Tạp chí điện tử tiếng Việt

Chiến lược hạ tầng công cộng kỹ thuật số của Ấn Độ: “mô hình thứ ba” trong địa chính trị công nghệ và hàm ý chính sách cho Việt Nam

India’s digital public infrastructure strategy: A “third model” in the geopolitics of technology and policy implications for Vietnam

Nguyễn Thị Thu Nga nntrangthu@gmail.com Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Lê Thị Hiên — Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Ngày nhận bài: 13/07/2026 Ngày phản biện: 25/07/2026 Ngày xuất bản: 02/11/2026
Trong địa chính trị công nghệ, các nước đang phát triển thường được mô tả như đứng trước lựa chọn nhị nguyên giữa mô hình “thị trường - tư nhân dẫn dắt” của Hoa Kỳ và mô hình “nhà nước phát triển kỹ thuật số” của Trung Quốc. Bài viết đề xuất khái niệm “mô hình thứ ba” như một khung phân tích cho trường hợp Ấn Độ, với bốn tiêu chí nhận diện: chủ thể kiến tạo và vận hành hạ tầng, chế độ sở hữu kỹ thuật, cơ chế lan tỏa quốc tế và vị trí của chủ quyền dữ liệu trong kiến trúc. Vận dụng lý thuyết quyền lực cấu trúc (Strange) và quyền lực mềm (Nye), bài viết trả lời ba câu hỏi về năng lực công nghệ nội sinh, ngoại giao số và khả năng chuyển giao mô hình, với trường hợp điển hình là hợp tác công nghệ Việt Nam - Ấn Độ sau tháng 5/2026. Kết quả đối chiếu cho thấy “mô hình thứ ba” được xác lập rõ ở hai tiêu chí kỹ thuật và lan tỏa, song còn tranh cãi ở hai tiêu chí về chủ thể vận hành và chủ quyền dữ liệu. Đối chiếu với khung pháp lý số hiện hành của Việt Nam, bài viết chỉ ra năm hàm ý chính sách cho Việt Nam.
In the geopolitics of technology, developing countries are often portrayed as facing a binary choice between the US “market- and private sector-led” model and China’s “digital developmental state” model. This article proposes the concept of a “third model” as an analytical framework for the case of India, based on four identifying criteria: the actors that develop and operate the infrastructure, the technological ownership regime, the mechanisms of international diffusion, and the position of data sovereignty within the architecture. Drawing on Strange’s theory of structural power and Nye’s concept of soft power, the article addresses three questions concerning indigenous technological capacity, digital diplomacy, and the transferability of the model, focusing on Vietnam–India technology cooperation since May 2026 as a case study. The comparative findings show that the “third model” is clearly established in terms of the technological and diffusion criteria, while the criteria concerning operating actors and data sovereignty remain controversial. Comparing the model with Vietnam’s current digital legal framework, the article identifies five policy implications for Vietnam.

địa chính trị công nghệ, hạ tầng công cộng kỹ thuật số, chủ quyền dữ liệu, hợp tác Nam - Nam, quan hệ Việt Nam - Ấn Độ.

geopolitics of technology, digital public infrastructure, data sovereignty, South–South cooperation, Vietnam–India relations

Bộ Chính trị. (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Bộ Điện tử và Công nghệ Thông tin Ấn Độ. (2022). Digital India programme: Transforming India into a digitally empowered society and knowledge economy. Chính phủ Ấn Độ. https://www.meity.gov.in

Bộ Điện tử và Công nghệ Thông tin Ấn Độ. (2024). IndiaAI mission: Building India’s AI ecosystem. Chính phủ Ấn Độ. https://indiaai.gov.in

Bộ Ngoại giao Ấn Độ. (2024). Indian Technical and Economic Cooperation (ITEC): 60 years of capacity building. https://www.itecgoi.in

Cơ quan Quản lý Định danh Duy nhất Ấn Độ. (2025). Aadhaar dashboard. https://uidai.gov.in

Cơ quan Quản lý Viễn thông Ấn Độ. (2025). The Indian telecom services performance indicators: October – December 2024. https://www.trai.gov.in

CyberPeace Foundation. (2024). India cybersecurity annual threat report 2024. https://www. cyberpeace.org

Farrell, H., & Newman, A. L. (2019). Weaponized interdependence: How global economic networks shape state coercion. International Security, 44(1), 42–79.

G20. (2023). G20 New Delhi leaders’ declaration. Ban Thư ký G20. https://www.g20.org

Hillman, J. (2020). The emperor’s new road: China and the project of the century. Yale University Press.

India’s World. (2026). India, Vietnam, and the architecture of an enhanced partnership. https://indias world.in

Khera, R. (Chủ biên). (2019). The battle for Aadhaar: From UIDAI to Supreme Court. Orient BlackSwan.

Nilekani, N., & Shah, V. (2015). Rebooting India: Realizing a billion aspirations. Allen Lane/Penguin.

Nye, J. S. (2004). Soft power: The means to success in world politics. PublicAffairs.

ORF America. (2025). Digital public infrastructure as a catalyst for private sector innovation: Lessons from the fintech sector in India. https://orfamerica.org

Quan hệ Đối tác Toàn cầu về Trí tuệ Nhân tạo. (2023). Responsible AI for sustainable development: Work programme 2023–24. https://gpai.ai

Quốc hội. (2024). Luật Dữ liệu số 60/2024/QH15, hiệu lực từ ngày 01/7/2025.

Quốc hội. (2025). Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15, hiệu lực từ ngày 01/01/2026.

Rajagopalan, R. (2017). India’s strategic choices: China and the balance of power in Asia. Carnegie Endowment for International Peace.

Strange, S. (1994). States and markets (Tái bản lần thứ 2). Pinter Publishers.

Tổng công ty Thanh toán Quốc gia Ấn Độ. (2025). UPI product statistics. https://www.npci.org.in

1. Đặt vấn đề

Các bước nhảy vọt công nghệ lớn thường đi kèm sự tái phân phối quyền lực giữa các quốc gia. Điểm đáng chú ý hiện nay là nguồn của quyền lực công nghệ đã dịch chuyển: từ năng lực sản xuất vật chất sang khả năng kiểm soát hạ tầng số, tiêu chuẩn kỹ thuật và luồng dữ liệu. Farrell và Newman (2019) luận chứng điều đó qua khái niệm “phụ thuộc bị vũ khí hóa”: các mạng lưới kinh tế - kỹ thuật toàn cầu có cấu trúc bất đối xứng, cho phép quốc gia kiểm soát các nút trung tâm giám sát luồng thông tin hoặc loại trừ đối thủ. Trong cấu trúc ấy, hai mô hình dẫn đầu ngày càng phân cực: Hoa Kỳ mở rộng ảnh hưởng qua các tập đoàn nền tảng tư nhân, Trung Quốc theo đuổi mô hình nhà nước phát triển kỹ thuật số với hạ tầng xuất khẩu trọn gói (Hillman, 2020). Hệ quả là áp lực “chọn phe” - sức ép buộc quốc gia thứ ba phải chọn nhà cung cấp thiết bị, bộ tiêu chuẩn và khuôn khổ quản trị dữ liệu thuộc một trong hai hệ sinh thái vốn ngày càng ít tương hợp; chi phí của việc chọn sai là rủi ro phụ thuộc cấu trúc dài hạn.

Khái niệm trung tâm cần được xác định trước. Hạ tầng công cộng kỹ thuật số (digital public infrastructure - DPI) là tập hợp các hệ thống số mở, có tính tương hợp và khả năng mở rộng quy mô, đóng vai trò tầng trung gian cho phép nhà nước, doanh nghiệp và công dân tiếp cận dịch vụ thiết yếu; ba cấu phần lõi gồm định danh số, thanh toán số và cơ chế trao đổi dữ liệu có sự đồng ý của chủ thể (G20, 2023). Điểm phân biệt DPI với nền tảng thương mại nằm ở chế độ sở hữu và điều kiện tiếp cận, chứ không ở công nghệ.

Bài viết đặt ba câu hỏi. Thứ nhất, Ấn Độ xây dựng năng lực công nghệ nội sinh theo kiến trúc nào, và kiến trúc ấy nhận diện được bằng tiêu chí khách quan nào? Thứ hai, ngoại giao số của Ấn Độ vận hành ra sao, và có bằng chứng nào cho thấy mô hình đã được tiếp nhận? Thứ ba, hợp tác công nghệ Việt Nam - Ấn Độ cho thấy gì về khả năng lẫn giới hạn chuyển giao mô hình, và Việt Nam còn khoảng trống chính sách nào? Cần nói rõ: “mô hình thứ ba” là đề xuất của tác giả, không phải khái niệm kế thừa từ một công trình có trước; vì vậy mục 2 xác định khoảng trống nghiên cứu rồi xây dựng bộ tiêu chí cho phép kiểm chứng khái niệm này.

 2. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng cách tiếp cận định tính, kết hợp phân tích tài liệu (văn kiện chính thức của Chính phủ Ấn Độ và Việt Nam, báo cáo của tổ chức quốc tế, công trình học thuật), so sánh và nghiên cứu điển hình, trong phạm vi thời gian 2015 - 2026. Công cụ so sánh là bộ bốn tiêu chí do tác giả xây dựng tại mục 2, không phải kết quả so sánh có sẵn trong tài liệu nào. Về giới hạn: bài viết dựa trên tài liệu thứ cấp nên kết luận về động cơ chính sách mang tính suy luận từ văn bản; và do trường hợp Việt Nam mới ở giai đoạn đầu triển khai, việc kiểm chứng khả năng chuyển giao chỉ đạt mức đánh giá điều kiện.

3. Kết quả và thảo luận

3.1. Kết quả nghiên cứu

3.1.1. Tổng quan nghiên cứu, khung phân tích và tiêu chí nhận diện

Các nghiên cứu hiện có về DPI của Ấn Độ quy về ba nhóm. Nhóm thứ nhất tiếp cận DPI như chính sách phát triển trong nước, tập trung vào tài chính bao trùm và hiệu quả phân phối phúc lợi (Nilekani & Shah, 2015; ORF America, 2025) phong phú dữ liệu vận hành nhưng ít đặt vấn đề ở chiều quan hệ quốc tế. Nhóm thứ hai gồm các nghiên cứu phê phán về quyền riêng tư và rủi ro loại trừ nhóm yếu thế (Khera, 2019), giới hạn trong khung chính sách công trong nước. Nhóm thứ ba là các nghiên cứu địa chính trị công nghệ (Farrell & Newman, 2019; Hillman, 2020), lấy quan hệ Hoa Kỳ - Trung Quốc làm trục phân tích, còn chủ thể tầm trung chủ yếu xuất hiện ở vị trí nước tiếp nhận. Khoảng trống vì vậy là: chưa có công trình đặt DPI của Ấn Độ vào khung quyền lực cấu trúc để xem xét như một phương án thứ ba, và chưa có bộ tiêu chí thao tác hóa cho phép phân biệt phương án ấy với hai mô hình còn lại một cách kiểm chứng được.

Bài viết vận dụng hai khung bổ trợ. Quyền lực cấu trúc của Strange (1994) phân biệt “quyền lực quan hệ” là khả năng buộc chủ thể khác làm điều họ vốn không muốn với quyền định hình chính các cấu trúc mà mọi chủ thể buộc phải vận hành bên trong. Trong không gian số, cấu trúc ấy hiện thực hóa thành bộ tiêu chuẩn kỹ thuật: ai xác lập chuẩn giao diện, chuẩn định dạng dữ liệu và chuẩn kiến trúc thì chi phối điều kiện tham gia của mọi bên còn lại. Quyền lực mềm của Nye (2004), với ba nguồn lực văn hóa, giá trị chính trị và chính sách đối ngoại, được dùng để lý giải vì sao một hệ thống kỹ thuật lại tạo ra sức hấp dẫn chính trị.

Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra quan điểm về: “mô hình thứ ba” là phương thức phát triển và lan tỏa hạ tầng số trong đó nhà nước giữ vai trò kiến tạo kiến trúc và quy tắc nhưng không độc quyền vận hành tầng dịch vụ, và việc chuyển giao ra bên ngoài không gắn với điều kiện tín dụng hay ràng buộc nhà cung cấp. Quan niệm này được thao tác hóa thành bốn tiêu chí, mỗi tiêu chí trả lời một câu hỏi kiểm chứng được bằng tài liệu: (i) ai thiết kế và ai vận hành hạ tầng, hai vai trò có tách bạch không; (ii) giao diện kỹ thuật đóng hay mở, tương hợp tự nguyện hay bắt buộc; (iii) lan tỏa quốc tế là xuất khẩu sản phẩm kèm tài chính hay chia sẻ thiết kế; (iv) chủ quyền dữ liệu là nguyên tắc kiến trúc từ đầu hay quy định bổ sung về sau.

screenshot_1789028355
Bảng 1. So sánh ba mô hình phát triển hạ tầng số theo bốn tiêu chí nhận diện. Nguồn: tác giả xây dựng trên cơ sở Strange (1994), Farrell & Newman (2019), Hillman (2020) và tài liệu chính thức dẫn tại mục 4.

3.1.2. Kiến trúc năng lực công nghệ nội sinh

Chương trình Digital India (2015) xác định ba tầm nhìn: hạ tầng kỹ thuật số như một tiện ích công thiết yếu, dịch vụ công theo yêu cầu và trao quyền cho công dân số (Bộ Điện tử và Công nghệ Thông tin Ấn Độ, 2022); sau gần một thập niên, tỷ lệ sử dụng internet tăng từ dưới 15% dân số năm 2014 lên hơn 55% năm 2024 (Cơ quan Quản lý Viễn thông Ấn Độ, 2025). India Stack là tên gọi chung cho tập hợp các giao diện lập trình ứng dụng mở xây dựng trên nền hạ tầng công do nhà nước thiết lập, gồm bốn tầng: định danh, thanh toán, phi giấy tờ và dữ liệu có sự đồng ý của chủ thể. Nguyên tắc thiết kế được diễn đạt là hạ tầng “thuộc sở hữu nhà nước nhưng không cạnh tranh” với chính các chủ thể sử dụng, đây là nội dung bài viết gọi là thiết kế thể chế, tức tập hợp quy tắc phân định ai được sở hữu, ai được vận hành và ai được cạnh tranh trên từng tầng.

Hai cấu phần lõi minh họa nguyên tắc trên. Aadhaar là hệ thống định danh sinh trắc học quốc gia cấp cho mỗi cư dân một mã số 12 chữ số gắn với dữ liệu vân tay và mống mắt, đã đăng ký hơn 1,3 tỷ người (Cơ quan Quản lý Định danh Duy nhất Ấn Độ, 2025); việc kết nối định danh với tài khoản ngân hàng cho phép chuyển trợ cấp trực tiếp tới người thụ hưởng (Nilekani & Shah, 2015). UPI là hệ thống thanh toán tức thì liên ngân hàng do Tổng công ty Thanh toán Quốc gia Ấn Độ là tổ chức phi lợi nhuận do các ngân hàng đồng sở hữu, vận hành từ năm 2016, đến năm 2025 là hệ thống thanh toán thời gian thực lớn nhất thế giới xét theo số giao dịch (Tổng công ty Thanh toán Quốc gia Ấn Độ, 2025). Xét theo tiêu chí (i) và (ii), điểm đáng chú ý không phải quy mô mà là thiết kế: đơn vị vận hành không cung cấp ứng dụng cho người dùng cuối nên không cạnh tranh với các ngân hàng và công ty công nghệ tài chính kết nối vào hệ thống; tương hợp là điều kiện bắt buộc để được kết nối. Cùng logic ấy, Sứ mệnh IndiaAI (2024) ưu tiên hạ tầng điện toán trong nước, mô hình ngôn ngữ cho 22 ngôn ngữ chính thức và bộ dữ liệu quốc gia mở dồn nguồn lực cho nhóm mà thị trường ít động lực phục vụ (Bộ Điện tử và Công nghệ Thông tin Ấn Độ, 2024).

3.1.3. Ngoại giao số và bằng chứng lan tỏa

Quyết định chiến lược đáng chú ý nhất của Ấn Độ là chủ động chia sẻ mô hình thay vì giữ độc quyền. Năm 2023, với vai trò Chủ tịch G20, New Delhi đưa DPI vào chương trình nghị sự và Tuyên bố các nhà lãnh đạo G20 New Delhi ghi nhận DPI như một cấu phần của hợp tác phát triển toàn cầu (G20, 2023) lần đầu một quốc gia đang phát triển đưa được mô hình phát triển công nghệ của chính mình vào văn kiện cấp cao nhất của G20. Bằng chứng về mức độ tiếp nhận thực tế là điều kiện để phân biệt một sáng kiến ngoại giao với một chuẩn mực đang lan tỏa quan sát được trên hai kênh: UPI đã kết nối vận hành tại Singapore, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Pháp, Mauritius; và India Stack được chuyển giao qua các thỏa thuận song phương với nhiều nước châu Phi, Đông Nam Á, Mỹ Latinh theo phương thức nước tiếp nhận tự triển khai trên nền thiết kế được chia sẻ. Chính phương thức này là căn cứ xếp mô hình Ấn Độ vào tiêu chí (iii).

Soi chiếu qua ba nguồn lực quyền lực mềm của Nye (2004), việc chia sẻ hạ tầng số tác động đồng thời trên cả ba: văn hóa, giá trị chính trị (chủ quyền dữ liệu, quản trị phi độc quyền) và chính sách đối ngoại (chia sẻ không kèm điều kiện tín dụng). Điểm khác biệt so với quảng bá giá trị thông thường là tính có thể kiểm chứng: hiệu quả biểu hiện thành số giao dịch và số người được tiếp cận dịch vụ tài chính. Song song, Ấn Độ thúc đẩy hai chuẩn mực: Đạo luật Bảo vệ Dữ liệu Cá nhân Kỹ thuật số năm 2023 xác lập nguyên tắc dữ liệu công dân Ấn Độ được quản lý theo pháp luật Ấn Độ, trình bày như nguyên tắc phát triển thay vì rào cản thương mại; và nguyên tắc quản trị trí tuệ nhân tạo phải tính đến trình độ phát triển của nước áp dụng (Quan hệ Đối tác Toàn cầu về Trí tuệ Nhân tạo, 2023).

3.1.4. Kiểm chứng qua trường hợp Việt Nam - Ấn Độ

Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ được nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện tháng 12/2016. Sự tương đồng về bối cảnh chiến lược nhận diện được qua văn kiện chính sách: cả hai theo đuổi đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, và cùng đã ban hành khuôn khổ pháp lý riêng về quản trị dữ liệu quốc gia. Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Ấn Độ của lãnh đạo cấp cao Việt Nam đầu tháng 5/2026 đánh dấu bước chuyển về chất, với 4 trong 13 văn kiện liên quan trực tiếp tới công nghệ số: thỏa thuận thanh toán mã phản hồi nhanh xuyên biên giới giữa hai tổ chức thanh toán quốc gia, mở đường kết nối UPI với hệ thống thanh toán nhanh của Việt Nam; thỏa thuận giữa ngân hàng trung ương hai nước; biên bản ghi nhớ về công nghệ số, mở ra hợp tác trong trí tuệ nhân tạo và điện toán lượng tử; và biên bản ghi nhớ về hợp tác đất hiếm (India’s World, 2026).

Xét theo bộ tiêu chí ở mục 2, việc kết nối hạ tầng thanh toán có ý nghĩa vượt khỏi phạm vi kinh tế: nếu hai quốc gia đang phát triển kết nối trực tiếp được hạ tầng thanh toán mà không phải trung chuyển qua mạng thanh toán của nước thứ ba, thì đây là trường hợp giảm phụ thuộc vào một nút trung tâm theo đúng nghĩa Farrell và Newman (2019) mô tả. Hợp tác đất hiếm cũng vượt khỏi khuôn khổ khai khoáng: hai nước đều có trữ lượng đáng kể và cùng lợi ích phát triển chuỗi cung ứng giảm phụ thuộc vào năng lực chế biến đang tập trung ở Trung Quốc, nên trong bối cảnh kiểm soát xuất khẩu khoáng sản then chốt được siết chặt, đây mang tính chất một hành động an ninh kinh tế. Trường hợp này hội đủ ba điều kiện của hợp tác Nam - Nam: bổ sung chiến lược, đa chiều và bình đẳng tương đối.

3.1.5. Đối chiếu với bộ tiêu chí và giới hạn của mô hình

Kết quả đối chiếu không đồng đều giữa bốn tiêu chí, và việc thừa nhận điều này quan trọng hơn là khẳng định một chiều. Ở tiêu chí (ii) và (iii), bằng chứng khá rõ: giao diện mở, tương hợp bắt buộc, chuyển giao thiết kế thay vì bán thiết bị trọn gói. Ở tiêu chí (i), mô hình đúng ở tầng thanh toán nhưng ít rõ ràng hơn ở tầng định danh, nơi một cơ quan nhà nước vừa vận hành hạ tầng vừa nắm cơ sở dữ liệu sinh trắc học. Ở tiêu chí (iv), tuyên bố rằng chủ quyền dữ liệu là nguyên tắc kiến trúc ngay từ đầu chỉ đúng một phần: Ấn Độ phải bổ sung khuôn khổ bằng phán quyết năm 2017 của Tòa án Tối cao công nhận quyền riêng tư là quyền hiến định và bằng đạo luật bảo vệ dữ liệu năm 2023, tức sau khi hệ thống đã vận hành ở quy mô lớn. “Mô hình thứ ba” vì vậy nên được hiểu là một mô hình đang định hình.

Ba giới hạn cần được ghi nhận, và đây cũng là phần có giá trị tham chiếu cao nhất. Thứ nhất là rủi ro loại trừ: vẫn còn hơn một phần tư dân số Ấn Độ chưa có kết nối internet ổn định (Cơ quan Quản lý Viễn thông Ấn Độ, 2025), và khi xác thực điện tử thành điều kiện bắt buộc để nhận trợ cấp, lỗi xác thực sinh trắc học có thể khiến chính nhóm yếu thế bị loại khỏi phúc lợi như trường hợp năm 2024, việc áp dụng bắt buộc xác thực điện tử với thẻ lương thực tại một số bang đã dẫn tới đình chỉ hàng triệu suất thụ hưởng. Thứ hai là an ninh mạng và quyền riêng tư: cơ sở dữ liệu sinh trắc học hơn một tỷ bản ghi là mục tiêu có giá trị cao (CyberPeace Foundation, 2024), và tiến trình pháp lý 2017 – 2019: khi Tòa án Tối cao tuyên vô hiệu điều khoản cho phép khu vực tư nhân bắt buộc dùng định danh, trước khi việc này được khôi phục có điều kiện cho thấy đây là tranh chấp hiến pháp thực tế (Khera, 2019). Thứ ba là khả năng khái quát hóa: mô hình được thiết kế cho quy mô dân số rất lớn của Ấn Độ, và duy trì tự chủ chiến lược giữa hai sức ép Hoa Kỳ - Trung Quốc đòi hỏi năng lực ngoại giao đặc thù (Rajagopalan, 2017).

3.2. Thảo luận

Năm khoảng trống và hàm ý chính sách cho Việt Nam. Mỗi hàm ý dưới đây chỉ được nêu sau khi xác định Việt Nam đã có gì, còn thiếu gì và kinh nghiệm Ấn Độ bổ sung được điều gì mà các văn kiện hiện hành chưa đề cập, nhằm tránh lặp lại những định hướng đã khẳng định trong Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024, Luật Dữ liệu năm 2024 và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025.

Thứ nhất, tách bạch vai trò kiến tạo hạ tầng và vai trò cung cấp dịch vụ. Luật Dữ liệu năm 2024 đã xác lập nền tảng pháp lý cho Trung tâm dữ liệu quốc gia và Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia. Khoảng trống nằm ở chỗ khác: chưa xác lập rõ nguyên tắc cơ quan vận hành hạ tầng nền không đồng thời cạnh tranh ở tầng dịch vụ. Kinh nghiệm Ấn Độ bổ sung đúng điểm này là đơn vị vận hành hệ thống thanh toán không phát hành ứng dụng cho người dùng cuối, nhờ đó tính trung lập được bảo đảm bằng cấu trúc tổ chức chứ không chỉ bằng cam kết. Điều kiện vận dụng: phân định pháp lý rõ giữa chủ thể vận hành hạ tầng và chủ thể kinh doanh dịch vụ trên hạ tầng đó.

Thứ hai, từ bảo vệ dữ liệu sang trao quyền dữ liệu. Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 lần đầu thiết lập khuôn khổ thống nhất ở cấp luật, phân định dữ liệu cá nhân cơ bản và dữ liệu nhạy cảm. Song cách tiếp cận chủ đạo vẫn là bảo vệ và kiểm soát: công dân được bảo vệ khỏi lạm dụng dữ liệu, nhưng chưa có hạ tầng kỹ thuật cho phép chủ động chuyển dữ liệu của mình giữa các tổ chức để đổi lấy dịch vụ tốt hơn. Ấn Độ giải quyết bằng kiến trúc trung gian quản lý sự đồng ý, trong đó “đồng ý” được thực thi bằng giao thức kỹ thuật chứ không chỉ bằng điều khoản hợp đồng. Điều kiện vận dụng: ban hành chuẩn giao diện về đồng ý và cho phép hình thành tổ chức trung gian quản lý đồng ý có giấy phép.

Thứ ba, từ tham gia tiêu chuẩn sang đề xuất tiêu chuẩn. Nghị quyết số 57-NQ/TW đã đặt yêu cầu tham gia xây dựng tiêu chuẩn quốc tế; khoảng trống là cơ chế chuyển hóa: chưa có quy trình đưa một chuẩn kỹ thuật đã vận hành ổn định trong nước thành đề xuất chuẩn cấp khu vực, cũng chưa có đội ngũ chuyên trách thường trực tại các tổ chức tiêu chuẩn quốc tế. Ấn Độ cho thấy con đường khả thi: chọn một lĩnh vực hẹp đã có thành tựu vận hành, chứng minh bằng số liệu, rồi đưa vào nghị trình đa phương. Kết nối thanh toán Việt Nam - Ấn Độ năm 2026 là cơ hội cụ thể, song hiện mới hướng tới khách du lịch; chỉ khi mở rộng sang thanh toán thương mại và chuyển tiền của người lao động mới đủ khối lượng giao dịch để làm cơ sở đề xuất chuẩn khu vực.

Thứ tư, quản trị hai rủi ro đi kèm số hóa. Việt Nam đã triển khai định danh điện tử toàn quốc và đang mở rộng phạm vi dịch vụ yêu cầu xác thực điện tử, nhưng chưa có quy định bắt buộc đánh giá tác động loại trừ, cũng chưa yêu cầu duy trì kênh tiếp cận phi điện tử cho nhóm không thể xác thực, đúng vào điểm mà kinh nghiệm Ấn Độ là bài học ngược chiều. Về an ninh mạng, chỉ trong một năm, cơ quan chức năng ghi nhận hơn 600.000 cuộc tấn công mạng nhằm vào Việt Nam, trong đó khoảng 10.000 hệ thống thông tin của cơ quan nhà nước và ngân hàng là mục tiêu; khoảng trống không nằm ở chủ trương mà ở cơ chế ngân sách, khi chi cho an ninh mạng thường được bố trí thành hạng mục riêng, tách khỏi dự toán của chính dự án hạ tầng. Điều kiện vận dụng: quy định đánh giá tác động loại trừ như thủ tục bắt buộc trước khi chuyển một dịch vụ phúc lợi sang chế độ xác thực điện tử, và ấn định tỷ lệ tối thiểu của tổng mức đầu tư mỗi dự án hạ tầng số dành cho bảo mật.

Thứ năm, chuyển hợp tác đào tạo và tài nguyên chiến lược thành năng lực nội sinh. Chương trình Hợp tác Kỹ thuật và Kinh tế Ấn Độ cho thấy hình thức hợp tác bền vững nhất là chuyển giao năng lực chứ không phải chuyển giao thiết bị (Bộ Ngoại giao Ấn Độ, 2024). Khoảng trống phía Việt Nam không ở số lượng suất đào tạo mà ở cơ chế sử dụng sau đào tạo: thiếu ràng buộc gắn nhân lực được đào tạo với các dự án hạ tầng số trọng điểm. Tương tự, với hợp tác đất hiếm, mục tiêu cần xác định là từng bước làm chủ công nghệ chế biến sâu, là khâu tạo phần lớn giá trị gia tăng thay vì dừng ở xuất khẩu quặng thô.

4. Kết luận

Bài viết phân tích chiến lược hạ tầng công cộng kỹ thuật số của Ấn Độ qua ba chiều cạnh tương ứng ba câu hỏi nghiên cứu, và không khẳng định “mô hình thứ ba” như một sự thật hiển nhiên mà xây dựng bốn tiêu chí nhận diện rồi đối chiếu bằng chứng theo từng tiêu chí. Kết quả: mô hình Ấn Độ khác biệt rõ ở chế độ sở hữu kỹ thuật và cơ chế lan tỏa quốc tế, nhưng chỉ khác biệt một phần ở tách bạch vai trò vận hành và ở vị trí của chủ quyền dữ liệu. DPI vì vậy vận hành như một công cụ quyền lực mềm có tính kiểm chứng được; còn những giới hạn của mô hình như rủi ro loại trừ, an ninh mạng và tranh chấp quyền riêng tư mới là phần có giá trị tham chiếu cao nhất với một quốc gia đi sau.

Về ý nghĩa khoa học, đóng góp của bài viết không nằm ở việc đặt tên cho một mô hình, mà ở bộ tiêu chí nhận diện cho phép kiểm chứng và bác bỏ, qua đó bổ sung cho lối phân tích lưỡng phân Hoa Kỳ - Trung Quốc vốn chi phối các thảo luận hiện nay. Về ý nghĩa thực tiễn, năm hàm ý được đề xuất đều gắn với một khoảng trống cụ thể trong khuôn khổ pháp lý và thực tiễn hiện hành của Việt Nam, hội tụ về nguyên lý: chủ quyền công nghệ không đến từ việc mua sắm công nghệ, mà đến từ việc làm chủ kiến trúc, tiêu chuẩn và dữ liệu./.

Trích dẫn bài báo

Nguyễn Thị Thu Nga & Lê Thị Hiên. Chiến lược hạ tầng công cộng kỹ thuật số của Ấn Độ: “mô hình thứ ba” trong địa chính trị công nghệ và hàm ý chính sách cho Việt Nam. Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông 2026, 32(11):—. DOI:https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/chien-luoc-ha-tang-cong-cong-ky-thuat-so-cua-an-do-mo-hinh-thu-ba-trong-dia-chinh-tri-cong-nghe-va-ham-y-chinh-sach-cho-viet-nam-p31512.html
Nguyễn Thị Thu Nga & Lê Thị Hiên. Chiến lược hạ tầng công cộng kỹ thuật số của Ấn Độ: “mô hình thứ ba” trong địa chính trị công nghệ và hàm ý chính sách cho Việt Nam. Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, 2026, 32, —, https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/chien-luoc-ha-tang-cong-cong-ky-thuat-so-cua-an-do-mo-hinh-thu-ba-trong-dia-chinh-tri-cong-nghe-va-ham-y-chinh-sach-cho-viet-nam-p31512.html.
Nguyễn Thị Thu Nga & Lê Thị Hiên (2026). Chiến lược hạ tầng công cộng kỹ thuật số của Ấn Độ: “mô hình thứ ba” trong địa chính trị công nghệ và hàm ý chính sách cho Việt Nam. Tập 32, Số 11 (2026), 32(11), —. https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/chien-luoc-ha-tang-cong-cong-ky-thuat-so-cua-an-do-mo-hinh-thu-ba-trong-dia-chinh-tri-cong-nghe-va-ham-y-chinh-sach-cho-viet-nam-p31512.html
Nguyễn Thị Thu Nga & Lê Thị Hiên. Chiến lược hạ tầng công cộng kỹ thuật số của Ấn Độ: “mô hình thứ ba” trong địa chính trị công nghệ và hàm ý chính sách cho Việt Nam. Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, 2026, v. 32, n. 11, p. —. Disponível em: https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/chien-luoc-ha-tang-cong-cong-ky-thuat-so-cua-an-do-mo-hinh-thu-ba-trong-dia-chinh-tri-cong-nghe-va-ham-y-chinh-sach-cho-viet-nam-p31512.html.
Nguyễn Thị Thu Nga & Lê Thị Hiên. "Chiến lược hạ tầng công cộng kỹ thuật số của Ấn Độ: “mô hình thứ ba” trong địa chính trị công nghệ và hàm ý chính sách cho Việt Nam." Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông 32, no. 11 (2026): —. https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/chien-luoc-ha-tang-cong-cong-ky-thuat-so-cua-an-do-mo-hinh-thu-ba-trong-dia-chinh-tri-cong-nghe-va-ham-y-chinh-sach-cho-viet-nam-p31512.html.
Nguyễn Thị Thu Nga & Lê Thị Hiên (2026) 'Chiến lược hạ tầng công cộng kỹ thuật số của Ấn Độ: “mô hình thứ ba” trong địa chính trị công nghệ và hàm ý chính sách cho Việt Nam'. Tập 32, Số 11 (2026), 32(11), —. Available at: https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/chien-luoc-ha-tang-cong-cong-ky-thuat-so-cua-an-do-mo-hinh-thu-ba-trong-dia-chinh-tri-cong-nghe-va-ham-y-chinh-sach-cho-viet-nam-p31512.html.
Nguyễn Thị Thu Nga & Lê Thị Hiên, "Chiến lược hạ tầng công cộng kỹ thuật số của Ấn Độ: “mô hình thứ ba” trong địa chính trị công nghệ và hàm ý chính sách cho Việt Nam," Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, vol. 32, no. 11, pp. —, 2026. [Online]. Available: https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/chien-luoc-ha-tang-cong-cong-ky-thuat-so-cua-an-do-mo-hinh-thu-ba-trong-dia-chinh-tri-cong-nghe-va-ham-y-chinh-sach-cho-viet-nam-p31512.html
Nguyễn Thị Thu Nga & Lê Thị Hiên. "Chiến lược hạ tầng công cộng kỹ thuật số của Ấn Độ: “mô hình thứ ba” trong địa chính trị công nghệ và hàm ý chính sách cho Việt Nam." Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, vol. 32, no. 11, 2026, pp. —.
Nguyễn Thị Thu Nga & Lê Thị Hiên. "Chiến lược hạ tầng công cộng kỹ thuật số của Ấn Độ: “mô hình thứ ba” trong địa chính trị công nghệ và hàm ý chính sách cho Việt Nam." Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông 32, no. 11 (2026): —. https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/chien-luoc-ha-tang-cong-cong-ky-thuat-so-cua-an-do-mo-hinh-thu-ba-trong-dia-chinh-tri-cong-nghe-va-ham-y-chinh-sach-cho-viet-nam-p31512.html.
Nguyễn Thị Thu Nga & Lê Thị Hiên. Chiến lược hạ tầng công cộng kỹ thuật số của Ấn Độ: “mô hình thứ ba” trong địa chính trị công nghệ và hàm ý chính sách cho Việt Nam. Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông. 2026;32(11):—. Available from: https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/chien-luoc-ha-tang-cong-cong-ky-thuat-so-cua-an-do-mo-hinh-thu-ba-trong-dia-chinh-tri-cong-nghe-va-ham-y-chinh-sach-cho-viet-nam-p31512.html
Thống kê truy cập
Online: 72
Hôm nay: 3.001
Hôm qua: 4.292
Tổng: 9.298.425
Liên kết hữu ích