đánh giá của sinh viên về tính hữu ích và tính dễ sử dụng của AI (N = 1.460)

0=====
Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả. Thang Likert 5 mức.

Sự khác biệt giữa các chỉ báo cho thấy sinh viên đánh giá AI cao hơn ở giá trị công cụ và khả năng nâng cao hiệu suất thực hiện nhiệm vụ so với khả năng trực tiếp phát triển kỹ năng nghề nghiệp. Đây là điểm cần lưu ý trong đào tạo báo chí - truyền thông bởi một công cụ giúp sinh viên hoàn thành nhiệm vụ nhanh hơn không nhất thiết đồng nghĩa với việc công cụ đó giúp người học phát triển năng lực nghề nghiệp tốt hơn. Hiệu suất thực hiện nhiệm vụ và phát triển năng lực vì vậy cần được xem xét như hai phương diện khác nhau. Việc đánh giá giá trị của AI trong đào tạo không nên chỉ dựa trên tốc độ hay sự thuận tiện mà còn phải xem xét khả năng hỗ trợ người học phát triển tư duy, kỹ năng chuyên môn và phán đoán nghề nghiệp.

3.1.3. Sự khác biệt giữa nhận thức về tính dễ sử dụng AI và khả năng kiểm soát nội dung do AI tạo ra của sinh viên báo chí - truyền thông

Bên cạnh nhận thức tích cực về tính hữu ích, sinh viên cũng đánh giá tương đối cao tính dễ sử dụng của AI. Các chỉ báo nhận thức về tính dễ sử dụng dao động từ 3,4 đến 4,0 điểm. Các tiêu chí về thao tác sử dụng đơn giản, khả năng truy cập thuận tiện và dễ thao tác trên điện thoại đều đạt 4,0 điểm; giao diện thân thiện và tốc độ phản hồi đạt 3,9 điểm. Kết quả cho thấy rào cản kỹ thuật trong việc tiếp cận các công cụ AI đối với phần lớn sinh viên tương đối thấp.

Tuy nhiên, khả năng “dễ kiểm soát nội dung do AI tạo ra” chỉ đạt 3,4 điểm, thấp hơn so với các chỉ báo về khả năng truy cập và thao tác. Kết quả này cho thấy sinh viên có sự khác biệt trong nhận thức về các khía cạnh của tính dễ sử dụng AI. Trong khi việc tiếp cận và thực hiện các thao tác với công cụ được đánh giá tương đối thuận tiện, khả năng kiểm soát nội dung do AI tạo ra lại được đánh giá ở mức thấp hơn. Đây là một vấn đề đáng chú ý đối với đào tạo báo chí - truyền thông, đặc biệt trong những hoạt động học tập liên quan đến tìm kiếm, xử lý và sản xuất nội dung tác phẩm báo chí - truyền thông.

Phát hiện này có sự tương đồng với kết quả khi nghiên cứu về thực trạng sử dụng, kỳ vọng và mức độ hiểu biết của sinh viên báo chí về các công cụ trí tuệ nhân tạo tạo sinh (Veenstra et al.,2025, tr. 115).

Nghiên cứu cho thấy sinh viên báo chí thấy vai trò của các mô hình ngôn ngữ lớn đối với nghề nghiệp tương lai nhưng vẫn tồn tại hạn chế trong hiểu biết về cách các hệ thống này tạo nội dung. Trong nghiên cứu “What Do University Students Know About Artificial Intelligence? Development and Validation of an AI Literacy Test” (“Sinh viên đại học hiểu biết gì về trí tuệ nhân tạo? Xây dựng và kiểm định công cụ đánh giá năng lực hiểu biết về AI), đã xây dựng và kiểm định một công cụ đánh giá năng lực hiểu biết về AI của sinh viên đại học (Hornberger et al, 2023). Vì vậy, năng lực hiểu biết về AI trong đào tạo báo chí - truyền thông không nên được thu hẹp thành khả năng sử dụng công cụ hoặc kỹ năng viết câu lệnh mà còn cần bao gồm khả năng đánh giá, kiểm chứng và quyết định mức độ sử dụng đầu ra do AI tạo ra.

3.1.4. Thái độ và ý định sử dụng AI của sinh viên

Một kết quả đáng chú ý của nghiên cứu là sự không đồng đều giữa tần suất sử dụng và một số chỉ báo về thái độ, niềm tin và ý định sử dụng AI. Trong khi 85,89% sinh viên sử dụng AI ít nhất vài lần mỗi tuần và nhiều chỉ báo nhận thức về tính hữu ích, nhận thức về tính dễ sử dụng đạt từ 3,8 đến 4,1 điểm, các chỉ báo liên quan đến niềm tin và ý định gia tăng sử dụng có mức điểm thấp hơn.

Bảng 3. Thái độ và ý định sử dụng AI của sinh viên (N = 1.460)

0=============
Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả. Thang Likert 5 mức.

Kết quả cho thấy sinh viên có thái độ tương đối tích cực đối với việc đưa AI vào môi trường học tập, thể hiện ở mức ủng hộ ứng dụng AI và mong muốn được nhà trường đào tạo kỹ năng AI, cùng đạt 3,8 điểm. Tuy nhiên, mức độ coi AI là công cụ thiết yếu chỉ đạt 3,5 điểm, trong khi niềm tin vào lợi ích của AI và ý định sử dụng thường xuyên hơn cùng đạt 3,4 điểm.

Khi đặt kết quả này bên cạnh tỷ lệ 85,89% sinh viên đã sử dụng AI ít nhất vài lần mỗi tuần, có thể nhận diện một mẫu hình đáng chú ý: AI được sử dụng rộng rãi và được nhìn nhận là hữu ích, nhưng mức độ tin tưởng và ý định gia tăng sử dụng thận trọng hơn. Kết quả này không chứng minh quan hệ nhân quả giữa các biến, nhưng cho thấy hành vi sử dụng và thái độ đối với AI không hoàn toàn đồng nhất.

Đặc điểm này có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu GenAI bởi người dùng không chỉ phải quyết định có sử dụng công nghệ hay không mà còn phải quyết định có thể tin tưởng đầu ra của hệ thống đến mức nào. Trong lĩnh vực báo chí - truyền thông, sự phân biệt này càng quan trọng bởi tính tiện lợi không thể thay thế độ chính xác, tốc độ không thể thay thế quá trình xác minh và khả năng tạo văn bản không thể thay thế hoàn toàn phán đoán nghề nghiệp.

3.1.5. Sự khác biệt giữa hành vi sử dụng, nhận thức và thái độ đối với AI của sinh viên báo chí - truyền thông

Tổng hợp các kết quả trên, quá trình tiếp nhận AI của sinh viên báo chí - truyền thông có nhiều chiều cạnh: hành vi sử dụng phổ biến, nhận thức về tính hữu ích và tính dễ sử dụng ở mức cao ở các chỉ báo hiệu suất và thao tác, trong khi các chỉ báo về kiểm soát nội dung, phát triển kỹ năng viết báo, niềm tin và ý định gia tăng sử dụng thấp hơn. Sự khác biệt này cho thấy tần suất sử dụng AI cao không đồng nghĩa với việc tất cả các khía cạnh nhận thức và thái độ đối với AI đều được đánh giá ở mức tương đương. Vì vậy, quá trình chấp nhận và sử dụng AI của sinh viên báo chí - truyền thông cần được xem xét trên nhiều phương diện, thay vì chỉ dựa vào tần suất sử dụng hoặc mức độ thuận tiện khi tiếp cận công nghệ.

3.2. Thảo luận

Từ kết quả nghiên cứu, việc tích hợp AI vào đào tạo báo chí - truyền thông cần chú trọng phát triển năng lực sử dụng AI gắn với khả năng đánh giá thông tin và trách nhiệm của người học. Trước hết, năng lực hiểu biết về AI cần được xem là một thành tố của năng lực số và năng lực nghề nghiệp của sinh viên. Nội dung đào tạo không nên chỉ tập trung vào kỹ năng sử dụng công cụ hay xây dựng câu lệnh mà cần bao gồm khả năng lựa chọn công cụ phù hợp, đánh giá đầu ra, kiểm chứng thông tin, nhận diện giới hạn của AI và chịu trách nhiệm đối với sản phẩm được tạo ra với sự hỗ trợ của AI.

Thứ hai, cần phân biệt giữa việc sử dụng AI để hỗ trợ thực hiện nhiệm vụ học tập và việc để AI thực hiện thay những hoạt động mà sinh viên cần trực tiếp rèn luyện. Chẳng hạn, trong bài tập viết tin báo chí, sinh viên có thể sử dụng AI để gợi ý cách tổ chức thông tin, nhưng vẫn phải tự xác minh dữ kiện, lựa chọn chi tiết và biên tập bản tin. Điều này đặc biệt quan trọng khi kết quả khảo sát cho thấy sinh viên đang sử dụng AI nhiều nhất cho hình thành ý tưởng, tổng hợp tài liệu và xây dựng nội dung phục vụ các môn học. Nếu AI thực hiện thay phần lớn các thao tác này mà người học không tham gia vào quá trình đánh giá và xử lý thông tin, hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ có thể tăng nhưng cơ hội rèn luyện những năng lực nhận thức và nghề nghiệp tương ứng có thể bị thu hẹp. Ví dụ, nếu sinh viên sử dụng toàn bộ bản tin do AI tạo ra mà không tự kiểm tra nguồn và đối chiếu thông tin, giảng viên sẽ khó đánh giá được năng lực thu thập, xác minh và xử lý thông tin của sinh viên qua sản phẩm đó.

Thứ ba, phương thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong các học phần báo chí - truyền thông cũng cần chú trọng hơn đến quá trình tạo lập sản phẩm thay vì chỉ tập trung vào sản phẩm cuối cùng như bài viết, video hoặc kế hoạch truyền thông. Trong các bài tập có sử dụng AI,  giảng viên có thể yêu cầu sinh viên nộp kèm danh mục nguồn tham khảo, bản nháp, các nội dung đã chỉnh sửa và bản thuyết minh về cách thức sử dụng AI. Chẳng hạn, đối với bài tập xây dựng kế hoạch truyền thông, sinh viên có thể trình bày những đề xuất do AI hỗ trợ hình thành, những nội dung đã điều chỉnh và căn cứ lựa chọn phương án cuối cùng. Đây là định hướng đánh giá được đề xuất nhằm kết hợp việc sử dụng AI với yêu cầu thể hiện tư duy độc lập, khả năng đánh giá thông tin và trách nhiệm cá nhân trong quá trình học tập.

Cuối cùng, các cơ sở đào tạo cần xây dựng hướng dẫn sử dụng AI phù hợp với mục tiêu và yêu cầu của từng bài tập. Thay vì chỉ quy định theo hướng “được sử dụng” hoặc “không được sử dụng”, giảng viên có thể xác định rõ những công đoạn sinh viên được phép sử dụng AI, những công đoạn phải tự thực hiện và cách thức khai báo việc sử dụng công cụ. Chẳng hạn, đối với bài tập phỏng vấn báo chí, AI có thể được sử dụng để gợi ý câu hỏi, nhưng sinh viên phải trực tiếp thực hiện phỏng vấn, kiểm tra nội dung trích dẫn và chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin trong bài viết. Đây là định hướng đánh giá được đề xuất nhằm kết hợp việc sử dụng AI với yêu cầu thể hiện tư duy độc lập, khả năng đánh giá thông tin và trách nhiệm cá nhân trong quá trình học tập.

4. Kết luận

Kết quả khảo sát 1.460 sinh viên cho thấy AI được sử dụng thường xuyên trong học tập của sinh viên báo chí - truyền thông ở Việt Nam, với 85,89% người tham gia sử dụng ít nhất vài lần mỗi tuần. Các mục đích phổ biến nhất là hình thành ý tưởng, tổng hợp tài liệu và hỗ trợ viết nháp, xây dựng dàn ý hoặc chỉnh sửa câu chữ.

Tuy nhiên, mức độ sử dụng AI không đồng đều với các chiều cạnh nhận thức và thái độ. Sinh viên đánh giá cao khả năng tiết kiệm thời gian, tổng hợp tài liệu và sự thuận tiện của AI, trong khi các chỉ báo về phát triển kỹ năng viết báo, kiểm soát nội dung, niềm tin và ý định gia tăng sử dụng có mức đánh giá thấp hơn. Kết quả này cho thấy việc đào tạo báo chí - truyền thông cần chú trọng không chỉ kỹ năng sử dụng công cụ mà còn khả năng đánh giá, kiểm chứng thông tin và trách nhiệm của sinh viên đối với sản phẩm có sự hỗ trợ của AI./.

*

Bài báo là kết quả nghiên cứu thuộc đề tài khoa học cấp cơ sở năm 2026: "Tác động của AI đến đào tạo báo chí - truyền thông ở Việt Nam hiện nay", do Học viện Báo chí và Tuyên truyền chủ trì và PGS, TS. Nguyễn Thị Trường Giang làm Chủ nhiệm.

 

Trích dẫn bài báo

Đoàn Thị Quỳnh Nga. Chấp nhận và sử dụng trí tuệ nhân tạo trong học tập của sinh viên báo chí - truyền thông ở Việt Nam. Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông 2026, 32(10):—. DOI:https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/chap-nhan-va-su-dung-tri-tue-nhan-tao-trong-hoc-tap-cua-sinh-vien-bao-chi-truyen-thong-o-viet-nam-p31958.html
Đoàn Thị Quỳnh Nga. Chấp nhận và sử dụng trí tuệ nhân tạo trong học tập của sinh viên báo chí - truyền thông ở Việt Nam. Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, 2026, 32, —, https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/chap-nhan-va-su-dung-tri-tue-nhan-tao-trong-hoc-tap-cua-sinh-vien-bao-chi-truyen-thong-o-viet-nam-p31958.html.
Đoàn Thị Quỳnh Nga (2026). Chấp nhận và sử dụng trí tuệ nhân tạo trong học tập của sinh viên báo chí - truyền thông ở Việt Nam. Tập 32, Số 10 (2026), 32(10), —. https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/chap-nhan-va-su-dung-tri-tue-nhan-tao-trong-hoc-tap-cua-sinh-vien-bao-chi-truyen-thong-o-viet-nam-p31958.html
Đoàn Thị Quỳnh Nga. Chấp nhận và sử dụng trí tuệ nhân tạo trong học tập của sinh viên báo chí - truyền thông ở Việt Nam. Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, 2026, v. 32, n. 10, p. —. Disponível em: https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/chap-nhan-va-su-dung-tri-tue-nhan-tao-trong-hoc-tap-cua-sinh-vien-bao-chi-truyen-thong-o-viet-nam-p31958.html.
Đoàn Thị Quỳnh Nga. "Chấp nhận và sử dụng trí tuệ nhân tạo trong học tập của sinh viên báo chí - truyền thông ở Việt Nam." Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông 32, no. 10 (2026): —. https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/chap-nhan-va-su-dung-tri-tue-nhan-tao-trong-hoc-tap-cua-sinh-vien-bao-chi-truyen-thong-o-viet-nam-p31958.html.
Đoàn Thị Quỳnh Nga (2026) 'Chấp nhận và sử dụng trí tuệ nhân tạo trong học tập của sinh viên báo chí - truyền thông ở Việt Nam'. Tập 32, Số 10 (2026), 32(10), —. Available at: https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/chap-nhan-va-su-dung-tri-tue-nhan-tao-trong-hoc-tap-cua-sinh-vien-bao-chi-truyen-thong-o-viet-nam-p31958.html.
Đoàn Thị Quỳnh Nga, "Chấp nhận và sử dụng trí tuệ nhân tạo trong học tập của sinh viên báo chí - truyền thông ở Việt Nam," Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, vol. 32, no. 10, pp. —, 2026. [Online]. Available: https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/chap-nhan-va-su-dung-tri-tue-nhan-tao-trong-hoc-tap-cua-sinh-vien-bao-chi-truyen-thong-o-viet-nam-p31958.html
Đoàn Thị Quỳnh Nga. "Chấp nhận và sử dụng trí tuệ nhân tạo trong học tập của sinh viên báo chí - truyền thông ở Việt Nam." Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, vol. 32, no. 10, 2026, pp. —.
Đoàn Thị Quỳnh Nga. "Chấp nhận và sử dụng trí tuệ nhân tạo trong học tập của sinh viên báo chí - truyền thông ở Việt Nam." Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông 32, no. 10 (2026): —. https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/chap-nhan-va-su-dung-tri-tue-nhan-tao-trong-hoc-tap-cua-sinh-vien-bao-chi-truyen-thong-o-viet-nam-p31958.html.
Đoàn Thị Quỳnh Nga. Chấp nhận và sử dụng trí tuệ nhân tạo trong học tập của sinh viên báo chí - truyền thông ở Việt Nam. Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông. 2026;32(10):—. Available from: https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/chap-nhan-va-su-dung-tri-tue-nhan-tao-trong-hoc-tap-cua-sinh-vien-bao-chi-truyen-thong-o-viet-nam-p31958.html
Thống kê truy cập
Online: 85
Hôm nay: 3.542
Hôm qua: 4.739
Tổng: 9.280.858
Liên kết hữu ích