Năng lực truyền thông chính sách phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm lây qua đường hô hấp của cán bộ y tế Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025: Thực trạng và giải pháp
Policy communication capacity of Vietnamese healthcare personnel in preventing and controlling respiratory infectious diseases: Current situation and solutions
| Nguyễn Thị Phương Thảo | phuongthao.moh@gmail.com | Văn phòng Bộ Y tế |
Tóm tắt:
Abstract:
Từ khóa:
truyền thông chính sách, năng lực truyền thông, cán bộ y tế, bệnh truyền nhiễm đường hô hấp, truyền thông nguy cơ.
Keyword:
policy communication, communication capacity, healthcare personnel, respiratory infectious diseases, risk communication
Nội dung:
1. Đặt vấn đề
Đại dịch COVID - 19 cùng nguy cơ tái xuất hiện của cúm A/H5N1 trong giai đoạn 2020-2025 đã đặt hệ thống y tế Việt Nam trước những thách thức chưa từng có về truyền thông. Trong bối cảnh khẩn cấp y tế công cộng, việc truyền đạt thông tin minh bạch, kịp thời và chính xác đóng vai trò là cấu phần cốt lõi của chiến lược ứng phó, trực tiếp chi phối niềm tin và sự tuân thủ của cộng đồng. Song hành với áp lực kiểm soát dịch bệnh là nhiệm vụ quản lý đại dịch thông tin (infodemic) trước sự bùng nổ của thông tin sai lệch trên không gian mạng.
Thể hóa các chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước - tiêu biểu là Nghị quyết số 20 - NQ/TW về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân, Quyết định số 407/QĐ - TTg và Chỉ thị số 07/CT - TTg về tăng cường truyền thông chính sách - ngành y tế đã triển khai nhiều chiến dịch truyền thông quy mô lớn như thông điệp 5K, chính sách vắc-xin, quy định thích ứng an toàn cùng các hướng dẫn chuyên môn kịp thời. Tuy nhiên, quá trình này diễn ra đồng thời với sự tinh gọn bộ máy: Vụ Truyền thông và Thi đua, khen thưởng (Bộ Y tế) được giải thể, chức năng chuyển về Văn phòng Bộ, trong khi tuyến tỉnh sáp nhập trung tâm y tế dự phòng. Hệ quả tất yếu là lực lượng chuyên trách bị thu hẹp, hiện tượng kiêm nhiệm trở nên phổ biến, làm gia tăng khoảng cách năng lực thực thi giữa các cấp.
Dưới góc nhìn khoa học truyền thông, truyền thông chính sách là quá trình tương tác hai chiều gắn liền với toàn bộ chu trình công vụ. Năng lực truyền thông của cán bộ y tế không chỉ dừng lại ở việc phát đi thông cáo mà đòi hỏi tư duy phân tích chính sách, kỹ năng chuyển tải thông điệp, nghệ thuật đối thoại, ứng dụng công nghệ số và quản trị rủi ro thông tin. Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý thông tin dịch bệnh, việc đánh giá toàn diện năng lực của chính đội ngũ chủ thể thực thi - dựa trên sự đối chiếu đa chiều giữa sản phẩm thực tế, tự đánh giá và phỏng vấn sâu - vẫn còn là một khoảng trống khoa học cần được lấp đầy.
Bài viết tập trung giải quyết hai câu hỏi cốt lõi: Năng lực truyền thông chính sách của cán bộ y tế giai đoạn 2020 - 2025 được thể hiện như thế nào qua thực tiễn hoạt động, và những điểm nghẽn nào cần tháo gỡ? Qua đó, nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để kiện toàn đội ngũ, đáp ứng yêu cầu đổi mới công tác truyền thông y tế trong tình hình mới.
2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu vận dụng nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp linh hoạt phương pháp định tính và định lượng nhằm bảo đảm tính khách quan, toàn diện. Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong giai đoạn 2020 - 2025, tập trung vào hai trường hợp tiêu biểu: COVID -19 (đại diện cho khủng hoảng diện rộng, kéo dài) và cúm A/H5N1 (đại diện cho dịch bệnh khu trú có tỷ lệ tử vong cao).
Khung tiêu chí đánh giá được xây dựng dựa trên sự tích hợp các mô hình lý thuyết uy tín quốc tế, bao gồm: mô hình quan hệ công chúng hai chiều đối xứng của Grunig & Hunt, mô hình truyền thông nguy cơ và khủng hoảng CERC, cùng các chuẩn năng lực của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Từ đó, bài viết thiết lập 5 tiêu chí trọng tâm: (1) Phân tích và chuyển tải chính sách thành thông điệp; (2) Sáng tạo sản phẩm truyền thông; (3) Phát ngôn, quan hệ báo chí và đối thoại công chúng; (4) Ứng dụng công nghệ số; (5) Truyền thông nguy cơ và xử lý khủng hoảng thông tin.
Để bảo đảm độ tin cậy và tính xác thực cao, nghiên cứu sử dụng phương pháp đối chiếu tam giác dữ liệu từ ba nguồn độc lập:
Thứ nhất, phân tích nội dung định lượng 1.615 tin bài trên Báo Sức khỏe và Đời sống, 653 đơn vị ấn phẩm/chiến dịch trên Cổng Thông tin điện tử và hệ sinh thái số của Bộ Y tế, được xử lý tự động bằng Python kết hợp lấy mẫu hệ thống.
Thứ hai, khảo sát xã hội học bằng bảng hỏi đối với 306 cán bộ truyền thông y tế thuộc ba cấp (trung ương, tỉnh, cơ sở) triển khai trong năm 2025, với các thang đo đạt độ tin cậy cao (Cronbach’s Alpha từ 0,812 đến 0,973).
Thứ ba, phỏng vấn sâu bán cấu trúc 27 chuyên gia, nhà quản lý, phóng viên báo chí và người làm thực tiễn. Dữ liệu khảo sát được xử lý bằng phần mềm SPSS thông qua thống kê mô tả, kiểm định t và phân tích phương sai ANOVA để làm rõ các khoảng cách năng lực giữa các tuyến.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Kết quả nghiên cứu
Các sản phẩm và số liệu tin bài nêu trong mục này, nếu không ghi nguồn khác, là kết quả phân tích nội dung của tác giả. Bảng 2 cho thấy sự phân hóa rõ giữa hai cấp độ đánh giá. Ở cấp độ tổ chức, các chỉ báo phản ánh tính công khai, minh bạch thông tin và vai trò của người phát ngôn đạt mức khá cao (M từ 4,05 đến 4,09), trong khi các chỉ báo gắn với cơ chế đối thoại và công cụ theo dõi dư luận chỉ ở mức khá (M từ 3,53 đến 3,62). Ở cấp độ cá nhân, điểm tự đánh giá dao động từ mức trung bình đến khá (M từ 3,26 đến 3,82); thấp nhất là tự tin phát ngôn, đối thoại (M = 3,26) và xử lý phản ứng của công chúng (M = 3,36).
Bảng 2. Một số chỉ báo năng lực truyền thông chính sách theo tiêu chí (N = 306)
|
Tiêu chí |
Chỉ báo |
M |
ĐLC |
|
(1) Phân tích, chuyển tải chính sách |
Nắm vững quy trình truyền thông chính sách y tế |
3,53 |
0,98 |
|
Biên tập thông điệp phù hợp từng nhóm công chúng |
3,49 |
1,07 |
|
|
Xác định và đánh giá rủi ro truyền thông |
3,42 |
0,99 |
|
|
Thông tin do cơ quan công bố được trình bày dễ hiểu |
4,09 |
0,85 |
|
|
(2) Sáng tạo sản phẩm |
Kỹ năng viết, nói và trình bày trước công chúng |
3,50 |
1,04 |
|
Sử dụng công cụ thiết kế, dựng video cơ bản |
3,54 |
1,05 |
|
|
(3) Phát ngôn, báo chí, đối thoại |
Người phát ngôn có kỹ năng trình bày thuyết phục |
4,09 |
0,86 |
|
Đồng ý rằng “đôi khi người phát ngôn phản ứng còn chậm” |
3,57 |
1,01 |
|
|
Tự tin phát ngôn và đối thoại với công chúng |
3,26 |
1,14 |
|
|
Cơ quan thường xuyên tổ chức đối thoại trực tiếp/trực tuyến |
3,53 |
1,00 |
|
|
(4) Công nghệ số |
Sử dụng thành thạo mạng xã hội trong công việc |
3,82 |
0,87 |
|
Đọc hiểu, phân tích số liệu truyền thông |
3,71 |
0,93 |
|
|
Cơ quan ứng dụng công cụ theo dõi dư luận trên mạng xã hội |
3,62 |
0,99 |
|
|
(5) Nguy cơ và khủng hoảng |
Hiểu rõ nguyên tắc truyền thông trong tình huống khẩn cấp |
3,56 |
1,02 |
|
Xử lý phản ứng của công chúng nhanh và hiệu quả |
3,36 |
1,03 |
|
|
Đơn vị kịp thời đính chính khi có sai sót thông tin |
4,05 |
0,89 |
Ghi chú: M: điểm trung bình; ĐLC: độ lệch chuẩn
Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu khảo sát của tác giả
3.1.1. Năng lực phân tích và chuyển tải chính sách thành thông điệp
Ở cấp trung ương, năng lực này được thể hiện rõ qua sản phẩm. Thông điệp 5K do Bộ Y tế đưa ra năm 2020 đã cô đọng nhiều biện pháp phòng dịch thành công thức ngắn, dễ nhớ, gắn với hành vi. Khi Chính phủ chuyển sang trạng thái thích ứng an toàn (Nghị quyết số 128/NQ-CP, 2021), nhóm tin bài Tư vấn y tế (353 bài) và Chính sách y tế (281 bài) trong mẫu phân tích tập trung giải thích quy định mới thành hướng dẫn cụ thể, tiêu biểu là loạt bài hướng dẫn người mắc COVID-19 điều trị tại nhà. Trong khảo sát, 68,5% cán bộ chọn chiến dịch tiêm chủng vắc xin COVID-19 và 15,2% chọn chiến dịch 5K là hoạt động truyền thông thành công nhất tại đơn vị.
Tuy nhiên, tự đánh giá năng lực cá nhân ở tiêu chí này chỉ ở mức khá thấp (M từ 3,42 đến 3,53), trong khi mức độ dễ hiểu của thông tin do cơ quan công bố đạt 4,09 (Bảng 2). Khoảng cách giữa các tuyến rất rõ: với kỹ năng biên tập thông điệp, nhóm quản lý ở trung ương, tỉnh đạt M = 3,79, còn nhóm trực tiếp thực thi ở cơ sở chỉ đạt M = 3,19 (F(1, 304) = 26,24; p < 0,001). Nói cách khác, thông điệp được thiết kế tốt ở tuyến trên nhưng khâu điều chỉnh cho phù hợp với người dân địa phương ở tuyến dưới còn yếu.
Phỏng vấn sâu làm rõ hai mặt của vấn đề. Một mặt, ngôn ngữ chuyên môn vẫn là rào cản ngay trong ngành: “Các xuất bản phẩm thường không được viết bằng ngôn ngữ truyền thông mà viết bằng ngôn ngữ chuyên môn y tế… khiến nhân viên tại cơ sở đôi khi vẫn khó hiểu” (PVS1, nữ, Nhà xuất bản Y học). Mặt khác, ở nơi cán bộ chủ động, thông điệp chuẩn đã được điều chỉnh sát với đời sống: “ở một số xã vùng sâu, tôi yêu cầu cán bộ nói theo cách dân dễ hiểu, như đeo khẩu trang khi đi đám tiệc… vùng đồng bào dân tộc hạn chế chữ thì tăng hình minh họa” (PVS4, nữ, CDC Cà Mau). Cách làm này đáp ứng yêu cầu dễ hiểu và có thể hành động của truyền thông y tế (WHO, 2017b), nhưng còn phụ thuộc vào sự chủ động của từng cá nhân hơn là quy trình chung của hệ thống.
3.1.2. Năng lực sáng tạo sản phẩm truyền thông chính sách
Giai đoạn 2020 - 2025 ghi nhận nhiều sản phẩm có sức lan tỏa. Bài hát và vũ điệu “Ghen Cô Vy” do Bộ Y tế phát hành đầu năm 2020 đã biến khuyến cáo rửa tay, đeo khẩu trang thành sản phẩm giải trí dễ chia sẻ. Chuỗi bản tin “Tin COVID hôm nay” trên Báo Sức khỏe và Đời sống được cập nhật hai lần mỗi ngày, cùng loạt đồ họa thông tin (infographic) về ca bệnh hằng ngày trên trang Facebook (fanpage) chính thức của Bộ Y tế, đã hình thành thói quen tìm đến nguồn tin chính thống của công chúng. Ở khối bệnh viện, Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh “triển khai 53 chương trình tư vấn trực tuyến giao lưu chuyên gia thu hút 1,9 triệu lượt tiếp cận” (PVS6, nữ, Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh).
Dù vậy, các sản phẩm nổi bật chủ yếu do đơn vị trung ương, cơ quan báo chí và bệnh viện lớn thực hiện. Tự đánh giá về kỹ năng viết, nói, trình bày (M = 3,50) và sử dụng công cụ thiết kế, dựng video cơ bản (M = 3,54) chỉ ở mức khá thấp; ở nhóm cán bộ cơ sở, kỹ năng viết, nói, trình bày chỉ đạt M = 3,26 so với 3,74 của nhóm quản lý (F(1, 304) = 17,02; p < 0,001). Tuyến cơ sở chủ yếu phân phối lại sản phẩm có sẵn do thiếu cả kỹ năng lẫn kinh phí: “Kinh phí thì có nhưng chưa đủ để sản xuất các sản phẩm truyền thông đa phương tiện chất lượng cao” (PVS4, nữ, CDC Cà Mau). Ở lĩnh vực thú y - lực lượng phối hợp trong phòng, chống cúm A/H5N1 - tình trạng tương tự: “100% là cán bộ có background là thú y, không được đào tạo bài bản chuyên sâu về kỹ năng truyền thông” (PVS12, nam, Cục Chăn nuôi và Thú y).
3.1.3. Năng lực phát ngôn, quan hệ báo chí và đối thoại với công chúng
Ở cấp trung ương, năng lực phát ngôn được thể chế hóa khá rõ. Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí (Quyết định số 56/QĐ-BYT, 2023) xác định thẩm quyền, trách nhiệm phát ngôn từ lãnh đạo Bộ đến người được ủy quyền; các cuộc họp báo của lãnh đạo Bộ được phát trực tiếp trên trang Facebook (fanpage) chính thức trong giai đoạn cao điểm dịch. Người phát ngôn được đánh giá có kỹ năng trình bày thuyết phục (M = 4,09), được lựa chọn đúng chuyên môn (M = 4,07) và có thông điệp được chuẩn bị kỹ (M = 4,09).
Tuy nhiên, tốc độ phản ứng là điểm yếu: mức đồng ý với nhận định “đôi khi người phát ngôn phản ứng còn chậm” đạt M = 3,57. Ở góc độ cá nhân, tự tin phát ngôn và đối thoại với công chúng là chỉ báo thấp nhất (M = 3,26), đặc biệt ở nhóm cán bộ cơ sở chỉ đạt M = 2,98 so với 3,54 ở nhóm quản lý (F(1, 304) = 19,87; p < 0,001). Cán bộ nữ - lực lượng chiếm đa số ở tuyến cơ sở - tự đánh giá thấp hơn cán bộ nam ở chỉ báo này (M = 3,05 so với 3,66; F(1, 304) = 21,97; p < 0,001). Do là dữ liệu tự đánh giá, chênh lệch này chủ yếu phản ánh mức độ tự tin.
Góc nhìn của báo chí cho thấy rõ hơn những điểm nghẽn ở tuyến dưới: “Nhiều cơ sở y tế chưa cởi mở… phóng viên phải đi hỏi vòng hoặc đòi hỏi phải làm công văn giấy tờ rất mất thời gian” (PVS8, nữ, nhà báo Báo Nhân Dân). Về đối thoại, việc tổ chức đối thoại trực tiếp hoặc trực tuyến với người dân chưa thường xuyên (M = 3,53) và mức đồng ý với nhận định cơ quan còn thiếu cơ chế tiếp thu phản hồi chính thức khá cao (M = 3,65). Đối chiếu với mô hình của Grunig và Hunt (1984), hoạt động truyền thông của ngành mới mạnh ở khâu công bố thông tin, chưa thực sự chuyển sang trao đổi hai chiều.
3.1.4. Năng lực ứng dụng công nghệ số
Ngành y tế đã hình thành hệ sinh thái truyền thông đa nền tảng với sự phân vai tương đối rõ: báo điện tử lưu giữ văn bản, số liệu chính thức; Facebook (fanpage) phát trực tiếp họp báo, lan tỏa thông điệp và chiến dịch (như chiến dịch “Vì một Việt Nam vững vàng và khỏe mạnh” cuối năm 2022); YouTube cung cấp video hướng dẫn; Zalo gửi thông báo trực tiếp đến người dùng về lịch tiêm chủng và cảnh báo khẩn, như khi xuất hiện ca tử vong do cúm A/H5N1 tại Khánh Hòa tháng 3/2024. Kỹ năng sử dụng mạng xã hội trong công việc đạt mức khá (M = 3,82) và không có khác biệt đáng kể giữa cán bộ quản lý và cán bộ cơ sở về năng lực số nói chung (F(1, 304) = 2,33; p = 0,128).
Điểm đáng chú ý là việc theo dõi dư luận trực tuyến. Cán bộ tự đánh giá việc cơ quan ứng dụng công cụ theo dõi dư luận trên mạng xã hội (social listening - công cụ tự động thu thập, phân tích ý kiến của người dùng mạng về một chủ đề) ở mức khá (M = 3,62), nhưng phỏng vấn sâu cho thấy thực tế khác: Cổng Thông tin điện tử Bộ Y tế chưa sử dụng các công cụ theo dõi dư luận tự động (PVS2, nam, Cổng Thông tin điện tử Bộ Y tế); ở địa phương, việc này làm thủ công: “Chúng tôi cũng theo dõi mạng xã hội mỗi ngày để nắm tình hình” (PVS4, nữ, CDC Cà Mau). Như vậy, năng lực số của ngành mới dừng ở mức hiện diện và phân phối thông tin, chưa đạt tới mức chủ động phân tích dư luận để ra quyết định truyền thông.
3.1.5. Năng lực truyền thông nguy cơ và xử lý khủng hoảng thông tin
Truyền thông nguy cơ là việc trao đổi thông tin, lời khuyên và ý kiến theo thời gian thực giữa chuyên gia, cơ quan chức năng với người dân đang đối mặt với mối đe dọa sức khỏe, giúp họ tự đưa ra quyết định bảo vệ bản thân (WHO, 2017a). Mô hình CERC nhấn mạnh truyền thông cần bắt đầu từ giai đoạn trước khủng hoảng, không chỉ khi sự cố đã xảy ra (Reynolds & Seeger, 2005). Dữ liệu phân tích nội dung (Bảng 3) cho thấy hai mô thức khác nhau.
Bảng 3. Số tin bài về COVID-19 và cúm A/H5N1 trên Báo Sức khỏe và Đời sống theo năm (mẫu phân tích)
|
Năm |
2020 |
2021 |
2022 |
2023 |
2024 |
2025 |
|
COVID-19 |
130 |
593 |
458 |
184 |
95 |
36 |
|
Cúm A/H5N1 |
3 |
5 |
13 |
29 |
49 |
15 |
Nguồn: Kết quả phân tích nội dung của tác giả
Với COVID-19, truyền thông duy trì liên tục, cường độ cao trong suốt chu kỳ dịch. Với cúm A/H5N1, truyền thông gần như vắng bóng giai đoạn 2020 - 2021 và chỉ tăng mạnh khi xuất hiện ca bệnh cụ thể, như các tin bài khẩn về bệnh nhân cúm A/H5N1 tử vong tại Khánh Hòa tháng 3/2024. Cách làm này tập trung nguồn lực vào thời điểm then chốt, nhưng cho thấy truyền thông nguy cơ còn nặng tính phản ứng theo sự kiện, thiếu hoạt động nâng cao hiểu biết thường xuyên ở giai đoạn bình thường.
Kết quả khảo sát củng cố nhận định này. Việc đính chính thông tin sai sót được đánh giá tốt (M = 4,05), nhưng kỹ năng xử lý phản ứng của công chúng nhanh, hiệu quả chỉ ở mức trung bình (M = 3,36; nhóm cơ sở M = 3,15). Có 42% cán bộ cho rằng quản lý tin giả trên mạng còn chậm và 28,5% cho rằng truyền thông nguy cơ chưa được chuẩn bị sẵn sàng.
3.1.6. Những hạn chế và nguyên nhân về năng lực truyền thông chính sách phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm lây qua đường hô hấp của cán bộ y tế Việt Nam giai đoạn 2020-2025
Có thể khái quát thực trạng năng lực truyền thông chính sách của cán bộ y tế là mạnh ở cấp hệ thống, yếu ở kỹ năng tác nghiệp của cán bộ tuyến cơ sở. Ngành đã bảo đảm công khai thông tin, thống nhất thông điệp giữa các cấp (M = 3,88) và có đội ngũ phát ngôn cấp cao được đánh giá tốt; nhưng còn ba hạn chế chủ yếu.
Thứ nhất, khoảng cách năng lực giữa tuyến trên và tuyến cơ sở. Ở tất cả các kỹ năng tác nghiệp then chốt, cán bộ cơ sở - những người trực tiếp tiếp xúc với người dân - đều có điểm thấp hơn rõ rệt (Bảng 4). Điểm trung bình chung về năng lực cá nhân của nhóm cơ sở là 3,29, thấp hơn nhóm quản lý (3,67) (F(1, 304) = 15,17; p < 0,001).
Bảng 4. So sánh một số kỹ năng tác nghiệp theo vị trí công tác (điểm trung bình)
|
Kỹ năng |
Quản lý (trung ương, tỉnh) |
Thực thi (cơ sở) |
|
Biên tập thông điệp phù hợp công chúng |
3,79 |
3,19 |
|
Viết, nói, trình bày trước công chúng |
3,74 |
3,26 |
|
Xử lý phản ứng của công chúng |
3,57 |
3,15 |
|
Tự tin phát ngôn, đối thoại |
3,54 |
2,98 |
|
Điểm chung năng lực cá nhân |
3,67 |
3,29 |
Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu khảo sát của tác giả
Thứ hai, truyền thông nguy cơ còn mang tính phản ứng và thiếu công cụ theo dõi dư luận. Cảnh báo chủ yếu được phát ra khi đã có ca bệnh; việc theo dõi mạng xã hội làm thủ công khiến ngành khó phát hiện sớm tin đồn, dẫn đến đánh giá của chính cán bộ rằng quản lý tin giả còn chậm. Điều này chưa tương thích với nguyên tắc chuẩn bị từ trước khủng hoảng của mô hình CERC (Reynolds & Seeger, 2005; CDC, 2018).
Thứ ba, đối thoại hai chiềucó lúc chưa thực chất. Ngành có quy trình tiếp nhận phản ánh nhưng thiếu cơ chế chính thức để tiếp thu, phản hồi và điều chỉnh; đối thoại với người dân chưa thường xuyên; thủ tục hành chính trong cung cấp thông tin cho báo chí ở một số cơ sở còn rườm rà.
Các hạn chế trên có bốn nguyên nhân chính. Một là, mô hình kiêm nhiệm và biến động nhân sự sau sắp xếp bộ máy: đội ngũ làm truyền thông “chủ yếu kiêm nhiệm, số lượng cán bộ chuyên trách còn hạn chế” (PVS5, nam, CDC Quảng Ninh); “cán bộ phụ trách công tác truyền thông thì thường xuyên bị thay đổi nên công tác thường bị gián đoạn” (PVS4, nữ, CDC Cà Mau). Hai là, nguồn lực hạn chế - rào cản được đồng ý nhiều nhất (M = 4,00); việc phân bổ nguồn lực cho phối hợp truyền thông là chỉ báo thấp nhất về cơ chế phối hợp (M = 3,43). Ba là, đào tạo chưa thường xuyên: một phần ba số cán bộ chưa từng được tập huấn về truyền thông, trong khi năng lực tăng rõ theo mức độ được tập huấn (điểm chung 3,29 - 3,46 - 3,76; F(2, 303) = 7,18; p = 0,001), đặc biệt ở sự tự tin phát ngôn (3,04 - 3,17 - 3,68; F(2, 303) = 8,35; p < 0,001). Bốn là, phối hợp liên ngành còn lỏng lẻo với các bệnh lây truyền từ động vật sang người như cúm A/H5N1. Dù đã có Thông tư liên tịch số 16/2013/TTLT-BYT-BNNPTNT hướng dẫn phối hợp (Thông tư liên tịch số 16/2013/TTLT-BYT-BNNPTNT, 2013), một cán bộ ngành thú y thừa nhận việc làm truyền thông chung “của hai ngành hiện nay là nó vẫn của ngành nào nó vẫn theo ngành đấy… Bên y tế thấy nguy cơ cao thì truyền thông rất là mạnh nhưng bên thú y thì lại bảo không cao lắm” (PVS13, nam, cán bộ ngành thú y). Sự thiếu thống nhất này dễ dẫn tới thông điệp không đồng bộ gửi tới người dân.
So với các nghiên cứu trước, kết quả trên vừa có điểm tương đồng vừa bổ sung góc nhìn mới. Lê Thu Hà (2024) đặt ra yêu cầu phát triển lực lượng truyền thông chính sách chuyên trách, chuyên nghiệp; bài viết cho thấy hệ quả cụ thể của mô hình kiêm nhiệm trong ngành y tế là khoảng cách năng lực rõ rệt giữa tuyến trên và tuyến cơ sở. Các nghiên cứu về quản lý đại dịch thông tin (Eysenbach, 2020; Nguyễn Thị Minh Hiền, 2021) nhấn mạnh yêu cầu giám sát và phản ứng nhanh với thông tin sai lệch; kết quả cho thấy đây vẫn là khâu yếu do thiếu công cụ theo dõi dư luận tự động. Nếu Đinh Hồng Nhung và Phạm Vân Anh (2021) ghi nhận mạng xã hội là bước tiến mới trong truyền thông của Bộ Y tế, thì bài viết bổ sung rằng sự hiện diện trên nền tảng số chưa đồng nghĩa với năng lực phân tích dư luận để ra quyết định truyền thông.
3.1.7. Giải pháp nâng cao năng lực truyền thông chính sách của cán bộ y tế thời gian tới
Một là, kiện toàn thể chế và tổ chức bộ máy làm công tác truyền thông chính sách y tế. Nhóm giải pháp này nhằm khắc phục nguyên nhân về mô hình kiêm nhiệm, nguồn lực và phối hợp.
Thứ nhất, xác lập vị trí việc làm chuyên trách về truyền thông chính sách tại Văn phòng Bộ Y tế, các cục, vụ đầu mối và CDC các tỉnh, thành phố; ở tuyến cơ sở, bố trí ít nhất một đầu mối được đào tạo, có chế độ hỗ trợ cho người kiêm nhiệm và hạn chế luân chuyển.
Thứ hai, bố trí dòng kinh phí riêng cho truyền thông chính sách trong kế hoạch phòng, chống dịch hằng năm, qua đó cụ thể hóa yêu cầu của Chỉ thị số 07/CT-TTg (2023).
Thứ ba, cụ thể hóa Quy chế phát ngôn (Quyết định số 56/QĐ-BYT, 2023) thành quy trình phản ứng nhanh trong tình huống khẩn cấp: phân cấp, ủy quyền phát ngôn cho tuyến tỉnh; chuẩn bị sẵn bộ câu hỏi - trả lời theo kịch bản dịch bệnh; quy định thời hạn phản hồi báo chí.
Thứ tư, thiết lập cơ chế truyền thông chung giữa ngành y tế và ngành thú y theo tiếp cận Một sức khỏe (phối hợp liên ngành giữa sức khỏe con người, động vật và môi trường): thống nhất đánh giá nguy cơ, ra thông cáo chung khi xuất hiện ca bệnh cúm A/H5N1.
Thứ năm, đầu tư hệ thống theo dõi dư luận trực tuyến và xây dựng bộ chỉ số đánh giá hiệu quả truyền thông chính sách thay cho cách đánh giá dựa trên số lượng tin bài, lượt tiếp cận.
Hai là, đổi mới đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ làm công tác truyền thông chính sách y tế. Nhóm giải pháp này trực tiếp giải quyết khoảng cách năng lực giữa các tuyến.
Thứ nhất, xây dựng chương trình bồi dưỡng định kỳ theo năm tiêu chí năng lực ở Bảng 1, ưu tiên cán bộ tuyến cơ sở và nhóm chưa từng được tập huấn.
Thứ hai, đổi mới phương pháp theo hướng thực hành trên tình huống thật: diễn tập phát ngôn; chuyển văn bản chính sách thành thông điệp cho người dân địa phương; xử lý tin giả; dựng video ngắn, đồ họa đơn giản bằng điện thoại. Các sản phẩm thành công như thông điệp 5K, chuỗi tư vấn trực tuyến của bệnh viện cần được đúc kết thành tình huống mẫu để giảng dạy.
Thứ ba, chú trọng xây dựng sự tự tin cho cán bộ nữ ở tuyến cơ sở thông qua diễn tập theo nhóm nhỏ và cơ chế kèm cặp.
Thứ tư, xây dựng kho thông điệp, sản phẩm mẫu dùng chung để tuyến cơ sở chỉnh sửa theo đặc điểm địa phương.
Thứ năm, phối hợp với các cơ sở đào tạo báo chí - truyền thông để tổ chức bồi dưỡng, gắn kết quả bồi dưỡng với đánh giá, sử dụng cán bộ.
3.2. Thảo luận
Dưới ánh sáng của các mô hình lý thuyết truyền thông hiện đại, kết quả nghiên cứu đã phác họa bức tranh đa chiều về năng lực truyền thông chính sách của đội ngũ cán bộ y tế Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025. Điểm nổi bật nhất là sự song hành giữa tính ưu việt ở tầm chiến lược hệ thống và những điểm nghẽn ở năng lực tác nghiệp tuyến cơ sở. Ở cấp độ vĩ mô và Trung ương, ngành y tế đã chứng minh sự trưởng thành vượt bậc trong việc kiến tạo các chiến dịch truyền thông lớn, định hình hệ sinh thái số đa nền tảng và duy trì tính minh bạch, chủ động trong phát ngôn cấp cao.
Thành công của các thông điệp định hướng hành vi (như 5K, chiến dịch vắc-xin) minh chứng rằng khi có sự đầu tư bài bản và cơ chế lãnh đạo thông suốt, truyền thông chính sách y tế hoàn toàn đủ sức tạo ra sự đồng thuận xã hội to lớn. Điều này củng cố quan điểm của WHO về tầm quan trọng của việc thống nhất thông điệp trong tình trạng khẩn cấp.
Tuy nhiên, khi đối chiếu với mô hình quan hệ công chúng hai chiều đối xứng (Grunig & Hunt, 1984) và mô hình truyền thông nguy cơ CERC (Reynolds & Seeger, 2005), những hạn chế cốt lõi đã bộc lộ rõ rệt.
Một là, khoảng cách năng lực giữa các tuyến hành chính cho thấy sự bất cập của mô hình kiêm nhiệm. Khi bộ máy tinh gọn nhưng thiếu vị trí việc làm chuyên trách, gánh nặng truyền thông đè nặng lên vai cán bộ cơ sở - những người trực tiếp tiếp xúc với nhân dân nhưng lại thiếu hụt trầm trọng về kỹ năng biên tập thông điệp, kỹ năng phát ngôn và sự tự tin đối thoại. Điều này dẫn đến tình trạng “thông điệp tốt ở cấp trên nhưng bị khúc xạ hoặc mất tác dụng khi truyền xuống cơ sở”.
Hai là, tư duy truyền thông nguy cơ vẫn nặng tính phản ứng sự kiện thay vì chủ động phòng ngừa. Sự thiếu vắng các hoạt động truyền thông thường xuyên đối với các dịch bệnh ít phổ biến như cúm A/H5N1 trong giai đoạn bình thường, kết hợp với việc thiếu hụt các công cụ lắng nghe mạng xã hội (social listening) tự động, khiến ngành y tế đôi khi rơi vào thế bị động trước các luồng thông tin nhiễu loạn. Truyền thông số của ngành mới dừng lại ở mức độ “hiện diện và phân phối thông tin” chứ chưa đạt đến trình độ “phân tích dữ liệu dư luận để hoạch định quyết định chiến lược”.
Ba là, sự đứt gãy trong phối hợp liên ngành theo cách tiếp cận “Một sức khỏe” (đặc biệt giữa y tế và thú y trong phòng chống dịch bệnh lây từ động vật sang người) phản ánh tư duy quản lý cát cứ, mạnh ngành nào ngành nấy làm. Điều này tiềm ẩn nguy cơ phát đi những thông điệp không đồng bộ, gây hoang mang cho công chúng.
Từ những lát cắt thực tiễn đó, bài viết khẳng định rằng: nâng cao năng lực truyền thông chính sách y tế không thể giải quyết bằng các giải pháp chắp vá hay phong trào hình thức. Đào tạo nâng cao kỹ năng cho cá nhân phải đi liền với việc chuẩn hóa quy trình pháp lý, bố trí nguồn lực tài chính độc lập, thiết lập cơ chế phản ứng nhanh và hoàn thiện công cụ kỹ thuật số. Chỉ khi nào truyền thông chính sách được định vị là một cấu phần bắt buộc, chuyên nghiệp trong quản trị công của ngành y tế, hệ thống mới có thể sẵn sàng ứng phó hiệu quả với các cuộc khủng hoảng y tế công cộng trong tương lai.
4. Kết luận
Nghiên cứu đã phác họa bức tranh toàn cảnh về năng lực truyền thông chính sách của cán bộ y tế Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, làm nổi bật sự chuyển biến tích cực trong tư duy minh bạch thông tin và khả năng thiết lập các chiến dịch quy mô lớn ở cấp trung ương. Song, thực tiễn chống dịch COVID-19 và cúm A/H5N1 cũng vạch ra những điểm nghẽn mang tính hệ thống: khoảng cách năng lực sâu sắc giữa các tuyến hành chính, sự bất cập của mô hình kiêm nhiệm, tư duy truyền thông nguy cơ còn mang tính phản ứng sự kiện và hạn chế trong ứng dụng công nghệ lắng nghe dư luận. Để bịt kín các khoảng trống này, việc đổi mới truyền thông y tế phải được tiến hành đồng bộ trên ba trụ cột: (1) Kiện toàn thể chế, bố trí vị trí việc làm chuyên trách và nguồn lực độc lập cho hệ thống truyền thông từ trung ương đến cơ sở; (2) Chuyển dịch mạnh mẽ từ truyền thông phản ứng sang truyền thông nguy cơ chủ động và quản trị thông tin dựa trên dữ liệu số; và (3) Chuẩn hóa chương trình đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng thực chiến cho đội ngũ cán bộ tuyến đầu. Chỉ khi truyền thông chính sách được định vị là một cấu phần cốt lõi trong quản trị y tế công cộng, hệ thống mới có thể củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân và chủ động ứng phó hiệu quả với các thách thức dịch bệnh trong kỷ nguyên mới./.
Tài liệu tham khảo:
Centers for Disease Control and Prevention [CDC]. (2018). Crisis and emergency risk communication (CERC): Introduction. U.S. Department of Health and Human Services.
Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 21/3/2023 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác truyền thông chính sách.
Đinh Hồng Nhung & Phạm Vân Anh. (2021). Sử dụng mạng xã hội - bước tiến mới trong hoạt động truyền thông của Bộ Y tế Việt Nam trong thời kì dịch bệnh Covid-19. Trong Kỷ yếu hội thảo Quản lý thông tin Covid-19 (tr.78-90). Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
Eysenbach, G. (2020). How to fight an infodemic: The four pillars of infodemic management. Journal of Medical Internet Research, 22(6), e21820. https://doi.org/10.2196/21820
Grunig, J. E., & Hunt, T. (1984). Managing public relations. Holt, Rinehart and Winston.
Hair, J. F., Black, W. C., Babin, B. J., & Anderson, R. E. (2010). Multivariate data analysis (7th ed.). Pearson Prentice Hall.
Lê Thu Hà. (2024). Phát triển lực lượng truyền thông chính sách chuyên trách, chuyên nghiệp tại Việt Nam hiện nay. Tạp chí Lý luận chính trị điện tử. https://lyluanchinhtri.vn/phat-trien-luc-luong-truyen-thong-chinh-sach-chuyen-trach-chuyen-nghiep-tai-viet-nam-hien-nay-4265.html
Lương Ngọc Vĩnh. (2022). Truyền thông chính sách trong chu trình chính sách công ở Việt Nam hiện nay. Tạp chí Lý luận chính trị, (535), 88-93.
Nghị định số 95/2022/NĐ-CP ngày 15/11/2022 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế.
Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 của Chính phủ ban hành Quy định tạm thời “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19”.
Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân trong tình hình mới.
Nghị quyết số 21/NQ-CP ngày 26/02/2021 của Chính phủ về mua và sử dụng vắc xin phòng COVID-19.
Nguyễn Thị Minh Hiền. (2021). Đại dịch thông tin và những biện pháp quản lý trong bối cảnh dịch bệnh. Trong Kỷ yếu hội thảo Quản lý thông tin Covid-19 (tr.496-509). Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
Quyết định số 407/QĐ-TTg ngày 30/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tổ chức truyền thông chính sách có tác động lớn đến xã hội trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn 2022 - 2027”.
Quyết định số 56/QĐ-BYT ngày 10/01/2023 của Bộ Y tế ban hành Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của Bộ Y tế.
Reynolds, B., & Seeger, M. W. (2005). Crisis and emergency risk communication as an integrative model. Journal of Health Communication, 10(1), 43-55. https://doi.org/10.1080/1081073059 0904571
Thông tư liên tịch số 16/2013/TTLT-BYT-BNNPTNT ngày 27/5/2013 của Bộ Y tế và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn phối hợp phòng, chống bệnh lây truyền từ động vật sang người.
Thông tư số 26/2017/TT-BYT ngày 26/6/2017 của Bộ Y tế hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
World Health Organization [WHO]. (2017a). Communicating risk in public health emergencies: A WHO guideline for emergency risk communication (ERC) policy and practice. World Health Organization.
World Health Organization [WHO]. (2017b). WHO strategic communications framework for effective communications. World Health Organization.
World Health Organization [WHO]. (2021). WHO competency framework: Building a response workforce to manage infodemics. World Health Organization.
truyền thông chính sách, năng lực truyền thông, cán bộ y tế, bệnh truyền nhiễm đường hô hấp, truyền thông nguy cơ.
policy communication, communication capacity, healthcare personnel, respiratory infectious diseases, risk communication
Centers for Disease Control and Prevention [CDC]. (2018). Crisis and emergency risk communication (CERC): Introduction. U.S. Department of Health and Human Services.
Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 21/3/2023 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác truyền thông chính sách.
Đinh Hồng Nhung & Phạm Vân Anh. (2021). Sử dụng mạng xã hội - bước tiến mới trong hoạt động truyền thông của Bộ Y tế Việt Nam trong thời kì dịch bệnh Covid-19. Trong Kỷ yếu hội thảo Quản lý thông tin Covid-19 (tr.78-90). Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
Eysenbach, G. (2020). How to fight an infodemic: The four pillars of infodemic management. Journal of Medical Internet Research, 22(6), e21820. https://doi.org/10.2196/21820
Grunig, J. E., & Hunt, T. (1984). Managing public relations. Holt, Rinehart and Winston.
Hair, J. F., Black, W. C., Babin, B. J., & Anderson, R. E. (2010). Multivariate data analysis (7th ed.). Pearson Prentice Hall.
Lê Thu Hà. (2024). Phát triển lực lượng truyền thông chính sách chuyên trách, chuyên nghiệp tại Việt Nam hiện nay. Tạp chí Lý luận chính trị điện tử. https://lyluanchinhtri.vn/phat-trien-luc-luong-truyen-thong-chinh-sach-chuyen-trach-chuyen-nghiep-tai-viet-nam-hien-nay-4265.html
Lương Ngọc Vĩnh. (2022). Truyền thông chính sách trong chu trình chính sách công ở Việt Nam hiện nay. Tạp chí Lý luận chính trị, (535), 88-93.
Nghị định số 95/2022/NĐ-CP ngày 15/11/2022 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế.
Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 của Chính phủ ban hành Quy định tạm thời “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19”.
Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân trong tình hình mới.
Nghị quyết số 21/NQ-CP ngày 26/02/2021 của Chính phủ về mua và sử dụng vắc xin phòng COVID-19.
Nguyễn Thị Minh Hiền. (2021). Đại dịch thông tin và những biện pháp quản lý trong bối cảnh dịch bệnh. Trong Kỷ yếu hội thảo Quản lý thông tin Covid-19 (tr.496-509). Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
Quyết định số 407/QĐ-TTg ngày 30/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tổ chức truyền thông chính sách có tác động lớn đến xã hội trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn 2022 - 2027”.
Quyết định số 56/QĐ-BYT ngày 10/01/2023 của Bộ Y tế ban hành Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của Bộ Y tế.
Reynolds, B., & Seeger, M. W. (2005). Crisis and emergency risk communication as an integrative model. Journal of Health Communication, 10(1), 43-55. https://doi.org/10.1080/1081073059 0904571
Thông tư liên tịch số 16/2013/TTLT-BYT-BNNPTNT ngày 27/5/2013 của Bộ Y tế và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn phối hợp phòng, chống bệnh lây truyền từ động vật sang người.
Thông tư số 26/2017/TT-BYT ngày 26/6/2017 của Bộ Y tế hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
World Health Organization [WHO]. (2017a). Communicating risk in public health emergencies: A WHO guideline for emergency risk communication (ERC) policy and practice. World Health Organization.
World Health Organization [WHO]. (2017b). WHO strategic communications framework for effective communications. World Health Organization.
World Health Organization [WHO]. (2021). WHO competency framework: Building a response workforce to manage infodemics. World Health Organization.
1. Đặt vấn đề
Đại dịch COVID - 19 cùng nguy cơ tái xuất hiện của cúm A/H5N1 trong giai đoạn 2020-2025 đã đặt hệ thống y tế Việt Nam trước những thách thức chưa từng có về truyền thông. Trong bối cảnh khẩn cấp y tế công cộng, việc truyền đạt thông tin minh bạch, kịp thời và chính xác đóng vai trò là cấu phần cốt lõi của chiến lược ứng phó, trực tiếp chi phối niềm tin và sự tuân thủ của cộng đồng. Song hành với áp lực kiểm soát dịch bệnh là nhiệm vụ quản lý đại dịch thông tin (infodemic) trước sự bùng nổ của thông tin sai lệch trên không gian mạng.
Thể hóa các chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước - tiêu biểu là Nghị quyết số 20 - NQ/TW về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân, Quyết định số 407/QĐ - TTg và Chỉ thị số 07/CT - TTg về tăng cường truyền thông chính sách - ngành y tế đã triển khai nhiều chiến dịch truyền thông quy mô lớn như thông điệp 5K, chính sách vắc-xin, quy định thích ứng an toàn cùng các hướng dẫn chuyên môn kịp thời. Tuy nhiên, quá trình này diễn ra đồng thời với sự tinh gọn bộ máy: Vụ Truyền thông và Thi đua, khen thưởng (Bộ Y tế) được giải thể, chức năng chuyển về Văn phòng Bộ, trong khi tuyến tỉnh sáp nhập trung tâm y tế dự phòng. Hệ quả tất yếu là lực lượng chuyên trách bị thu hẹp, hiện tượng kiêm nhiệm trở nên phổ biến, làm gia tăng khoảng cách năng lực thực thi giữa các cấp.
Dưới góc nhìn khoa học truyền thông, truyền thông chính sách là quá trình tương tác hai chiều gắn liền với toàn bộ chu trình công vụ. Năng lực truyền thông của cán bộ y tế không chỉ dừng lại ở việc phát đi thông cáo mà đòi hỏi tư duy phân tích chính sách, kỹ năng chuyển tải thông điệp, nghệ thuật đối thoại, ứng dụng công nghệ số và quản trị rủi ro thông tin. Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý thông tin dịch bệnh, việc đánh giá toàn diện năng lực của chính đội ngũ chủ thể thực thi - dựa trên sự đối chiếu đa chiều giữa sản phẩm thực tế, tự đánh giá và phỏng vấn sâu - vẫn còn là một khoảng trống khoa học cần được lấp đầy.
Bài viết tập trung giải quyết hai câu hỏi cốt lõi: Năng lực truyền thông chính sách của cán bộ y tế giai đoạn 2020 - 2025 được thể hiện như thế nào qua thực tiễn hoạt động, và những điểm nghẽn nào cần tháo gỡ? Qua đó, nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để kiện toàn đội ngũ, đáp ứng yêu cầu đổi mới công tác truyền thông y tế trong tình hình mới.
2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu vận dụng nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp linh hoạt phương pháp định tính và định lượng nhằm bảo đảm tính khách quan, toàn diện. Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong giai đoạn 2020 - 2025, tập trung vào hai trường hợp tiêu biểu: COVID -19 (đại diện cho khủng hoảng diện rộng, kéo dài) và cúm A/H5N1 (đại diện cho dịch bệnh khu trú có tỷ lệ tử vong cao).
Khung tiêu chí đánh giá được xây dựng dựa trên sự tích hợp các mô hình lý thuyết uy tín quốc tế, bao gồm: mô hình quan hệ công chúng hai chiều đối xứng của Grunig & Hunt, mô hình truyền thông nguy cơ và khủng hoảng CERC, cùng các chuẩn năng lực của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Từ đó, bài viết thiết lập 5 tiêu chí trọng tâm: (1) Phân tích và chuyển tải chính sách thành thông điệp; (2) Sáng tạo sản phẩm truyền thông; (3) Phát ngôn, quan hệ báo chí và đối thoại công chúng; (4) Ứng dụng công nghệ số; (5) Truyền thông nguy cơ và xử lý khủng hoảng thông tin.
Để bảo đảm độ tin cậy và tính xác thực cao, nghiên cứu sử dụng phương pháp đối chiếu tam giác dữ liệu từ ba nguồn độc lập:
Thứ nhất, phân tích nội dung định lượng 1.615 tin bài trên Báo Sức khỏe và Đời sống, 653 đơn vị ấn phẩm/chiến dịch trên Cổng Thông tin điện tử và hệ sinh thái số của Bộ Y tế, được xử lý tự động bằng Python kết hợp lấy mẫu hệ thống.
Thứ hai, khảo sát xã hội học bằng bảng hỏi đối với 306 cán bộ truyền thông y tế thuộc ba cấp (trung ương, tỉnh, cơ sở) triển khai trong năm 2025, với các thang đo đạt độ tin cậy cao (Cronbach’s Alpha từ 0,812 đến 0,973).
Thứ ba, phỏng vấn sâu bán cấu trúc 27 chuyên gia, nhà quản lý, phóng viên báo chí và người làm thực tiễn. Dữ liệu khảo sát được xử lý bằng phần mềm SPSS thông qua thống kê mô tả, kiểm định t và phân tích phương sai ANOVA để làm rõ các khoảng cách năng lực giữa các tuyến.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Kết quả nghiên cứu
Các sản phẩm và số liệu tin bài nêu trong mục này, nếu không ghi nguồn khác, là kết quả phân tích nội dung của tác giả. Bảng 2 cho thấy sự phân hóa rõ giữa hai cấp độ đánh giá. Ở cấp độ tổ chức, các chỉ báo phản ánh tính công khai, minh bạch thông tin và vai trò của người phát ngôn đạt mức khá cao (M từ 4,05 đến 4,09), trong khi các chỉ báo gắn với cơ chế đối thoại và công cụ theo dõi dư luận chỉ ở mức khá (M từ 3,53 đến 3,62). Ở cấp độ cá nhân, điểm tự đánh giá dao động từ mức trung bình đến khá (M từ 3,26 đến 3,82); thấp nhất là tự tin phát ngôn, đối thoại (M = 3,26) và xử lý phản ứng của công chúng (M = 3,36).
Bảng 2. Một số chỉ báo năng lực truyền thông chính sách theo tiêu chí (N = 306)
|
Tiêu chí |
Chỉ báo |
M |
ĐLC |
|
(1) Phân tích, chuyển tải chính sách |
Nắm vững quy trình truyền thông chính sách y tế |
3,53 |
0,98 |
|
Biên tập thông điệp phù hợp từng nhóm công chúng |
3,49 |
1,07 |
|
|
Xác định và đánh giá rủi ro truyền thông |
3,42 |
0,99 |
|
|
Thông tin do cơ quan công bố được trình bày dễ hiểu |
4,09 |
0,85 |
|
|
(2) Sáng tạo sản phẩm |
Kỹ năng viết, nói và trình bày trước công chúng |
3,50 |
1,04 |
|
Sử dụng công cụ thiết kế, dựng video cơ bản |
3,54 |
1,05 |
|
|
(3) Phát ngôn, báo chí, đối thoại |
Người phát ngôn có kỹ năng trình bày thuyết phục |
4,09 |
0,86 |
|
Đồng ý rằng “đôi khi người phát ngôn phản ứng còn chậm” |
3,57 |
1,01 |
|
|
Tự tin phát ngôn và đối thoại với công chúng |
3,26 |
1,14 |
|
|
Cơ quan thường xuyên tổ chức đối thoại trực tiếp/trực tuyến |
3,53 |
1,00 |
|
|
(4) Công nghệ số |
Sử dụng thành thạo mạng xã hội trong công việc |
3,82 |
0,87 |
|
Đọc hiểu, phân tích số liệu truyền thông |
3,71 |
0,93 |
|
|
Cơ quan ứng dụng công cụ theo dõi dư luận trên mạng xã hội |
3,62 |
0,99 |
|
|
(5) Nguy cơ và khủng hoảng |
Hiểu rõ nguyên tắc truyền thông trong tình huống khẩn cấp |
3,56 |
1,02 |
|
Xử lý phản ứng của công chúng nhanh và hiệu quả |
3,36 |
1,03 |
|
|
Đơn vị kịp thời đính chính khi có sai sót thông tin |
4,05 |
0,89 |
Ghi chú: M: điểm trung bình; ĐLC: độ lệch chuẩn
Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu khảo sát của tác giả
3.1.1. Năng lực phân tích và chuyển tải chính sách thành thông điệp
Ở cấp trung ương, năng lực này được thể hiện rõ qua sản phẩm. Thông điệp 5K do Bộ Y tế đưa ra năm 2020 đã cô đọng nhiều biện pháp phòng dịch thành công thức ngắn, dễ nhớ, gắn với hành vi. Khi Chính phủ chuyển sang trạng thái thích ứng an toàn (Nghị quyết số 128/NQ-CP, 2021), nhóm tin bài Tư vấn y tế (353 bài) và Chính sách y tế (281 bài) trong mẫu phân tích tập trung giải thích quy định mới thành hướng dẫn cụ thể, tiêu biểu là loạt bài hướng dẫn người mắc COVID-19 điều trị tại nhà. Trong khảo sát, 68,5% cán bộ chọn chiến dịch tiêm chủng vắc xin COVID-19 và 15,2% chọn chiến dịch 5K là hoạt động truyền thông thành công nhất tại đơn vị.
Tuy nhiên, tự đánh giá năng lực cá nhân ở tiêu chí này chỉ ở mức khá thấp (M từ 3,42 đến 3,53), trong khi mức độ dễ hiểu của thông tin do cơ quan công bố đạt 4,09 (Bảng 2). Khoảng cách giữa các tuyến rất rõ: với kỹ năng biên tập thông điệp, nhóm quản lý ở trung ương, tỉnh đạt M = 3,79, còn nhóm trực tiếp thực thi ở cơ sở chỉ đạt M = 3,19 (F(1, 304) = 26,24; p < 0,001). Nói cách khác, thông điệp được thiết kế tốt ở tuyến trên nhưng khâu điều chỉnh cho phù hợp với người dân địa phương ở tuyến dưới còn yếu.
Phỏng vấn sâu làm rõ hai mặt của vấn đề. Một mặt, ngôn ngữ chuyên môn vẫn là rào cản ngay trong ngành: “Các xuất bản phẩm thường không được viết bằng ngôn ngữ truyền thông mà viết bằng ngôn ngữ chuyên môn y tế… khiến nhân viên tại cơ sở đôi khi vẫn khó hiểu” (PVS1, nữ, Nhà xuất bản Y học). Mặt khác, ở nơi cán bộ chủ động, thông điệp chuẩn đã được điều chỉnh sát với đời sống: “ở một số xã vùng sâu, tôi yêu cầu cán bộ nói theo cách dân dễ hiểu, như đeo khẩu trang khi đi đám tiệc… vùng đồng bào dân tộc hạn chế chữ thì tăng hình minh họa” (PVS4, nữ, CDC Cà Mau). Cách làm này đáp ứng yêu cầu dễ hiểu và có thể hành động của truyền thông y tế (WHO, 2017b), nhưng còn phụ thuộc vào sự chủ động của từng cá nhân hơn là quy trình chung của hệ thống.
3.1.2. Năng lực sáng tạo sản phẩm truyền thông chính sách
Giai đoạn 2020 - 2025 ghi nhận nhiều sản phẩm có sức lan tỏa. Bài hát và vũ điệu “Ghen Cô Vy” do Bộ Y tế phát hành đầu năm 2020 đã biến khuyến cáo rửa tay, đeo khẩu trang thành sản phẩm giải trí dễ chia sẻ. Chuỗi bản tin “Tin COVID hôm nay” trên Báo Sức khỏe và Đời sống được cập nhật hai lần mỗi ngày, cùng loạt đồ họa thông tin (infographic) về ca bệnh hằng ngày trên trang Facebook (fanpage) chính thức của Bộ Y tế, đã hình thành thói quen tìm đến nguồn tin chính thống của công chúng. Ở khối bệnh viện, Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh “triển khai 53 chương trình tư vấn trực tuyến giao lưu chuyên gia thu hút 1,9 triệu lượt tiếp cận” (PVS6, nữ, Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh).
Dù vậy, các sản phẩm nổi bật chủ yếu do đơn vị trung ương, cơ quan báo chí và bệnh viện lớn thực hiện. Tự đánh giá về kỹ năng viết, nói, trình bày (M = 3,50) và sử dụng công cụ thiết kế, dựng video cơ bản (M = 3,54) chỉ ở mức khá thấp; ở nhóm cán bộ cơ sở, kỹ năng viết, nói, trình bày chỉ đạt M = 3,26 so với 3,74 của nhóm quản lý (F(1, 304) = 17,02; p < 0,001). Tuyến cơ sở chủ yếu phân phối lại sản phẩm có sẵn do thiếu cả kỹ năng lẫn kinh phí: “Kinh phí thì có nhưng chưa đủ để sản xuất các sản phẩm truyền thông đa phương tiện chất lượng cao” (PVS4, nữ, CDC Cà Mau). Ở lĩnh vực thú y - lực lượng phối hợp trong phòng, chống cúm A/H5N1 - tình trạng tương tự: “100% là cán bộ có background là thú y, không được đào tạo bài bản chuyên sâu về kỹ năng truyền thông” (PVS12, nam, Cục Chăn nuôi và Thú y).
3.1.3. Năng lực phát ngôn, quan hệ báo chí và đối thoại với công chúng
Ở cấp trung ương, năng lực phát ngôn được thể chế hóa khá rõ. Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí (Quyết định số 56/QĐ-BYT, 2023) xác định thẩm quyền, trách nhiệm phát ngôn từ lãnh đạo Bộ đến người được ủy quyền; các cuộc họp báo của lãnh đạo Bộ được phát trực tiếp trên trang Facebook (fanpage) chính thức trong giai đoạn cao điểm dịch. Người phát ngôn được đánh giá có kỹ năng trình bày thuyết phục (M = 4,09), được lựa chọn đúng chuyên môn (M = 4,07) và có thông điệp được chuẩn bị kỹ (M = 4,09).
Tuy nhiên, tốc độ phản ứng là điểm yếu: mức đồng ý với nhận định “đôi khi người phát ngôn phản ứng còn chậm” đạt M = 3,57. Ở góc độ cá nhân, tự tin phát ngôn và đối thoại với công chúng là chỉ báo thấp nhất (M = 3,26), đặc biệt ở nhóm cán bộ cơ sở chỉ đạt M = 2,98 so với 3,54 ở nhóm quản lý (F(1, 304) = 19,87; p < 0,001). Cán bộ nữ - lực lượng chiếm đa số ở tuyến cơ sở - tự đánh giá thấp hơn cán bộ nam ở chỉ báo này (M = 3,05 so với 3,66; F(1, 304) = 21,97; p < 0,001). Do là dữ liệu tự đánh giá, chênh lệch này chủ yếu phản ánh mức độ tự tin.
Góc nhìn của báo chí cho thấy rõ hơn những điểm nghẽn ở tuyến dưới: “Nhiều cơ sở y tế chưa cởi mở… phóng viên phải đi hỏi vòng hoặc đòi hỏi phải làm công văn giấy tờ rất mất thời gian” (PVS8, nữ, nhà báo Báo Nhân Dân). Về đối thoại, việc tổ chức đối thoại trực tiếp hoặc trực tuyến với người dân chưa thường xuyên (M = 3,53) và mức đồng ý với nhận định cơ quan còn thiếu cơ chế tiếp thu phản hồi chính thức khá cao (M = 3,65). Đối chiếu với mô hình của Grunig và Hunt (1984), hoạt động truyền thông của ngành mới mạnh ở khâu công bố thông tin, chưa thực sự chuyển sang trao đổi hai chiều.
3.1.4. Năng lực ứng dụng công nghệ số
Ngành y tế đã hình thành hệ sinh thái truyền thông đa nền tảng với sự phân vai tương đối rõ: báo điện tử lưu giữ văn bản, số liệu chính thức; Facebook (fanpage) phát trực tiếp họp báo, lan tỏa thông điệp và chiến dịch (như chiến dịch “Vì một Việt Nam vững vàng và khỏe mạnh” cuối năm 2022); YouTube cung cấp video hướng dẫn; Zalo gửi thông báo trực tiếp đến người dùng về lịch tiêm chủng và cảnh báo khẩn, như khi xuất hiện ca tử vong do cúm A/H5N1 tại Khánh Hòa tháng 3/2024. Kỹ năng sử dụng mạng xã hội trong công việc đạt mức khá (M = 3,82) và không có khác biệt đáng kể giữa cán bộ quản lý và cán bộ cơ sở về năng lực số nói chung (F(1, 304) = 2,33; p = 0,128).
Điểm đáng chú ý là việc theo dõi dư luận trực tuyến. Cán bộ tự đánh giá việc cơ quan ứng dụng công cụ theo dõi dư luận trên mạng xã hội (social listening - công cụ tự động thu thập, phân tích ý kiến của người dùng mạng về một chủ đề) ở mức khá (M = 3,62), nhưng phỏng vấn sâu cho thấy thực tế khác: Cổng Thông tin điện tử Bộ Y tế chưa sử dụng các công cụ theo dõi dư luận tự động (PVS2, nam, Cổng Thông tin điện tử Bộ Y tế); ở địa phương, việc này làm thủ công: “Chúng tôi cũng theo dõi mạng xã hội mỗi ngày để nắm tình hình” (PVS4, nữ, CDC Cà Mau). Như vậy, năng lực số của ngành mới dừng ở mức hiện diện và phân phối thông tin, chưa đạt tới mức chủ động phân tích dư luận để ra quyết định truyền thông.
3.1.5. Năng lực truyền thông nguy cơ và xử lý khủng hoảng thông tin
Truyền thông nguy cơ là việc trao đổi thông tin, lời khuyên và ý kiến theo thời gian thực giữa chuyên gia, cơ quan chức năng với người dân đang đối mặt với mối đe dọa sức khỏe, giúp họ tự đưa ra quyết định bảo vệ bản thân (WHO, 2017a). Mô hình CERC nhấn mạnh truyền thông cần bắt đầu từ giai đoạn trước khủng hoảng, không chỉ khi sự cố đã xảy ra (Reynolds & Seeger, 2005). Dữ liệu phân tích nội dung (Bảng 3) cho thấy hai mô thức khác nhau.
Bảng 3. Số tin bài về COVID-19 và cúm A/H5N1 trên Báo Sức khỏe và Đời sống theo năm (mẫu phân tích)
|
Năm |
2020 |
2021 |
2022 |
2023 |
2024 |
2025 |
|
COVID-19 |
130 |
593 |
458 |
184 |
95 |
36 |
|
Cúm A/H5N1 |
3 |
5 |
13 |
29 |
49 |
15 |
Nguồn: Kết quả phân tích nội dung của tác giả
Với COVID-19, truyền thông duy trì liên tục, cường độ cao trong suốt chu kỳ dịch. Với cúm A/H5N1, truyền thông gần như vắng bóng giai đoạn 2020 - 2021 và chỉ tăng mạnh khi xuất hiện ca bệnh cụ thể, như các tin bài khẩn về bệnh nhân cúm A/H5N1 tử vong tại Khánh Hòa tháng 3/2024. Cách làm này tập trung nguồn lực vào thời điểm then chốt, nhưng cho thấy truyền thông nguy cơ còn nặng tính phản ứng theo sự kiện, thiếu hoạt động nâng cao hiểu biết thường xuyên ở giai đoạn bình thường.
Kết quả khảo sát củng cố nhận định này. Việc đính chính thông tin sai sót được đánh giá tốt (M = 4,05), nhưng kỹ năng xử lý phản ứng của công chúng nhanh, hiệu quả chỉ ở mức trung bình (M = 3,36; nhóm cơ sở M = 3,15). Có 42% cán bộ cho rằng quản lý tin giả trên mạng còn chậm và 28,5% cho rằng truyền thông nguy cơ chưa được chuẩn bị sẵn sàng.
3.1.6. Những hạn chế và nguyên nhân về năng lực truyền thông chính sách phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm lây qua đường hô hấp của cán bộ y tế Việt Nam giai đoạn 2020-2025
Có thể khái quát thực trạng năng lực truyền thông chính sách của cán bộ y tế là mạnh ở cấp hệ thống, yếu ở kỹ năng tác nghiệp của cán bộ tuyến cơ sở. Ngành đã bảo đảm công khai thông tin, thống nhất thông điệp giữa các cấp (M = 3,88) và có đội ngũ phát ngôn cấp cao được đánh giá tốt; nhưng còn ba hạn chế chủ yếu.
Thứ nhất, khoảng cách năng lực giữa tuyến trên và tuyến cơ sở. Ở tất cả các kỹ năng tác nghiệp then chốt, cán bộ cơ sở - những người trực tiếp tiếp xúc với người dân - đều có điểm thấp hơn rõ rệt (Bảng 4). Điểm trung bình chung về năng lực cá nhân của nhóm cơ sở là 3,29, thấp hơn nhóm quản lý (3,67) (F(1, 304) = 15,17; p < 0,001).
Bảng 4. So sánh một số kỹ năng tác nghiệp theo vị trí công tác (điểm trung bình)
|
Kỹ năng |
Quản lý (trung ương, tỉnh) |
Thực thi (cơ sở) |
|
Biên tập thông điệp phù hợp công chúng |
3,79 |
3,19 |
|
Viết, nói, trình bày trước công chúng |
3,74 |
3,26 |
|
Xử lý phản ứng của công chúng |
3,57 |
3,15 |
|
Tự tin phát ngôn, đối thoại |
3,54 |
2,98 |
|
Điểm chung năng lực cá nhân |
3,67 |
3,29 |
Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu khảo sát của tác giả
Thứ hai, truyền thông nguy cơ còn mang tính phản ứng và thiếu công cụ theo dõi dư luận. Cảnh báo chủ yếu được phát ra khi đã có ca bệnh; việc theo dõi mạng xã hội làm thủ công khiến ngành khó phát hiện sớm tin đồn, dẫn đến đánh giá của chính cán bộ rằng quản lý tin giả còn chậm. Điều này chưa tương thích với nguyên tắc chuẩn bị từ trước khủng hoảng của mô hình CERC (Reynolds & Seeger, 2005; CDC, 2018).
Thứ ba, đối thoại hai chiềucó lúc chưa thực chất. Ngành có quy trình tiếp nhận phản ánh nhưng thiếu cơ chế chính thức để tiếp thu, phản hồi và điều chỉnh; đối thoại với người dân chưa thường xuyên; thủ tục hành chính trong cung cấp thông tin cho báo chí ở một số cơ sở còn rườm rà.
Các hạn chế trên có bốn nguyên nhân chính. Một là, mô hình kiêm nhiệm và biến động nhân sự sau sắp xếp bộ máy: đội ngũ làm truyền thông “chủ yếu kiêm nhiệm, số lượng cán bộ chuyên trách còn hạn chế” (PVS5, nam, CDC Quảng Ninh); “cán bộ phụ trách công tác truyền thông thì thường xuyên bị thay đổi nên công tác thường bị gián đoạn” (PVS4, nữ, CDC Cà Mau). Hai là, nguồn lực hạn chế - rào cản được đồng ý nhiều nhất (M = 4,00); việc phân bổ nguồn lực cho phối hợp truyền thông là chỉ báo thấp nhất về cơ chế phối hợp (M = 3,43). Ba là, đào tạo chưa thường xuyên: một phần ba số cán bộ chưa từng được tập huấn về truyền thông, trong khi năng lực tăng rõ theo mức độ được tập huấn (điểm chung 3,29 - 3,46 - 3,76; F(2, 303) = 7,18; p = 0,001), đặc biệt ở sự tự tin phát ngôn (3,04 - 3,17 - 3,68; F(2, 303) = 8,35; p < 0,001). Bốn là, phối hợp liên ngành còn lỏng lẻo với các bệnh lây truyền từ động vật sang người như cúm A/H5N1. Dù đã có Thông tư liên tịch số 16/2013/TTLT-BYT-BNNPTNT hướng dẫn phối hợp (Thông tư liên tịch số 16/2013/TTLT-BYT-BNNPTNT, 2013), một cán bộ ngành thú y thừa nhận việc làm truyền thông chung “của hai ngành hiện nay là nó vẫn của ngành nào nó vẫn theo ngành đấy… Bên y tế thấy nguy cơ cao thì truyền thông rất là mạnh nhưng bên thú y thì lại bảo không cao lắm” (PVS13, nam, cán bộ ngành thú y). Sự thiếu thống nhất này dễ dẫn tới thông điệp không đồng bộ gửi tới người dân.
So với các nghiên cứu trước, kết quả trên vừa có điểm tương đồng vừa bổ sung góc nhìn mới. Lê Thu Hà (2024) đặt ra yêu cầu phát triển lực lượng truyền thông chính sách chuyên trách, chuyên nghiệp; bài viết cho thấy hệ quả cụ thể của mô hình kiêm nhiệm trong ngành y tế là khoảng cách năng lực rõ rệt giữa tuyến trên và tuyến cơ sở. Các nghiên cứu về quản lý đại dịch thông tin (Eysenbach, 2020; Nguyễn Thị Minh Hiền, 2021) nhấn mạnh yêu cầu giám sát và phản ứng nhanh với thông tin sai lệch; kết quả cho thấy đây vẫn là khâu yếu do thiếu công cụ theo dõi dư luận tự động. Nếu Đinh Hồng Nhung và Phạm Vân Anh (2021) ghi nhận mạng xã hội là bước tiến mới trong truyền thông của Bộ Y tế, thì bài viết bổ sung rằng sự hiện diện trên nền tảng số chưa đồng nghĩa với năng lực phân tích dư luận để ra quyết định truyền thông.
3.1.7. Giải pháp nâng cao năng lực truyền thông chính sách của cán bộ y tế thời gian tới
Một là, kiện toàn thể chế và tổ chức bộ máy làm công tác truyền thông chính sách y tế. Nhóm giải pháp này nhằm khắc phục nguyên nhân về mô hình kiêm nhiệm, nguồn lực và phối hợp.
Thứ nhất, xác lập vị trí việc làm chuyên trách về truyền thông chính sách tại Văn phòng Bộ Y tế, các cục, vụ đầu mối và CDC các tỉnh, thành phố; ở tuyến cơ sở, bố trí ít nhất một đầu mối được đào tạo, có chế độ hỗ trợ cho người kiêm nhiệm và hạn chế luân chuyển.
Thứ hai, bố trí dòng kinh phí riêng cho truyền thông chính sách trong kế hoạch phòng, chống dịch hằng năm, qua đó cụ thể hóa yêu cầu của Chỉ thị số 07/CT-TTg (2023).
Thứ ba, cụ thể hóa Quy chế phát ngôn (Quyết định số 56/QĐ-BYT, 2023) thành quy trình phản ứng nhanh trong tình huống khẩn cấp: phân cấp, ủy quyền phát ngôn cho tuyến tỉnh; chuẩn bị sẵn bộ câu hỏi - trả lời theo kịch bản dịch bệnh; quy định thời hạn phản hồi báo chí.
Thứ tư, thiết lập cơ chế truyền thông chung giữa ngành y tế và ngành thú y theo tiếp cận Một sức khỏe (phối hợp liên ngành giữa sức khỏe con người, động vật và môi trường): thống nhất đánh giá nguy cơ, ra thông cáo chung khi xuất hiện ca bệnh cúm A/H5N1.
Thứ năm, đầu tư hệ thống theo dõi dư luận trực tuyến và xây dựng bộ chỉ số đánh giá hiệu quả truyền thông chính sách thay cho cách đánh giá dựa trên số lượng tin bài, lượt tiếp cận.
Hai là, đổi mới đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ làm công tác truyền thông chính sách y tế. Nhóm giải pháp này trực tiếp giải quyết khoảng cách năng lực giữa các tuyến.
Thứ nhất, xây dựng chương trình bồi dưỡng định kỳ theo năm tiêu chí năng lực ở Bảng 1, ưu tiên cán bộ tuyến cơ sở và nhóm chưa từng được tập huấn.
Thứ hai, đổi mới phương pháp theo hướng thực hành trên tình huống thật: diễn tập phát ngôn; chuyển văn bản chính sách thành thông điệp cho người dân địa phương; xử lý tin giả; dựng video ngắn, đồ họa đơn giản bằng điện thoại. Các sản phẩm thành công như thông điệp 5K, chuỗi tư vấn trực tuyến của bệnh viện cần được đúc kết thành tình huống mẫu để giảng dạy.
Thứ ba, chú trọng xây dựng sự tự tin cho cán bộ nữ ở tuyến cơ sở thông qua diễn tập theo nhóm nhỏ và cơ chế kèm cặp.
Thứ tư, xây dựng kho thông điệp, sản phẩm mẫu dùng chung để tuyến cơ sở chỉnh sửa theo đặc điểm địa phương.
Thứ năm, phối hợp với các cơ sở đào tạo báo chí - truyền thông để tổ chức bồi dưỡng, gắn kết quả bồi dưỡng với đánh giá, sử dụng cán bộ.
3.2. Thảo luận
Dưới ánh sáng của các mô hình lý thuyết truyền thông hiện đại, kết quả nghiên cứu đã phác họa bức tranh đa chiều về năng lực truyền thông chính sách của đội ngũ cán bộ y tế Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025. Điểm nổi bật nhất là sự song hành giữa tính ưu việt ở tầm chiến lược hệ thống và những điểm nghẽn ở năng lực tác nghiệp tuyến cơ sở. Ở cấp độ vĩ mô và Trung ương, ngành y tế đã chứng minh sự trưởng thành vượt bậc trong việc kiến tạo các chiến dịch truyền thông lớn, định hình hệ sinh thái số đa nền tảng và duy trì tính minh bạch, chủ động trong phát ngôn cấp cao.
Thành công của các thông điệp định hướng hành vi (như 5K, chiến dịch vắc-xin) minh chứng rằng khi có sự đầu tư bài bản và cơ chế lãnh đạo thông suốt, truyền thông chính sách y tế hoàn toàn đủ sức tạo ra sự đồng thuận xã hội to lớn. Điều này củng cố quan điểm của WHO về tầm quan trọng của việc thống nhất thông điệp trong tình trạng khẩn cấp.
Tuy nhiên, khi đối chiếu với mô hình quan hệ công chúng hai chiều đối xứng (Grunig & Hunt, 1984) và mô hình truyền thông nguy cơ CERC (Reynolds & Seeger, 2005), những hạn chế cốt lõi đã bộc lộ rõ rệt.
Một là, khoảng cách năng lực giữa các tuyến hành chính cho thấy sự bất cập của mô hình kiêm nhiệm. Khi bộ máy tinh gọn nhưng thiếu vị trí việc làm chuyên trách, gánh nặng truyền thông đè nặng lên vai cán bộ cơ sở - những người trực tiếp tiếp xúc với nhân dân nhưng lại thiếu hụt trầm trọng về kỹ năng biên tập thông điệp, kỹ năng phát ngôn và sự tự tin đối thoại. Điều này dẫn đến tình trạng “thông điệp tốt ở cấp trên nhưng bị khúc xạ hoặc mất tác dụng khi truyền xuống cơ sở”.
Hai là, tư duy truyền thông nguy cơ vẫn nặng tính phản ứng sự kiện thay vì chủ động phòng ngừa. Sự thiếu vắng các hoạt động truyền thông thường xuyên đối với các dịch bệnh ít phổ biến như cúm A/H5N1 trong giai đoạn bình thường, kết hợp với việc thiếu hụt các công cụ lắng nghe mạng xã hội (social listening) tự động, khiến ngành y tế đôi khi rơi vào thế bị động trước các luồng thông tin nhiễu loạn. Truyền thông số của ngành mới dừng lại ở mức độ “hiện diện và phân phối thông tin” chứ chưa đạt đến trình độ “phân tích dữ liệu dư luận để hoạch định quyết định chiến lược”.
Ba là, sự đứt gãy trong phối hợp liên ngành theo cách tiếp cận “Một sức khỏe” (đặc biệt giữa y tế và thú y trong phòng chống dịch bệnh lây từ động vật sang người) phản ánh tư duy quản lý cát cứ, mạnh ngành nào ngành nấy làm. Điều này tiềm ẩn nguy cơ phát đi những thông điệp không đồng bộ, gây hoang mang cho công chúng.
Từ những lát cắt thực tiễn đó, bài viết khẳng định rằng: nâng cao năng lực truyền thông chính sách y tế không thể giải quyết bằng các giải pháp chắp vá hay phong trào hình thức. Đào tạo nâng cao kỹ năng cho cá nhân phải đi liền với việc chuẩn hóa quy trình pháp lý, bố trí nguồn lực tài chính độc lập, thiết lập cơ chế phản ứng nhanh và hoàn thiện công cụ kỹ thuật số. Chỉ khi nào truyền thông chính sách được định vị là một cấu phần bắt buộc, chuyên nghiệp trong quản trị công của ngành y tế, hệ thống mới có thể sẵn sàng ứng phó hiệu quả với các cuộc khủng hoảng y tế công cộng trong tương lai.
4. Kết luận
Nghiên cứu đã phác họa bức tranh toàn cảnh về năng lực truyền thông chính sách của cán bộ y tế Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, làm nổi bật sự chuyển biến tích cực trong tư duy minh bạch thông tin và khả năng thiết lập các chiến dịch quy mô lớn ở cấp trung ương. Song, thực tiễn chống dịch COVID-19 và cúm A/H5N1 cũng vạch ra những điểm nghẽn mang tính hệ thống: khoảng cách năng lực sâu sắc giữa các tuyến hành chính, sự bất cập của mô hình kiêm nhiệm, tư duy truyền thông nguy cơ còn mang tính phản ứng sự kiện và hạn chế trong ứng dụng công nghệ lắng nghe dư luận. Để bịt kín các khoảng trống này, việc đổi mới truyền thông y tế phải được tiến hành đồng bộ trên ba trụ cột: (1) Kiện toàn thể chế, bố trí vị trí việc làm chuyên trách và nguồn lực độc lập cho hệ thống truyền thông từ trung ương đến cơ sở; (2) Chuyển dịch mạnh mẽ từ truyền thông phản ứng sang truyền thông nguy cơ chủ động và quản trị thông tin dựa trên dữ liệu số; và (3) Chuẩn hóa chương trình đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng thực chiến cho đội ngũ cán bộ tuyến đầu. Chỉ khi truyền thông chính sách được định vị là một cấu phần cốt lõi trong quản trị y tế công cộng, hệ thống mới có thể củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân và chủ động ứng phó hiệu quả với các thách thức dịch bệnh trong kỷ nguyên mới./.
Trích dẫn bài báo
Bài liên quan
- Khung phân tích tác động của trí tuệ nhân tạo đối với đào tạo báo chí - truyền thông
- Ảnh hưởng của truyền thông về trách nhiệm xã hội tới công chúng: Hàm ý đối với doanh nghiệp công nghệ Việt Nam
- Cạnh tranh Mỹ - Trung trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo và hàm ý đối với Việt Nam
- Trang thông tin điện tử tổng hợp: Mô hình hoạt động và giải pháp quản lý
- Truyền thông dịch bệnh truyền nhiễm từ góc nhìn an ninh phi truyền thống
llcttt1994dientu@gmail.com
02438348033


