Chất lượng thông tin về Nghị quyết số 18 - NQ/TW năm 2017 trên Bản tin Thời sự VTV1, Đài Truyền hình Việt Nam
1. Thực trạng thông tin về Nghị quyết số 18-NQ/TW năm 2017 trên bản tin thời sự VTV1, Đài Truyền hình Việt Nam
Thông tin về Nghị quyết số 18 - NQ/TW năm 2017 trên truyền hình là những thông tin bằng hình ảnh và âm thanh về hoạt động đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị được chuyển tải qua hệ thống kỹ thuật truyền hình đến người xem.
Đài Truyền hình Việt Nam thực hiện nhiệm vụ thông tin về Nghị quyết số 18 - NQ/TW như sau: Vào ngày 25 tháng 10 năm 2017, tại Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII đã ra quyết định ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về “Một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”.
Hoàn cảnh ra đời của nghị quyết này bắt nguồn từ thực tiễn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở Việt Nam thời kỳ trước đó còn tồn tại nhiều bất cập: bộ máy nhiều tầng, nhiều đầu mối, chức năng nhiệm vụ chưa rõ ràng, còn chồng chéo; hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, đổi mới kinh tế - xã hội nhanh chóng và yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc “tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động” trở thành nhiệm vụ cấp bách. Nghị quyết số 18-NQ/TW được xác định là bước đi chiến lược, nhằm củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; đồng thời đặt trọng tâm vào việc rà soát, sắp xếp lại tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức.
Việc ban hành nghị quyết này thể hiện quyết tâm chính trị cao của Trung ương Đảng trong công cuộc đổi mới, đồng thời tạo cơ sở pháp lý, chính trị và tổ chức để triển khai đồng bộ trên cả nước. Trong đó, truyền thông và báo chí đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai, tạo đồng thuận và nâng cao nhận thức của nhân dân về chủ trương.
Thứ nhất, về số lượng, tần suất phát sóng
Nhằm đánh giá thực trạng thông tin về Nghị quyết số 18-NQ/TW năm 2017 trên bản tin thời sự VTV1, Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay, tác giả đã tiến hành khảo sát từ từ 01/2024-06/2025 trên bản tin thời sự 12h,19h và 22h của Đài Truyền hình Việt Nam. Đây là thời điểm gần nhất với thời điểm nghiên cứu, cho phép tác giả thu thập dữ liệu chính xác và phản ánh bối cảnh thực tiễn. Việc lựa chọn thu thập và nghiên cứu tại giai đoạn này giúp đảm bảo số liệu cập nhật tình hình thông tin về Nghị quyết số 18-NQ/TW năm 2017 trên bản tin thời sự VTV1, tạo tiền đề vững chắc để phân tích vai trò của truyền hình trong việc thông tin về Nghị quyết 18. Trong thời gian khảo sát từ ngày 1/1/2024 đến 30/6/2025, với 547 ngày, ba khung giờ bản tin thời sự VTV1 gồm 12h, 19h và 22h với tổng cộng 1.641 bản tin.
Bảng: Thống kê thời lượng, giờ phát sóng, số lượng bản tin phát sóng
Nguồn: Tác giả tự khảo sát
Kết quả khảo sát cho thấy, bản tin Thời sự 19h là khung giờ xuất hiện nhiều tin tức về Nghị quyết số 18-NQ/TW nhất, chiếm khoảng 45-50% tổng số tin trong ngày, thể hiện rõ vai trò định hướng chính trị - xã hội. Bản tin 12h chủ yếu cập nhật hoạt động triển khai, chỉ đạo tại các địa phương (30-35%), còn bản tin 22h tập trung tổng hợp, phân tích và phản ánh thực tiễn cơ sở (15-20%).
Sự phân bổ này cho thấy VTV1 đã điều tiết nội dung phù hợp với thói quen tiếp nhận thông tin của công chúng, phát huy hiệu quả tuyên truyền các chủ trương của Đảng. Đặc biệt, từ tháng 11/2024 - khi Ban Chỉ đạo tổng kết Nghị quyết số 18 NQ/TW được thành lập - tần suất tin, bài tăng rõ rệt, thể hiện sự gắn kết giữa tiến trình chính sách và hoạt động truyền thông. Các bản tin dần xây dựng tuyến nội dung nhất quán, phản ánh đầy đủ quá trình triển khai nghị quyết từ thí điểm, mở rộng đến tổng kết, qua đó tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực trong xã hội.
Thứ hai, về hình thức thể hiện thông tin: Thông tin triển khai Nghị quyết thường được truyền tải dưới dạng:
Phóng sự ngắn kết hợp tư liệu hình ảnh thực tế, bình luận của phóng viên, lời dẫn khách quan; Phỏng vấn sâu với lãnh đạo địa phương hoặc đại diện Ban Tổ chức Trung ương; Tin chính sách ngắn xen kẽ trong phần tin thời sự quốc nội; Trích phát biểu chỉ đạo từ lãnh đạo Đảng - Nhà nước được tách riêng thành các đoạn thông tin quan trọng
Hiện nay, thông tin về Nghị quyết trong các bản tin thời sự VTV1, Đài Truyền hình Việt Nam được thể hiện chủ yếu ở các hình thức sau
Thể loại: Kết quả thống kê cho thấy, trong giai đoạn từ 01/01/2024 đến 30/6/2025, các thông tin về Nghị quyết số 18-NQ/TW trên bản tin Thời sự VTV1 được thể hiện chủ yếu qua thể loại tin ngắn, chiếm 46,5% (1.344 tin). Phóng sự đứng thứ hai với 37,4% (1.079 tác phẩm), cho thấy xu hướng tăng cường tính phân tích và minh họa cụ thể cho các vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện Nghị quyết. Ghi nhanh chiếm 13,3% (385 tác phẩm), chủ yếu dùng trong các sự kiện cập nhật; trong khi Focus - thể loại mang tính tổng hợp, bình luận sâu - chỉ chiếm 2,8% (80 tác phẩm). Cơ cấu này phản ánh bản tin vẫn ưu tiên yếu tố thời sự, nhanh, gọn; tuy nhiên, để nâng cao chiều sâu và giá trị định hướng dư luận, cần tăng tỷ lệ các thể loại phân tích, chuyên sâu, phản ánh tác động thực tiễn của Nghị quyết trong đời sống xã hội.
Chất lượng hình ảnh: Các tác phẩm về Nghị quyết số 18-NQ/TW được đầu tư chỉn chu, chuyên nghiệp, thể hiện rõ tính định hướng chính trị và thẩm mỹ. Hình ảnh đạt chuẩn về kỹ thuật, ánh sáng, bố cục, đồng thời được lựa chọn phù hợp với nội dung: tinh giản biên chế, sắp xếp tổ chức bộ máy, đổi mới hoạt động công vụ. Một số phóng sự còn sử dụng flycam, đồ họa 3D, infographics, giúp hình ảnh sinh động, tăng sức hấp dẫn và tính thuyết phục. Nhìn chung, nội dung hình ảnh vừa bảo đảm yếu tố thời sự vừa tạo được cảm xúc tích cực, giúp khán giả dễ tiếp nhận thông tin.
Âm thanh và lời bình: Chất lượng âm thanh rõ, ổn định; lời bình được biên tập cẩn trọng, súc tích, mang phong cách chính luận, góp phần tăng tính lan tỏa của thông điệp. Sự kết hợp giữa tiếng động hiện trường, nhạc nền và lời phỏng vấn giúp khán giả cảm nhận rõ hơi thở thực tiễn trong quá trình triển khai Nghị quyết số 18-NQ/TW.
Người dẫn chương trình: Phần lớn các tin, bài không xuất hiện hình ảnh MC mà sử dụng giọng dẫn thu âm (voice-off). Cách thể hiện này vừa đảm bảo tính trang trọng, vừa giúp nội dung Nghị quyết trở thành trung tâm. Giọng đọc giàu kinh nghiệm, truyền cảm của các biên tập viên cũng góp phần tạo dấu ấn riêng cho bản tin Thời sự VTV1, củng cố niềm tin và sự tin cậy nơi công chúng.
Thứ ba, về nội dung dung tin
Khảo sát trong 18 tháng (từ 01/2024 đến 06/2025), trong tổng số 2.888 tin/bài phát sóng trên các bản tin thời sự 12h, 19h và 22h trên truyền hình VTV1, có thể chia thành bốn nhóm nội dung chính liên quan đến việc tuyên truyền Nghị quyết 18-NQ/TW năm 2017. Cụ thể:
Nhóm 1: Chủ trương, chính sách, quyết tâm của Đảng và Nhà nước - chiếm tỷ lệ cao nhất với 1.080 tin/bài, tương đương 37,4%.
Nhóm 2: Thực trạng triển khai Nghị quyết trong thực tế - có 944 tin/bài, chiếm 32,7%.
Nhóm 3: Phản hồi từ cơ sở và người dân tại địa phương - với 488 tin/bài, tương đương 16,9%.
Nhóm 4: Giải pháp, định hướng để triển khai hiệu quả Nghị quyết - có 376 tin/bài, chiếm 13%.
Biểu đồ cho thấy sự chênh lệch rõ rệt giữa các nhóm nội dung trong các bản tin Thời sự của VTV1. Hai nhóm chủ đạo - “Chủ trương, chính sách, quyết tâm của Đảng và Nhà nước” và “Thực trạng triển khai Nghị quyết” - chiếm hơn 70% tổng số tin, phản ánh đúng đặc trưng chính luận và vai trò định hướng của truyền hình quốc gia trong tuyên truyền chính sách.
Tuy nhiên, nhóm nội dung “Phản hồi từ cơ sở, người dân” và “Giải pháp, định hướng triển khai hiệu quả” lại chỉ chiếm khoảng 30%, cho thấy khoảng trống thông tin cần được khắc phục. Trong bối cảnh Nghị quyết số 18-NQ/TW đang được tổng kết giữa kỳ, việc tăng cường phản ánh tiếng nói từ cơ sở, cũng như các phân tích, giải pháp thực tiễn sẽ giúp bản tin sinh động hơn, nâng cao tính phản biện và sức lan tỏa của truyền thông chính sách.
2. Đánh giá thực trạng chất lượng thông tin về Nghị quyết số 18-NQ/TW
2.1. Những kết quả đạt được
Thứ nhất, thông tin về Nghị quyết số 18-NQ/TW đều được cập nhật phản ánh, tiếp cận đông đảo công chúng.
Trong bản tin thời sự VTV1 ba khung giờ gồm 12h, 19h và 22h với tổng cộng 1.641 bản tin, các tin, phóng sự đều đã phản ánh kịp thời những chủ trương, định hướng lớn của Đảng trong việc sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Nội dung được truyền tải ngắn gọn, dễ hiểu, giúp khán giả nắm bắt được những thay đổi cụ thể trong quá trình triển khai nghị quyết ở Trung ương và địa phương. Qua đó, các bản tin góp phần nâng cao nhận thức xã hội, tạo sự đồng thuận và lan tỏa tinh thần đổi mới trong công tác tổ chức bộ máy theo tinh thần Nghị quyết 18.
Thứ hai, các khía cạnh của Nghị quyết số 18-NQ/TW năm 2017 được phản ánh đa dạng, khách quan.
Từ công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện ở Trung ương đến những chuyển biến cụ thể tại địa phương, các bản tin không chỉ dừng ở việc truyền tải nội dung văn bản nghị quyết mà còn đưa ra góc nhìn thực tiễn, thông qua phỏng vấn lãnh đạo, chuyên gia, cán bộ cơ sở và người dân. Cách tiếp cận này giúp khán giả thấy rõ tác động của nghị quyết trong đời sống hành chính, chính trị và xã hội, đồng thời phản ánh cả thuận lợi lẫn khó khăn trong quá trình triển khai. Nhờ đó, thông tin về Nghị quyết số 18-NQ/TW trên VTV1 thể hiện được tính khách quan, toàn diện và tính xây dựng, góp phần củng cố niềm tin của công chúng vào chủ trương đúng đắn của Đảng.
Thứ ba, góp phần nâng cao nhận thức và định hướng dư luận xã hội.
Định hướng dư luận xã hội là chức năng cốt lõi của báo chí cách mạng. Bản tin Thời sự VTV1 đã phát huy vai trò này thông qua việc lựa chọn nội dung sát thực tiễn, phản ánh rõ những vấn đề đặt ra trong quá trình sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, qua đó góp phần định hướng nhận thức và tạo sự đồng thuận trong công chúng.
Thông tin về Nghị quyết số 18-NQ/TW được thể hiện gắn với các dẫn chứng cụ thể từ địa phương, mô hình tổ chức hiệu quả, giúp khán giả dễ tiếp nhận và hình thành quan điểm đúng đắn. Bên cạnh đó, việc lựa chọn người phát ngôn, chuyên gia, đại diện chính quyền có uy tín cũng tăng tính thuyết phục, củng cố niềm tin của công chúng vào chủ trương, đường lối của Đảng.
2.2. Những hạn chế
Có thể thấy, các tin, bài về Nghị quyết số 18-NQ/TW được thể hiện phong phú, khách quan và bao quát nhiều khía cạnh của Nghị quyết, song, vẫn còn một số hạn chế:
Thứ nhất, cách thể hiện nội dung còn khô khan, hành chính hoá
Việc thể hiện tin, bài về Nghị quyết 18-NQ/TW trên sóng truyền hình vẫn còn mang tính hành chính hóa, thiếu linh hoạt và sáng tạo trong cách truyền tải. Thay vì xây dựng các bản tin sinh động, gần gũi với hình ảnh minh họa cụ thể, nhiều phóng sự vẫn sử dụng giọng điệu cứng nhắc, ngôn ngữ nặng tính tuyên truyền nghị quyết, tạo cảm giác khô khan, nặng nề cho người xem.
Việc lạm dụng trích dẫn nguyên văn văn kiện hoặc phát biểu mà thiếu sự chắt lọc, chuyển hóa sang ngôn ngữ báo chí khiến thông tin thiếu sức sống, khó tiếp cận, đặc biệt với nhóm khán giả trẻ - đối tượng cần được truyền cảm hứng và định hướng nhận thức.
Bên cạnh đó, không ít bản tin còn đặt nặng tính hình thức, chú trọng liệt kê thành phần, nội dung cuộc họp mà thiếu điểm nhấn báo chí. Điều này khiến bản tin trở nên giống báo cáo hành chính, thiếu chiều sâu phản ánh và chưa thể hiện rõ sự vận động của chính sách trong đời sống thực tiễn.
Thứ hai, hình thức thể hiện chưa hấp dẫn
Qua thống kê số liệu, tổng số tin, bài thông tin về Nghị quyết số 18-NQ/TW năm 2017 trong giai đoạn khảo sát là 2888 tin/bài. Trong đó, chỉ có 590 tin/bài sử dụng yếu tố đồ họa minh họa (bao gồm biểu đồ, bản đồ, hình vẽ trực quan, infographic, bảng số liệu trực tiếp trên màn hình). Tỷ lệ này chiếm khoảng 20,40% so với tổng số, cho thấy việc ứng dụng đồ họa trong các tin/bài về Nghị quyết số 18-NQ/TW còn hạn chế.
Bảng: Số lượng, tỷ lệ tin/bài sử dụng đồ họa
Điều này cho thấy việc khai thác đồ họa trong các bản tin còn hạn chế, chưa phát huy hết thế mạnh trực quan của truyền hình. Với nội dung chính trị - pháp lý như Nghị quyết số 18-NQ/TW, thiếu đồ họa khiến thông tin trở nên khô khan, khó tiếp nhận. Sự chênh lệch lớn giữa tin có và không có đồ họa cho thấy xu hướng thiên về cách thể hiện truyền thống, làm giảm sức hấp dẫn và khả năng tạo điểm nhấn thị giác của chương trình.
Thứ ba, tần suất đưa tin chưa đồng đều, thiếu tính hệ thống
Trên thực tế, đặc biệt sau Phiên họp lần thứ ba của Ban Chỉ đạo Trung ương về tổng kết thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW vào ngày 14/4/2024 tại Trụ sở Trung ương Đảng - do Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng ban Chỉ đạo, chủ trì - tần suất và chất lượng thông tin truyền hình liên quan đến Nghị quyết mới được đẩy mạnh trở lại.
Đây là thời điểm đánh dấu bước chuyển rõ nét trong định hướng chỉ đạo truyền thông từ cấp cao nhất của Đảng, thể hiện yêu cầu cấp thiết phải tổng kết, đánh giá và truyền thông sâu rộng về kết quả triển khai Nghị quyết sau gần 7 năm thực hiện. Tuy nhiên, thực tế này cũng phản ánh một tồn tại: trong giai đoạn trước đó, thông tin về Nghị quyết số 18-NQ/TW thường xuất hiện rải rác, thiếu sự kết nối mạch lạc theo tiến trình triển khai nghị quyết trong thực tiễn, dẫn đến hiệu quả tuyên truyền chưa cao và làm gián đoạn quá trình nhận thức chính trị của công chúng.
Thứ tư, thiếu chiều sâu trong phân tích nội dung Nghị quyết
Phần lớn các bản tin vẫn tập trung vào thông tin sự kiện, hội nghị, kết luận phát biểu lãnh đạo mà chưa đi sâu vào bối cảnh, quá trình triển khai hay những ảnh hưởng cụ thể đến bộ máy và người dân. Bên cạnh đó, thiếu vắng các tuyến bài phân tích, đối thoại với chuyên gia, hoặc chia sẻ từ cán bộ thực thi ở cơ sở khiến việc truyền tải thông tin còn mang tính một chiều, thiếu sức nặng thuyết phục.
3. Giải pháp nâng cao chất lượng thông tin về Nghị quyết số 18-NQ/TW năm 2017 trên bản tin thời sự VTV1, Đài Truyền hình Việt Nam
Một là, nâng cao nhận thức cho đội ngũ phóng viên, biên tập viên, nhà báo, đặc biệt là những người làm tin, bài thời sự của Đài Truyền hình Việt Nam
Đây là giải pháp mang tính nền tảng nhằm bảo đảm chất lượng và chiều sâu của các sản phẩm báo chí truyền hình. Thực tế cho thấy, mặc dù thông tin về Nghị quyết là nội dung trọng tâm, song một bộ phận phóng viên, biên tập viên vẫn chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng, ý nghĩa và yêu cầu chính trị của loại hình tin, bài này. Việc thể hiện đôi khi còn đơn điệu, thiếu chiều sâu, chưa khai thác triệt để thế mạnh hình ảnh, âm thanh và cảm xúc đặc trưng của truyền hình.
Do đó, Đài Truyền hình Việt Nam cần tăng cường các chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về kỹ năng làm tin chính luận, tin nghị quyết; kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn, chú trọng hướng dẫn phóng viên cách tìm góc tiếp cận mới, cách thể hiện sinh động mà vẫn giữ vững định hướng chính trị, tính chuẩn xác.
Cùng với đó, cần tổ chức các buổi tọa đàm, chia sẻ kinh nghiệm nghề nghiệp giữa các phóng viên kỳ cựu và lực lượng trẻ; khuyến khích học hỏi, trao đổi, phản biện nội dung để từng bước hình thành đội ngũ làm thời sự có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy hiện đại và kỹ năng tác nghiệp linh hoạt.
Ngoài ra, việc cập nhật thường xuyên các chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước cũng rất quan trọng để đội ngũ làm báo nắm chắc định hướng, từ đó phản ánh kịp thời, chính xác và hấp dẫn hơn các nội dung của Nghị quyết số 18-NQ/TW cũng như các văn kiện quan trọng khác.
Hai là, Đài cần có cơ chế khen thưởng, phê bình minh bạch, công bằng đối với đội ngũ phóng viên, biên tập viên và các bộ phận sản xuất.
Cơ chế này vừa khuyến khích tinh thần cầu tiến, tự trọng nghề nghiệp, vừa tạo động lực để người làm báo không ngừng học hỏi, rèn luyện, góp phần nâng cao chất lượng tin, bài của Đài Truyền hình Việt Nam.
Đồng thời, cần tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá định kỳ chất lượng các sản phẩm báo chí về Nghị quyết số 18-NQ/TW, qua đó kịp thời điều chỉnh nội dung, hình thức thể hiện cho phù hợp với yêu cầu tuyên truyền từng giai đoạn. Việc xây dựng bộ tiêu chí đánh giá cụ thể về tính chính xác, chiều sâu thông tin và hiệu quả tác động xã hội sẽ giúp quy trình sản xuất tin, bài được chuẩn hóa, chuyên nghiệp và khoa học hơn.
Ngoài ra, việc ứng dụng công nghệ truyền thông hiện đại như nền tảng số, đồ họa tương tác, phóng sự đa định dạng cũng cần được chú trọng, nhằm nâng cao khả năng tiếp cận công chúng, đặc biệt là khán giả trẻ. Đài nên xem xét thiết lập các nhóm chuyên trách phụ trách nội dung tuyên truyền nghị quyết, có khả năng xử lý nhanh, chính xác các thông tin chính trị - xã hội, bảo đảm định hướng dư luận kịp thời và hiệu quả.
Ba là, bồi dưỡng năng lực chuyên môn trong khai thác, thể hiện tin thời sự trên truyền hình
Người làm báo cần nắm vững các kỹ năng cơ bản như tìm kiếm, chọn lọc sự kiện, xác định góc tiếp cận, viết lời bình và dựng hình, đặc biệt là với các tin, bài tuyên truyền về Nghị quyết số 18-NQ/TW. Mỗi khâu trong quá trình sản xuất phải được thực hiện nghiêm túc, có sự phối hợp chặt chẽ giữa phóng viên, biên tập viên và bộ phận kỹ thuật để bảo đảm thông tin chính xác, hấp dẫn và có chiều sâu.
Đài Truyền hình Việt Nam cần tiếp tục đổi mới hình thức thể hiện, kết hợp giữa tin ngắn, phóng sự phân tích và chuyên đề chuyên sâu; ứng dụng công nghệ đồ họa, flycam, tương tác số để tăng tính sinh động và trực quan. Đồng thời, nên mở rộng các tuyến bài phản ánh kết quả thực hiện Nghị quyết ở cơ sở, lấy ý kiến từ cán bộ, đảng viên và người dân, giúp thông tin toàn diện và thuyết phục hơn.
Song song đó, cần nâng cao năng lực đội ngũ phóng viên, thông qua các khóa bồi dưỡng kỹ năng phân tích chính sách, xử lý dữ liệu và sản xuất tin bài đa nền tảng. Việc tăng cường phối hợp giữa các cơ sở đào tạo báo chí và cơ quan truyền thông trọng điểm sẽ giúp sinh viên và nhà báo trẻ được tiếp cận thực tiễn nghề nghiệp, từ đó hình thành đội ngũ làm báo có bản lĩnh chính trị, kỹ năng chuyên môn vững vàng và đáp ứng yêu cầu truyền thông trong giai đoạn mới.
Bốn là, xây dựng tiêu chí đánh giá sản phẩm tin thời sự
Việc xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá sản phẩm tin thời sự trên truyền hình là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh báo chí hiện đại. Hệ thống này không chỉ là thước đo kiểm định chất lượng tác phẩm, mà còn là cơ sở để các cơ quan báo chí điều chỉnh quy trình sản xuất, nâng cao hiệu quả tuyên truyền và củng cố uy tín với công chúng.
Đối với bản tin thời sự chính trị trên kênh VTV1, các tiêu chí cần đảm bảo tính chuẩn mực báo chí, đồng thời thể hiện rõ vai trò định hướng chính trị, tư tưởng của Đài Truyền hình quốc gia. Việc áp dụng hệ thống tiêu chí đánh giá không chỉ giúp nâng cao chất lượng nội dung, mà còn bảo đảm hiệu quả chính trị - xã hội của chương trình. Đây cũng là cơ sở quan trọng để phóng viên, biên tập viên có định hướng rõ ràng trong sáng tạo tác phẩm, góp phần khẳng định vai trò nòng cốt của báo chí truyền hình trong việc truyền tải và lan tỏa nghị quyết của Đảng vào đời sống.
Năm là, cần có kế hoạch cụ thể để thông tin, tuyên truyền về Nghị quyết
Để nâng cao hiệu quả tuyên truyền Nghị quyết số 18-NQ/TW, cần xây dựng kế hoạch thông tin bài bản, khoa học và có lộ trình cụ thể.
Mục tiêu của công tác truyền thông không chỉ dừng ở việc phổ biến nội dung văn bản, mà quan trọng hơn là giúp công chúng hiểu đúng, đồng thuận và ủng hộ quá trình thực hiện. Hoạt động truyền thông cần gắn với nhiệm vụ chính trị - xã hội là củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, nhất là trong bối cảnh sắp xếp tổ chức bộ máy và tinh giản biên chế có thể tác động đến nhiều đối tượng.
Về nội dung, cần xây dựng thông tin theo hướng đa tầng, đa giai đoạn: Giai đoạn đầu giới thiệu mục tiêu, ý nghĩa và tầm quan trọng của nghị quyết; giai đoạn tiếp theo phản ánh tác động cụ thể đến các lĩnh vực như quản lý đất đai, cải cách hành chính, tinh gọn bộ máy; giai đoạn phản ánh kết quả, nêu gương điển hình, tạo sức lan tỏa tích cực trong xã hội.
Về hình thức, nên đa dạng hóa loại hình thể hiện, kết hợp giữa tin, phóng sự, tọa đàm, phỏng vấn, ghi nhanh tại cơ sở... nhằm tăng tính phân tích và hấp dẫn, tránh khô cứng, đơn chiều. Đồng thời, tăng cường phối hợp giữa các đơn vị trung ương và địa phương để phản ánh tiếng nói từ thực tiễn, mang lại cái nhìn toàn diện và khách quan.
Một kế hoạch truyền thông có định hướng rõ ràng và lộ trình cụ thể sẽ giúp chủ động định hướng dư luận, ngăn chặn thông tin sai lệch, khẳng định vai trò của báo chí cách mạng trong công tác tư tưởng, tiếp tục củng cố vị thế là cầu nối tin cậy giữa Đảng và nhân dân trong quá trình thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW./.
_______________________________
(1) Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại phiên khai mạc Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII của Đảng 26/01/2021.
(2)https://binhthuan.baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/thong-tin-tuyen-truyen.aspx?CateID=0&ItemID=7581.
Tài liệu tham khảo
1. Hoàng Quốc Bảo (chủ biên) (2010), Lãnh đạo và quản lý hoạt động báo chí ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị - Hành chính, Hà Nội.
2. Khoa Phát thanh - Truyền hình (2017), Tác phẩm báo chí truyền hình (Giáo trình nội bộ), Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
3. Nguyễn Thúy Quỳnh (2017), Cơ sở báo truyền hình (Tài liệu dịch), Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Nguồn: Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông điện tử
Bài liên quan
- Xu hướng nghiên cứu về tài sản thương hiệu bệnh viện tư và ảnh hưởng của các công cụ truyền thông tiếp thị tích hợp
- Hiện tượng “Di cư niềm tin” truyền thông của sinh viên và đề xuất mô hình “Truyền thông xác thực” cho các trường đại học
- Ảnh hưởng của văn hóa Việt Nam đến tính minh bạch trí tuệ nhân tạo trong quan hệ công chúng
- Truyền thông nội bộ và hình ảnh nữ viên chức Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên số
- Ứng dụng trí tuệ nhân tạo AI trong lĩnh vực phát thanh ở khu vực Tây Nam Bộ: Thực trạng và khuyến nghị
Xem nhiều
-
1
Đổi mới tư duy của Nhà nước trong kỷ nguyên số: Từ quản lý sang quản trị, kiến tạo phát triển
-
2
Giá trị biểu tượng của con ngựa trong văn hóa Việt Nam và ý nghĩa đối với sự phát triển văn hóa đất nước trong kỷ nguyên vươn mình
-
3
Đổi mới sáng tạo thu hẹp khoảng cách giáo dục vùng sâu, vùng xa Việt Nam trong kỷ nguyên mới
-
4
Thời cơ và thách thức đối với chính quyền cấp xã sau sáp nhập chính quyền địa phương hai cấp tỉnh Tuyên Quang hiện nay
-
5
Công tác sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay: Thực trạng và giải pháp
-
6
Tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Long trong công tác bình đẳng giới hiện nay
Liên kết
- Báo điện tử đảng cộng sản việt nam
- Báo nhân dân
- Báo Quân đội nhân dân
- Cổng thông tin điện tử Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia hồ chí minh
- Tạp chí Cộng sản
- Tạp chí Giáo dục lý luận
- Tạp chí Giáo dục và Xã hội
- Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
- Tạp chí Lý luận chính trị
- Tạp chí Nghiên cứu con người
- TẠP CHÍ Nghiên cứu dân tộc
- Tạp chí Người làm báo
- Tạp chí Nội chính
- Tạp chí Quản lý Nhà nước
- Tạp chí Tổ chức Nhà nước
- Tạp chí Tuyên giáo
- Tạp chí Xây Dựng Đảng
- Thư viện số Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Trang thông tin điện tử Hội đồng Lý luận Trung ương
Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra của Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy phường Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội
Công tác kiểm tra có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giữ vững kỷ cương, nâng cao năng lực lãnh đạo, phòng ngừa sai phạm, củng cố niềm tin nhân dân. Qua đó góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị ở cơ sở, phù hợp với tình hình thực tiễn và yêu cầu đổi mới công tác xây dựng Đảng hiện nay. Bài viết làm rõ thực trạng chất lượng công tác kiểm tra của Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy phường Hoàn Kiếm, chỉ rõ một số hạn chế, tồn tại; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác này thời gian tới.
Xu hướng nghiên cứu về tài sản thương hiệu bệnh viện tư và ảnh hưởng của các công cụ truyền thông tiếp thị tích hợp
Xu hướng nghiên cứu về tài sản thương hiệu bệnh viện tư và ảnh hưởng của các công cụ truyền thông tiếp thị tích hợp
Xu hướng nghiên cứu về tài sản thương hiệu bệnh viện tư và ảnh hưởng của các công cụ truyền thông tiếp thị tích hợp đến việc nâng cao tài sản thương hiệu bệnh viện dựa trên tổng hợp từ các nghiên cứu trước đây, phản ánh một quá trình phát triển liên tục cùng với sự lớn mạnh của thị trường y tế tư nhân và sự thay đổi trong hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người dân. Từ chỗ chỉ tập trung vào quảng bá đơn lẻ nhằm nâng cao mức độ nhận biết, các công trình nghiên cứu dần mở rộng theo hướng xem truyền thông tiếp thị tích hợp (IMC) như một triết lý quản trị truyền thông lấy người bệnh làm trung tâm, trong đó, từng công cụ đều có vai trò liên kết và bổ trợ cho nhau để tạo nên giá trị thương hiệu bền vững. Nhìn lại chặng đường này cho thấy các nhà nghiên cứu đã ngày càng chú trọng tới mối quan hệ giữa quảng cáo, quan hệ công chúng, truyền thông số, hoạt động cộng đồng và chăm sóc khách hàng trong việc nâng cao sự tin cậy, cảm nhận chất lượng và lòng trung thành của người bệnh đối với các bệnh viện tư. Chính sự chuyển dịch đó tạo nền tảng quan trọng cho việc tiếp tục hoàn thiện lý luận và thực tiễn về quản trị truyền thông thương hiệu trong lĩnh vực y tế hiện nay.
Hiện tượng “Di cư niềm tin” truyền thông của sinh viên và đề xuất mô hình “Truyền thông xác thực” cho các trường đại học
Hiện tượng “Di cư niềm tin” truyền thông của sinh viên và đề xuất mô hình “Truyền thông xác thực” cho các trường đại học
Bài viết phân tích hiện tượng “Di cư niềm tin” truyền thông của sinh viên thông qua sử dụng phương pháp khảo sát định lượng sinh viên với cỡ mẫu N = 572 và phỏng vấn sâu nhà quản trị. Kết quả cho thấy một nghịch lý quản trị đáng chú ý: việc ưu tiên tối ưu hóa các chỉ số tương tác bề nổi như lượt thích, lượt xem hay các kỹ thuật seeding không những không gia tăng niềm tin mà còn tạo ra phản ứng ngược. Thực trạng này thúc đẩy hành vi “di cư số” khi người học chuyển sang các kênh phi chính thức để tìm kiếm và kiểm chứng thông tin. Phân tích nhân tố khám phá (EFA) và kiểm định Cronbach’s Alpha khẳng định tính minh bạch và sự chân thực của nội dung là những yếu tố có tác động đến cấu trúc niềm tin thương hiệu. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất đề xuất áp dụng mô hình “truyền thông xác thực” nhằm khắc phục bẩy “chỉ số hư danh” và tái thiết niềm tin thương hiệu bền vững trong giáo dục đại học.
Ảnh hưởng của văn hóa Việt Nam đến tính minh bạch trí tuệ nhân tạo trong quan hệ công chúng
Ảnh hưởng của văn hóa Việt Nam đến tính minh bạch trí tuệ nhân tạo trong quan hệ công chúng
Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI), đặc biệt là AI sinh tạo, đã tối ưu hóa hiệu suất hoạt động quan hệ công chúng (PR) nhưng đặt ra thách thức về tính minh bạch thuật toán. Nghiên cứu này thực hiện tổng quan lý thuyết có hệ thống nhằm phân tích ảnh hưởng của văn hóa Việt Nam đến tính minh bạch AI trong lĩnh vực PR. Kết quả cho thấy minh bạch AI trong PR tập trung vào ba trụ cột: sự tiết lộ, khả năng giải thích và trách nhiệm giải trình. Các giá trị Nho giáo như khoảng cách quyền lực, thể diện (Mianzi) và sự hòa hợp đóng vai trò "bộ lọc" văn hóa, định hình xu hướng tiết lộ có chọn lọc việc sử dụng AI nhằm bảo vệ uy tín chuyên môn. Nghiên cứu đề xuất năm khuyến nghị cho người thực hành PR: thiết lập chính sách quản trị AI nội bộ, áp dụng mô hình minh bạch phân tầng, định vị AI như "trợ lý kỹ thuật số", thiết lập cơ chế kiểm chứng độc lập và xây dựng văn hóa học tập liên tục về đạo đức số.
Truyền thông nội bộ và hình ảnh nữ viên chức Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên số
Truyền thông nội bộ và hình ảnh nữ viên chức Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên số
Trong kỷ nguyên chuyển đổi số, truyền thông nội bộ đóng vai trò chiến lược trong việc kiến tạo và lan tỏa hình ảnh nữ viên chức tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Trên cơ sở tiếp cận truyền thông như một công cụ quản trị và phát triển tổ chức, bài viết chỉ ra sự cần thiết phải chuyển dịch trọng tâm truyền thông nội bộ từ việc chủ yếu tôn vinh các phẩm chất truyền thống sang chủ động xây dựng, khẳng định năng lực trí tuệ, tính chuyên nghiệp và những đóng góp thực chất của nữ viên chức vào sứ mệnh của Học viện. Từ đó, tác giả đề xuất một hệ thống giải pháp đồng bộ, khẳng định truyền thông nội bộ không chỉ góp phần kiến tạo một môi trường làm việc công bằng, bình đẳng, phát huy tối đa tiềm năng của đội ngũ nữ viên chức, mà còn là một đòn bẩy quan trọng thúc đẩy sự phát triển bền vững và nâng cao uy tín của Học viện trong bối cảnh mới.
llcttt1994dientu@gmail.com
024.38348033
Bình luận