Phát triển công nghiệp văn hoá gắn với bảo vệ chủ quyền văn hoá trên không gian mạng ở Việt Nam hiện nay và hàm ý chính sách
Developing cultural industries in line with cultural sovereignty in cyberspace in Vietnam today
| Lê Thị Thoa | thoalesbv@gmail.com | Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội |
Tóm tắt:
Abstract:
Từ khóa:
Công nghiệp văn hóa, Bảo vệ nền tảng tư tưởng, Chủ quyền văn hóa, Quyền lực mềm, Không gian mạng.
Keyword:
Cultural industries, Safeguarding the Party's ideological foundation, Cultural sovereignty, Soft power, Cyberspace.
Nội dung:
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng số, văn hóa đã vượt ra khỏi phạm vi giải trí thuần túy để trở thành sức mạnh nội sinh và công cụ ngoại giao quan trọng. Tuy nhiên, sự bùng nổ của Internet và các nền tảng xuyên biên giới cũng biến không gian mạng thành “chiến trường” chính của các cuộc xung đột tư tưởng. Tại Việt Nam, nhận thức rõ tầm quan trọng chiến lược này, ngày 07/01/2026, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. Đây là một quyết sách đột phá, mang tính lịch sử, mở đường cho việc định vị lại tầm vóc nền văn hóa dân tộc trong kỷ nguyên phát triển mới.
Nghị quyết số 80-NQ/TW khẳng định một quan điểm mang tính cốt lõi: “Phát triển văn hoá, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Các giá trị văn hoá phải được gắn kết chặt chẽ, hài hoà, thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội... thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới” (Báo điện tử Chính phủ, 2026). Trong bối cảnh chuyển đổi số toàn diện, Nghị quyết đã đặt ra yêu cầu cấp bách về việc nhận thức và xử lý hài hòa mối quan hệ nội tại giữa “đời sống thực và không gian số; dữ liệu mở và bảo đảm an ninh, chủ quyền văn hoá số”, đồng thời nhấn mạnh nhiệm vụ “phát triển văn hoá ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội, gắn với xây dựng thế trận an ninh văn hoá, an ninh con người, chủ quyền văn hoá số”. Tinh thần này định hướng cho việc phát triển các ngành công nghiệp văn hóa (CNVH) không chỉ dừng lại ở mục tiêu đóng góp 7% GDP vào năm 2030 (Báo điện tử Chính phủ, 2026) mà cốt lõi hơn là phải biến lĩnh vực này thành mũi nhọn tiên phong, chủ động ứng dụng công nghệ hiện đại, trí tuệ nhân tạo để kiến tạo và bảo vệ không gian số lành mạnh.
Tính đến năm 2024, theo Data Reportal, Việt Nam có hơn 77 triệu người dùng Internet (chiếm khoảng 78% dân số) và khoảng 70 triệu tài khoản mạng xã hội (MXH), do đó,thực tiễn vận hành trên môi trường mạng hiện nay đang đặt ra vô vàn thách thức gay gắt cho an ninh tư tưởng. Bởi sự bùng nổ của các nền tảng trực tuyến xuyên biên giới đang tạo kẽ hở cho sự xâm nhập của các yếu tố ngoại lai phản cảm, phi văn hóa, gây xung đột giá trị. Đồng thời, các thế lực thù địch liên tục lợi dụng không gian này để tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình”, xung đột văn hóa nhằm chuyển hóa tư tưởng chính trị từ bên trong.
Vì vậy, bài viết đi sâu phân tích vấn đề phát triển công nghiệp văn hoá gắn với bảo vệ chủ quyền văn hoá trên không gian mạng ở Việt Nam hiện nay và kiểm chứng vai trò quan trọng của Công nghiệp văn hóa như một “vũ khí sắc bén”, dùng sức mạnh của sự sáng tạo, bản sắc và các sản phẩm nội dung số chính thống để chiếm lĩnh trận địa, vô hiệu hóa các âm mưu xuyên tạc, khẳng định bản lĩnh và chủ quyền số của Việt Nam trên trường quốc tế đúng theo tinh thần chỉ đạo của Nghị quyết 80-NQ/TW.
2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu, thu thập, phân tích hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, các nghị quyết của Đảng (Nghị quyết 33-NQ/TW, Nghị quyết 80-NQ/TW) và các công trình khoa học trong nước, quốc tế về CNVH và chủ quyền văn hóa.
Phương pháp lịch sử và logic, phân tích sự phát triển của quan điểm về phát triển công nghiệp văn hoá gắn với bảo vệ chủ quyền văn hoá, xâm lăng văn hóa trên không gian mạng.
Phương pháp hệ thống và so sánh, nhằm đánh giá bối cảnh mới, làm rõ những yêu cầu đặt ra và đề xuất các giải pháp bảo đảm tính toàn diện, đồng bộ và khả thi.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Kết quả nghiên cứu
3.1.1. Công nghiệp văn hóa Việt Nam: Kế thừa di sản và kiến tạo giá trị trong kỷ nguyên phát triển mới
Cho đến nay, có một số cách tiếp cận khác nhau về thuật ngữ “Công nghiệp văn hóa”. Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc UNESCO đưa ra khái niệm: “Công nghiệp văn hóa là những ngành sản xuất các sản phẩm nghệ thuật và sáng tạo dưới dạng hữu hình hoặc vô hình, có tiềm năng tạo ra của cải và thu nhập thông qua việc khai thác các tài sản văn hóa cũng như sản xuất hàng hóa và dịch vụ dựa trên tri thức (cả truyền thống và đương đại). Điểm chung của các ngành Công nghiệp văn hóa là tất cả đều sử dụng sự sáng tạo, tri thức văn hóa và quyền sở hữu trí tuệ để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ mang ý nghĩa xã hội và văn hóa” (UNESCO, 2007).
Tùy thuộc vào thế mạnh riêng, các quốc gia và tổ chức quốc tế sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau như “Kinh tế sáng tạo”, “Công nghiệp nội dung” hay “Sản nghiệp văn hóa” để chỉ lĩnh vực này (Hải Anh, 2023).
Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương và chính sách nhằm phát triển CNVH, coi đây là động lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội và quảng bá văn hóa dân tộc. Hệ thống quan điểm của Đảng từ Nghị quyết 33-NQ/TW (2014) đến Nghị quyết 80-NQ/TW (2026) đã khẳng định CNVH là động lực phát triển bền vững, đặt mục tiêu “phát triển các ngành công nghiệp văn hoá đóng góp 7% GDP; hình thành từ 5 - 10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hoá, như: Điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hoá, thiết kế và thời trang”, tầm nhìn đến năm 2045 “công nghiệp văn hoá, kinh tế sáng tạo thực sự trở thành trụ cột của phát triển bền vững, phấn đấu đóng góp 9% GDP” (Báo điện tử Chính phủ, 2026).
Nhấn mạnh việc phát triển các ngành CNVH phải bảo đảm khai thác tối đa, hiệu quả tiềm năng, lợi thế, “Đảng và Nhà nước chủ trương phát triển các ngành CNVH phải gắn liền với việc quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, góp phần nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Điều này thể hiện trong các hoạt động đối ngoại về văn hóa, thể thao và du lịch, nhằm giới thiệu và lan tỏa các giá trị văn hóa đặc sắc của Việt Nam ra thế giới” (Tạp chí Tuyên giáo, 2024).
Trong kỷ nguyên phát triển mới, cần nhận thức CNVH là một hệ sinh thái đặc thù, ở đó, giá trị kinh tế và sức mạnh chính trị không tách rời mà bổ trợ lẫn nhau. Phát triển kinh tế văn hóa không chỉ để đóng góp vào GDP, mà quan trọng hơn, sự tăng trưởng bền vững của ngành này chính là thước đo cho sức hấp dẫn và khả năng lan tỏa của hệ giá trị tư tưởng quốc gia. Do đó, một nền CNVH đủ mạnh, có khả năng tự chủ về kinh tế, sẽ tạo ra nền tảng vật chất vững chắc để chúng ta chủ động đầu tư vào các sản phẩm chất lượng cao, từ đó, thực hiện hiệu quả nhiệm vụ định hướng tư tưởng và hình thành lối sống văn minh. Các sản phẩm văn hóa như âm nhạc, điện ảnh, hay văn học nghệ thuật là những kênh truyền tải hệ giá trị thẩm mỹ và chuẩn mực đạo đức một cách tinh tế, có sức thẩm thấu sâu sắc vào tâm trí công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ.
Đối với Việt Nam, trong bối cảnh vươn mình vào kỷ nguyên mới, việc phát triển CNVH chính là cách thức để nâng cao uy tín, năng lực cạnh tranh quốc gia, biến bản sắc dân tộc thành sức mạnh nội sinh để bảo vệ nền tảng tư tưởng Đảng một cách chủ động, biến mỗi sản phẩm văn hóa thành một “đại sứ” bảo vệ chủ quyền văn hóa trên không gian mạng.
3.1.2. Mối quan hệ biện chứng giữa công nghiệp văn hóa và chủ quyền văn hóa
Chủ quyền văn hóa “là một trạng thái tồn tại, một tư duy khả thi khi những người thuộc về một nền văn hóa thực hiện quyền tự do thực hành những nghi thức, những hoạt động văn hóa của mình, đồng thời thực hành các đức tin, giá trị và phong tục của mình với sự tự hào và tính chính danh nếu sự thực hành đó không phương hại đến sự thực hành văn hóa của cá nhân hay cộng đồng khác. Khi quyền đó được bảo đảm thì tức là an ninh văn hóa được bảo đảm, con người được thực hành hoạt động văn hóa, được khẳng định giá trị văn hóa và được tự hào một cách chính đáng về truyền thống văn hóa của mình” (Souder, Laura M. Torres, 2021).
Quan trọng hơn, theo Phạm Hồng Tung, chủ quyền văn hóa được xem là một bộ phận cấu thành quan trọng của chủ quyền quốc gia, giống như cương vực, lãnh thổ, lãnh hải, không phận, chủ quyền kinh tế, chủ quyền chính trị... “Bất kể một hợp phần nào của chủ quyền quốc gia bị xâm hại, bao gồm chủ quyền văn hóa, thì an ninh quốc gia cũng bị xâm hại. Vì vậy, quốc gia nào cũng có một số biểu tượng quốc gia như quốc kỳ, quốc ca, quốc huy, tín ngưỡng, ngôn ngữ,... được quốc gia đó bảo vệ đặc biệt. Thậm chí một số quốc gia còn xác định một loạt biểu tượng khác được bảo hộ, bảo vệ đặc biệt, như quốc hoa, quốc bảo, hình tượng một số công trình kiến trúc, tên tuổi, uy tín của một số danh nhân, anh hùng dân tộc, quốc phục, vũ điệu... Tất cả những biểu tượng cụ thể đó vừa tiêu biểu cho chủ quyền quốc gia, danh dự, uy tín quốc gia, đồng thời cũng là biểu tượng của bản sắc văn hóa của quốc gia - dân tộc. Vì thế, chúng được coi như đối tượng chính của an ninh văn hóa của một đất nước” (Phạm Hồng Tung, 2023).
Bên cạnh đó, một khái niệm đáng chú ý là “xâm lăng văn hóa” thuộc trường phái kinh tế - chính trị học nổi lên từ thập niên 1960 - 1970. Thuật ngữ này mô tả quá trình mà một quốc gia có sức mạnh kinh tế - quân sự áp đảo xuất khẩu và áp đặt các giá trị, chuẩn mực, mô hình tiêu dùng và lối sống của mình lên các quốc gia đang phát triển. Quá trình này diễn ra thông qua dòng chảy truyền thông một chiều, làm suy yếu hoặc xóa bỏ bản sắc văn hóa bản địa mà không cần dùng đến sức mạnh quân sự trực tiếp.
Là người đặt nền móng đầu tiên cho lý thuyết này, Herbert I. Schiller chỉ ra cách Mỹ sử dụng tập đoàn truyền thông và công nghệ thông tin như một công cụ mở rộng ảnh hưởng địa chính trị và tư tưởng trên toàn cầu. Sau đó, vào năm 1976, cũng chính Herbert I. Schiller hoàn chỉnh định nghĩa chính thức: Xâm lăng văn hóa là tập hợp các quá trình mà qua đó một xã hội đưa hệ thống các thiết chế của mình khớp nối với hệ thống thế giới hiện đại dưới sự thâm nhập của giá trị và cấu trúc từ quốc gia thống trị (Herbert I. Schiller, 1976).
Đóng góp thêm cho nội dung về xâm lăng văn hóa, Ariel Dorfman & Armand Mattelart (1971) đã tiến hành các phân tích ký hiệu học để chứng minh các truyện tranh giải trí tưởng chừng vô hại của Mỹ (như Vịt Donald) thực chất chứa đựng tư tưởng tư bản chủ nghĩa, chủ nghĩa tiêu dùng và sự áp đặt tư tưởng lên các nước Mỹ La-tinh. Sau đó, Oliver Boyd-Barrett (1977) bổ sung thêm khái niệm “đế quốc truyền thông”, một nhánh cốt lõi của xâm lăng văn hóa, tập trung vào sự mất cân bằng về quyền sở hữu, phân phối và nội dung truyền thông đại chúng giữa phương Tây và các nước thuộc thế giới thứ ba.
Trong kỷ nguyên mạng xã hội (Facebook, TikTok, YouTube, Instagram), lý thuyết xâm lăng văn hóa không bị lãng quên mà chuyển sang hình thái mới: Xâm lăng văn hóa số hay đế quốc nền tảng. Khác với truyền thông truyền thống (truyền hình, điện ảnh một chiều), xâm lăng văn hóa trên MXH diễn ra vi mô hơn nhưng có độ thẩm thấu sâu hơn. Các nền tảng mạng xã hội lớn thuộc sở hữu của các tập đoàn Big Tech (Meta, Google) hay các cường quốc công nghệ kiểm soát thuật toán phân phối nội dung. Thuật toán ưu tiên hiển thị các nội dung mang tính giật gân, chủ nghĩa tiêu dùng, chuẩn mực cái đẹp và lối sống kiểu phương Tây hoặc từ các cường quốc văn hóa. Trong bối cảnh đó, người dùng mạng xã hội (đặc biệt là giới trẻ) chủ động tiêu thụ, bắt chước (cover), sáng tạo lại các trào lưu (trend), ngôn ngữ, trang phục, thẩm mỹ từ ngoại quốc. Quá trình xâm lăng không còn là sự cưỡng ép mà thông qua tâm lý muốn hội nhập, sợ bị bỏ lại phía sau. Đặc biệt, ngôn ngữ mạng, tiếng lóng ngoại nhập và lối ứng xử cá nhân chủ nghĩa trên MXH cũng có nguy cơ dần thay thế các chuẩn mực giao tiếp truyền thống của văn hóa bản địa.
Dal Yong Jin đưa ra khái niệm “đế quốc nền tảng” và chứng minh rằng dù internet được quảng cáo là phi trung tâm, nhưng hầu hết hạ tầng, nền tảng MXH và sở hữu trí tuệ số toàn cầu hiện nay vẫn nằm trong tay các tập đoàn công nghệ Mỹ, tạo ra sự bất bình đẳng văn hóa số mới (Dal Yong Jin, 2015, tr2-7). Trong khi đó, Nick Couldry & Ulises A. Mejias (2019) phát triển lý thuyết “Chủ nghĩa thực dân dữ liệu” để chỉ ra rằng các ứng dụng, nền tảng và thiết bị thông minh thu thập và biến cuộc sống của chúng ta thành dữ liệu, sau đó trích xuất thông tin để nạp vào các doanh nghiệp tư bản rồi bán ngược lại cho chính chúng ta. Qua đó, các nền tảng MXH chiếm đoạt hành vi, trải nghiệm văn hóa của công chúng toàn cầu để định hình lại thói quen sinh hoạt và tư duy văn hóa của người dùng. Cùng với đó, Ramesh Srinivasan đã phân tích mạng xã hội phương Tây đang đe dọa làm suy yếu kiến thức, ngôn ngữ và các giá trị bản địa ở các quốc gia đang phát triển (Srinivasan, R., 2017).
Như vậy, không gian mạng chính là mặt trận chủ quyền số bởi xâm lăng văn hóa không còn dừng lại ở phim ảnh hay sách báo truyền thống, mà đã chuyển sang môi trường thuật toán và MXH. Do đó, bảo vệ chủ quyền văn hóa trên mạng là bảo vệ không gian tư tưởng và lối sống của thế hệ trẻ.
Bên cạnh đó, cần chuyển từ phòng thủ thụ động sang chủ động sáng tạo bởi theo các nhà nghiên cứu, không thể ngăn chặn xâm lăng văn hóa bằng cách đóng cửa hay cấm đoán thuần túy trên không gian mạng (Dal Yong Jin, 2015, tr2-7).
3.2. Thảo luận
Trong bối cảnh các nền tảng xuyên biên giới đang xóa nhòa các rào cản vật lý, việc mất khả năng kiểm soát và dẫn dắt dòng chảy văn hóa trên mạng đồng nghĩa với nguy cơ bị “xâm lăng tư tưởng”. Khi các hệ giá trị ngoại lai chiếm lĩnh tâm trí công chúng thông qua các sản phẩm giải trí, chúng sẽ dần làm xói mòn bản sắc và niềm tin. Chủ quyền văn hóa, bao gồm quyền tự quyết, quản lý và bảo vệ các giá trị tư tưởng của quốc gia, phải được xem là nhiệm vụ trọng yếu trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc.
Thực tiễn cho thấy, nếu không phát triển một nền CNVH nội địa đủ mạnh, chúng ta sẽ vô tình tạo ra những khoảng trống bị lấp đầy bởi các sản phẩm độc hại, mang quan điểm sai trái. Giải pháp căn cơ và bền vững nhất là phải chuyển tư duy từ phòng ngự thụ động sang tấn công chủ động: gia tăng độ phủ trên không gian mạng bằng các sản phẩm văn hóa số chất lượng cao, đủ sức hấp dẫn để chiếm lĩnh thời lượng sử dụng của người dân. Đây chính là công cụ truyền thông chiến lược để xác lập quyền lực mềm và xây dựng “hệ miễn dịch” tư tưởng cho công chúng trong kỷ nguyên số.
Trước hết, về chính sách thuế và tín dụng, cần ban hành các gói ưu đãi tài chính, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp và hỗ trợ lãi suất vay vốn chuyên biệt cho các doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực sáng tạo nội dung số lành mạnh. Cơ chế này không chỉ giảm bớt rủi ro tài chính ban đầu cho các startup sáng tạo mà còn thu hút nguồn lực xã hội đầu tư vào các sản phẩm văn hóa chuẩn mực.
Bên cạnh đó, cần đổi mới chính sách đặt hàng của Nhà nước theo hướng linh hoạt và hiện đại hóa; thay vì chỉ tập trung vào các hình thức nghệ thuật truyền thống, Nhà nước nên chủ động đặt hàng các dự án game, phim lịch sử, và tác phẩm nghệ thuật số mang tính giáo dục sâu sắc nhưng được sản xuất bằng công nghệ tiên tiến như Trí tuệ nhân tạo, Thực tế ảo hay đồ họa 3D... Sự kết hợp giữa nội dung chính thống và hình thức thể hiện hiện đại sẽ giúp các giá trị lịch sử, văn hóa dễ dàng tiếp cận và chinh phục thế hệ trẻ.
Ở góc độ hạ tầng công nghệ, việc nghiên cứu và phát triển các nền tảng phân phối nội dung số nội địa có khả năng cạnh tranh là giải pháp chiến lược nhằm từng bước giảm bớt sự phụ thuộc vào thuật toán phân phối của các tập đoàn Big Tech xuyên biên giới. Việc làm chủ hạ tầng số không chỉ giúp bảo vệ dữ liệu văn hóa quốc gia mà còn tạo ra không gian chủ động để định hướng, lan tỏa các giá trị văn hóa tích cực, góp phần xây dựng thế trận an ninh văn hóa vững chắc trong kỷ nguyên số.
Song song với đó, cần đổi mới phương thức kiến tạo sản phẩm văn hóa số, kết hợp hài hòa giữa bản sắc dân tộc và tư duy truyền thông hiện đại. Việc ứng dụng các xu hướng mới để tạo ra các sản phẩm đa phương tiện (âm nhạc, điện ảnh, nghệ thuật số...) không chỉ đáp ứng thị hiếu của thế hệ trẻ mà còn khéo léo định hướng tư tưởng. Khi một sản phẩm có sức hấp dẫn tự thân, nó sẽ tự động lan tỏa, giúp cộng đồng mạng chủ động tẩy chay các luồng văn hóa lai căng và vô hiệu hóa những luận điệu xuyên tạc.
Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò nòng cốt của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ và những người sáng tạo nội dung- những “đại sứ quyền lực mềm”. Trong kỷ nguyên mới, lực lượng này cần được nhìn nhận như những chiến sĩ bảo vệ chủ quyền trên mặt trận tư tưởng. Khi mỗi cá nhân ý thức được sứ mệnh của mình, họ sẽ sử dụng sức ảnh hưởng để lan tỏa lối sống đẹp, tạo ra “màng lọc” văn hóa vững chắc trước các biểu hiện lệch chuẩn.
Như vậy, sự phối hợp nhịp nhàng giữa công nghệ, hành lang pháp lý và năng lực sáng tạo sẽ hình thành thế trận an ninh văn hóa liên hoàn, giúp Việt Nam vừa bảo vệ vững chắc chủ quyền số, vừa chủ động vươn tầm quốc tế.
4. Kết luận
Để phát huy vai trò “vũ khí sắc bén” của CNVH, cần tập trung lan tỏa các mô hình sáng tạo kết hợp tư duy hiện đại với bản sắc dân tộc, đồng thời đầu tư công phu cho các tác phẩm đa phương tiện có khả năng “phủ xanh” không gian mạng bằng những giá trị tích cực. Song song với đó là việc xây dựng hệ sinh thái số và thế trận thông tin liên hoàn, tạo cơ chế phối hợp đồng bộ giữa giải pháp công nghệ với đấu tranh chính trị, tư tưởng và pháp lý để tháo gỡ các điểm nghẽn trong tuyên truyền, giữ vững thế chủ động tấn công trên mọi nền tảng số.
Lực lượng nòng cốt quyết định sức mạnh của chiến lược này chính là đội ngũ trí thức, giảng viên và nghệ sĩ, những người cần nêu cao trách nhiệm kiến tạo, định hướng giá trị và tuân thủ nghiêm túc đạo đức nghề nghiệp cũng như đường lối của Đảng. Việc bồi dưỡng bản lĩnh chính trị và khích lệ tinh thần đổi mới sáng tạo sẽ biến mỗi tác phẩm văn hóa thành một chiến sĩ bảo vệ nền tảng tư tưởng từ sớm, từ xa. Thực hiện đồng bộ các giải pháp này không chỉ bảo vệ vững chắc chế độ mà còn nâng cao uy tín quốc gia, tạo sự đồng thuận để đất nước vững vàng bước vào kỷ nguyên phát triển mới./.
Tài liệu tham khảo:
Ariel Dorfman & Armand Mattelart (1971). How to Read Donald Duck: Imperialist Ideology in the Disney Comic. NXB OR Books. https://doi.org/10.2307/j.ctv62hf1k
Báo điện tử Chính phủ (2026). Toàn văn Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/nghi-quyet-so-80-nq-tw-ve-phat-trien-van-hoa-viet-nam-119260113133313565.htm, truy cập ngày 1/7/2026.
Dal Yong Jin (2015). Digital Platforms, Imperialism and Political Culture. NXB Routledge, tr2-7.
Hải Anh (2023). Nhận diện các ngành công nghiệp văn hóa Hà Nội trong bối cảnh mới. Tạp chí Cộng sản điện tử. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/832102/nhan%C2%A0dien-cac-nganh-cong-nghiep-van-hoa-ha-noi-trong-boi-canh-moi.aspx
Herbert I. Schiller (1969). Mass Communication and American Empire (tr. 14-16). NXB A. M. Kelley.
Herbert I. Schiller (1976). Communication and Cultural Domination (tr. 22). NXB International Arts and Sciences Press.
Nick Couldry & Ulises A. Mejias (2019). The Costs of Connection: How Data Is Colonizing Human Life and Appropriating It for Capitalism. NXB Stanford University Press.
Oliver Boyd-Barrett (1977). Media Imperialism (trong cuốn Media and Society).
Phạm Hồng Tung (2023). Thách thức từ an ninh phi truyền thống: Vấn đề bảo đảm an ninh văn hóa trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế ở Quảng Ninh. Tạp chí Cộng sản. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/hoi-thao-quang-ninh/-/2018/901402/thach-thuc-tu-an-ninh-phi-truyen-thong--van-de-bao-dam-an-ninh-van-hoa-trong-qua-trinh-doi-moi-va-hoi-nhap-quoc-te-o-quang-ninh.aspx
Souder, Laura M. Torres (2021). What is cultural sovereignty. The Guam Daily Post. https://www.postguam.com/forum/featured_columnists/what-is-cultural-sovereignty/article_567e20fe-fbf0-11eb-aca5-6b70cecf7753.html, truy cập ngày 21/4/2026.
Srinivasan, R. (2017). Whose Global Village?: Rethinking How Technology Shapes Our World. NYU Press.
Tuyên giáo (2024). Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa gắn liền với quảng bá đất nước, con người Việt Nam. https://www.tuyengiao.vn/phat-trien-cac-nganh-cong-nghiep-van-hoa-gan-lien-voi-quang-ba-dat-nuoc-con-nguoi-viet-nam-152659, truy cập ngày 13/2/2025.
UNESCO (2007). Statistics on cultural industries: framework for the elaboration of national data capacity building projects (Thống kê về các ngành công nghiệp văn hóa: Khung xây dựng năng lực dữ liệu quốc gia). https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000154956, truy cập ngày 21/4/2026.
Công nghiệp văn hóa, Bảo vệ nền tảng tư tưởng, Chủ quyền văn hóa, Quyền lực mềm, Không gian mạng.
Cultural industries, Safeguarding the Party's ideological foundation, Cultural sovereignty, Soft power, Cyberspace.
Ariel Dorfman & Armand Mattelart (1971). How to Read Donald Duck: Imperialist Ideology in the Disney Comic. NXB OR Books. https://doi.org/10.2307/j.ctv62hf1k
Báo điện tử Chính phủ (2026). Toàn văn Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/nghi-quyet-so-80-nq-tw-ve-phat-trien-van-hoa-viet-nam-119260113133313565.htm, truy cập ngày 1/7/2026.
Dal Yong Jin (2015). Digital Platforms, Imperialism and Political Culture. NXB Routledge, tr2-7.
Hải Anh (2023). Nhận diện các ngành công nghiệp văn hóa Hà Nội trong bối cảnh mới. Tạp chí Cộng sản điện tử. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/832102/nhan%C2%A0dien-cac-nganh-cong-nghiep-van-hoa-ha-noi-trong-boi-canh-moi.aspx
Herbert I. Schiller (1969). Mass Communication and American Empire (tr. 14-16). NXB A. M. Kelley.
Herbert I. Schiller (1976). Communication and Cultural Domination (tr. 22). NXB International Arts and Sciences Press.
Nick Couldry & Ulises A. Mejias (2019). The Costs of Connection: How Data Is Colonizing Human Life and Appropriating It for Capitalism. NXB Stanford University Press.
Oliver Boyd-Barrett (1977). Media Imperialism (trong cuốn Media and Society).
Phạm Hồng Tung (2023). Thách thức từ an ninh phi truyền thống: Vấn đề bảo đảm an ninh văn hóa trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế ở Quảng Ninh. Tạp chí Cộng sản. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/hoi-thao-quang-ninh/-/2018/901402/thach-thuc-tu-an-ninh-phi-truyen-thong--van-de-bao-dam-an-ninh-van-hoa-trong-qua-trinh-doi-moi-va-hoi-nhap-quoc-te-o-quang-ninh.aspx
Souder, Laura M. Torres (2021). What is cultural sovereignty. The Guam Daily Post. https://www.postguam.com/forum/featured_columnists/what-is-cultural-sovereignty/article_567e20fe-fbf0-11eb-aca5-6b70cecf7753.html, truy cập ngày 21/4/2026.
Srinivasan, R. (2017). Whose Global Village?: Rethinking How Technology Shapes Our World. NYU Press.
Tuyên giáo (2024). Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa gắn liền với quảng bá đất nước, con người Việt Nam. https://www.tuyengiao.vn/phat-trien-cac-nganh-cong-nghiep-van-hoa-gan-lien-voi-quang-ba-dat-nuoc-con-nguoi-viet-nam-152659, truy cập ngày 13/2/2025.
UNESCO (2007). Statistics on cultural industries: framework for the elaboration of national data capacity building projects (Thống kê về các ngành công nghiệp văn hóa: Khung xây dựng năng lực dữ liệu quốc gia). https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000154956, truy cập ngày 21/4/2026.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng số, văn hóa đã vượt ra khỏi phạm vi giải trí thuần túy để trở thành sức mạnh nội sinh và công cụ ngoại giao quan trọng. Tuy nhiên, sự bùng nổ của Internet và các nền tảng xuyên biên giới cũng biến không gian mạng thành “chiến trường” chính của các cuộc xung đột tư tưởng. Tại Việt Nam, nhận thức rõ tầm quan trọng chiến lược này, ngày 07/01/2026, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. Đây là một quyết sách đột phá, mang tính lịch sử, mở đường cho việc định vị lại tầm vóc nền văn hóa dân tộc trong kỷ nguyên phát triển mới.
Nghị quyết số 80-NQ/TW khẳng định một quan điểm mang tính cốt lõi: “Phát triển văn hoá, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Các giá trị văn hoá phải được gắn kết chặt chẽ, hài hoà, thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội... thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới” (Báo điện tử Chính phủ, 2026). Trong bối cảnh chuyển đổi số toàn diện, Nghị quyết đã đặt ra yêu cầu cấp bách về việc nhận thức và xử lý hài hòa mối quan hệ nội tại giữa “đời sống thực và không gian số; dữ liệu mở và bảo đảm an ninh, chủ quyền văn hoá số”, đồng thời nhấn mạnh nhiệm vụ “phát triển văn hoá ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội, gắn với xây dựng thế trận an ninh văn hoá, an ninh con người, chủ quyền văn hoá số”. Tinh thần này định hướng cho việc phát triển các ngành công nghiệp văn hóa (CNVH) không chỉ dừng lại ở mục tiêu đóng góp 7% GDP vào năm 2030 (Báo điện tử Chính phủ, 2026) mà cốt lõi hơn là phải biến lĩnh vực này thành mũi nhọn tiên phong, chủ động ứng dụng công nghệ hiện đại, trí tuệ nhân tạo để kiến tạo và bảo vệ không gian số lành mạnh.
Tính đến năm 2024, theo Data Reportal, Việt Nam có hơn 77 triệu người dùng Internet (chiếm khoảng 78% dân số) và khoảng 70 triệu tài khoản mạng xã hội (MXH), do đó,thực tiễn vận hành trên môi trường mạng hiện nay đang đặt ra vô vàn thách thức gay gắt cho an ninh tư tưởng. Bởi sự bùng nổ của các nền tảng trực tuyến xuyên biên giới đang tạo kẽ hở cho sự xâm nhập của các yếu tố ngoại lai phản cảm, phi văn hóa, gây xung đột giá trị. Đồng thời, các thế lực thù địch liên tục lợi dụng không gian này để tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình”, xung đột văn hóa nhằm chuyển hóa tư tưởng chính trị từ bên trong.
Vì vậy, bài viết đi sâu phân tích vấn đề phát triển công nghiệp văn hoá gắn với bảo vệ chủ quyền văn hoá trên không gian mạng ở Việt Nam hiện nay và kiểm chứng vai trò quan trọng của Công nghiệp văn hóa như một “vũ khí sắc bén”, dùng sức mạnh của sự sáng tạo, bản sắc và các sản phẩm nội dung số chính thống để chiếm lĩnh trận địa, vô hiệu hóa các âm mưu xuyên tạc, khẳng định bản lĩnh và chủ quyền số của Việt Nam trên trường quốc tế đúng theo tinh thần chỉ đạo của Nghị quyết 80-NQ/TW.
2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu, thu thập, phân tích hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, các nghị quyết của Đảng (Nghị quyết 33-NQ/TW, Nghị quyết 80-NQ/TW) và các công trình khoa học trong nước, quốc tế về CNVH và chủ quyền văn hóa.
Phương pháp lịch sử và logic, phân tích sự phát triển của quan điểm về phát triển công nghiệp văn hoá gắn với bảo vệ chủ quyền văn hoá, xâm lăng văn hóa trên không gian mạng.
Phương pháp hệ thống và so sánh, nhằm đánh giá bối cảnh mới, làm rõ những yêu cầu đặt ra và đề xuất các giải pháp bảo đảm tính toàn diện, đồng bộ và khả thi.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Kết quả nghiên cứu
3.1.1. Công nghiệp văn hóa Việt Nam: Kế thừa di sản và kiến tạo giá trị trong kỷ nguyên phát triển mới
Cho đến nay, có một số cách tiếp cận khác nhau về thuật ngữ “Công nghiệp văn hóa”. Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc UNESCO đưa ra khái niệm: “Công nghiệp văn hóa là những ngành sản xuất các sản phẩm nghệ thuật và sáng tạo dưới dạng hữu hình hoặc vô hình, có tiềm năng tạo ra của cải và thu nhập thông qua việc khai thác các tài sản văn hóa cũng như sản xuất hàng hóa và dịch vụ dựa trên tri thức (cả truyền thống và đương đại). Điểm chung của các ngành Công nghiệp văn hóa là tất cả đều sử dụng sự sáng tạo, tri thức văn hóa và quyền sở hữu trí tuệ để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ mang ý nghĩa xã hội và văn hóa” (UNESCO, 2007).
Tùy thuộc vào thế mạnh riêng, các quốc gia và tổ chức quốc tế sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau như “Kinh tế sáng tạo”, “Công nghiệp nội dung” hay “Sản nghiệp văn hóa” để chỉ lĩnh vực này (Hải Anh, 2023).
Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương và chính sách nhằm phát triển CNVH, coi đây là động lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội và quảng bá văn hóa dân tộc. Hệ thống quan điểm của Đảng từ Nghị quyết 33-NQ/TW (2014) đến Nghị quyết 80-NQ/TW (2026) đã khẳng định CNVH là động lực phát triển bền vững, đặt mục tiêu “phát triển các ngành công nghiệp văn hoá đóng góp 7% GDP; hình thành từ 5 - 10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hoá, như: Điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hoá, thiết kế và thời trang”, tầm nhìn đến năm 2045 “công nghiệp văn hoá, kinh tế sáng tạo thực sự trở thành trụ cột của phát triển bền vững, phấn đấu đóng góp 9% GDP” (Báo điện tử Chính phủ, 2026).
Nhấn mạnh việc phát triển các ngành CNVH phải bảo đảm khai thác tối đa, hiệu quả tiềm năng, lợi thế, “Đảng và Nhà nước chủ trương phát triển các ngành CNVH phải gắn liền với việc quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, góp phần nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Điều này thể hiện trong các hoạt động đối ngoại về văn hóa, thể thao và du lịch, nhằm giới thiệu và lan tỏa các giá trị văn hóa đặc sắc của Việt Nam ra thế giới” (Tạp chí Tuyên giáo, 2024).
Trong kỷ nguyên phát triển mới, cần nhận thức CNVH là một hệ sinh thái đặc thù, ở đó, giá trị kinh tế và sức mạnh chính trị không tách rời mà bổ trợ lẫn nhau. Phát triển kinh tế văn hóa không chỉ để đóng góp vào GDP, mà quan trọng hơn, sự tăng trưởng bền vững của ngành này chính là thước đo cho sức hấp dẫn và khả năng lan tỏa của hệ giá trị tư tưởng quốc gia. Do đó, một nền CNVH đủ mạnh, có khả năng tự chủ về kinh tế, sẽ tạo ra nền tảng vật chất vững chắc để chúng ta chủ động đầu tư vào các sản phẩm chất lượng cao, từ đó, thực hiện hiệu quả nhiệm vụ định hướng tư tưởng và hình thành lối sống văn minh. Các sản phẩm văn hóa như âm nhạc, điện ảnh, hay văn học nghệ thuật là những kênh truyền tải hệ giá trị thẩm mỹ và chuẩn mực đạo đức một cách tinh tế, có sức thẩm thấu sâu sắc vào tâm trí công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ.
Đối với Việt Nam, trong bối cảnh vươn mình vào kỷ nguyên mới, việc phát triển CNVH chính là cách thức để nâng cao uy tín, năng lực cạnh tranh quốc gia, biến bản sắc dân tộc thành sức mạnh nội sinh để bảo vệ nền tảng tư tưởng Đảng một cách chủ động, biến mỗi sản phẩm văn hóa thành một “đại sứ” bảo vệ chủ quyền văn hóa trên không gian mạng.
3.1.2. Mối quan hệ biện chứng giữa công nghiệp văn hóa và chủ quyền văn hóa
Chủ quyền văn hóa “là một trạng thái tồn tại, một tư duy khả thi khi những người thuộc về một nền văn hóa thực hiện quyền tự do thực hành những nghi thức, những hoạt động văn hóa của mình, đồng thời thực hành các đức tin, giá trị và phong tục của mình với sự tự hào và tính chính danh nếu sự thực hành đó không phương hại đến sự thực hành văn hóa của cá nhân hay cộng đồng khác. Khi quyền đó được bảo đảm thì tức là an ninh văn hóa được bảo đảm, con người được thực hành hoạt động văn hóa, được khẳng định giá trị văn hóa và được tự hào một cách chính đáng về truyền thống văn hóa của mình” (Souder, Laura M. Torres, 2021).
Quan trọng hơn, theo Phạm Hồng Tung, chủ quyền văn hóa được xem là một bộ phận cấu thành quan trọng của chủ quyền quốc gia, giống như cương vực, lãnh thổ, lãnh hải, không phận, chủ quyền kinh tế, chủ quyền chính trị... “Bất kể một hợp phần nào của chủ quyền quốc gia bị xâm hại, bao gồm chủ quyền văn hóa, thì an ninh quốc gia cũng bị xâm hại. Vì vậy, quốc gia nào cũng có một số biểu tượng quốc gia như quốc kỳ, quốc ca, quốc huy, tín ngưỡng, ngôn ngữ,... được quốc gia đó bảo vệ đặc biệt. Thậm chí một số quốc gia còn xác định một loạt biểu tượng khác được bảo hộ, bảo vệ đặc biệt, như quốc hoa, quốc bảo, hình tượng một số công trình kiến trúc, tên tuổi, uy tín của một số danh nhân, anh hùng dân tộc, quốc phục, vũ điệu... Tất cả những biểu tượng cụ thể đó vừa tiêu biểu cho chủ quyền quốc gia, danh dự, uy tín quốc gia, đồng thời cũng là biểu tượng của bản sắc văn hóa của quốc gia - dân tộc. Vì thế, chúng được coi như đối tượng chính của an ninh văn hóa của một đất nước” (Phạm Hồng Tung, 2023).
Bên cạnh đó, một khái niệm đáng chú ý là “xâm lăng văn hóa” thuộc trường phái kinh tế - chính trị học nổi lên từ thập niên 1960 - 1970. Thuật ngữ này mô tả quá trình mà một quốc gia có sức mạnh kinh tế - quân sự áp đảo xuất khẩu và áp đặt các giá trị, chuẩn mực, mô hình tiêu dùng và lối sống của mình lên các quốc gia đang phát triển. Quá trình này diễn ra thông qua dòng chảy truyền thông một chiều, làm suy yếu hoặc xóa bỏ bản sắc văn hóa bản địa mà không cần dùng đến sức mạnh quân sự trực tiếp.
Là người đặt nền móng đầu tiên cho lý thuyết này, Herbert I. Schiller chỉ ra cách Mỹ sử dụng tập đoàn truyền thông và công nghệ thông tin như một công cụ mở rộng ảnh hưởng địa chính trị và tư tưởng trên toàn cầu. Sau đó, vào năm 1976, cũng chính Herbert I. Schiller hoàn chỉnh định nghĩa chính thức: Xâm lăng văn hóa là tập hợp các quá trình mà qua đó một xã hội đưa hệ thống các thiết chế của mình khớp nối với hệ thống thế giới hiện đại dưới sự thâm nhập của giá trị và cấu trúc từ quốc gia thống trị (Herbert I. Schiller, 1976).
Đóng góp thêm cho nội dung về xâm lăng văn hóa, Ariel Dorfman & Armand Mattelart (1971) đã tiến hành các phân tích ký hiệu học để chứng minh các truyện tranh giải trí tưởng chừng vô hại của Mỹ (như Vịt Donald) thực chất chứa đựng tư tưởng tư bản chủ nghĩa, chủ nghĩa tiêu dùng và sự áp đặt tư tưởng lên các nước Mỹ La-tinh. Sau đó, Oliver Boyd-Barrett (1977) bổ sung thêm khái niệm “đế quốc truyền thông”, một nhánh cốt lõi của xâm lăng văn hóa, tập trung vào sự mất cân bằng về quyền sở hữu, phân phối và nội dung truyền thông đại chúng giữa phương Tây và các nước thuộc thế giới thứ ba.
Trong kỷ nguyên mạng xã hội (Facebook, TikTok, YouTube, Instagram), lý thuyết xâm lăng văn hóa không bị lãng quên mà chuyển sang hình thái mới: Xâm lăng văn hóa số hay đế quốc nền tảng. Khác với truyền thông truyền thống (truyền hình, điện ảnh một chiều), xâm lăng văn hóa trên MXH diễn ra vi mô hơn nhưng có độ thẩm thấu sâu hơn. Các nền tảng mạng xã hội lớn thuộc sở hữu của các tập đoàn Big Tech (Meta, Google) hay các cường quốc công nghệ kiểm soát thuật toán phân phối nội dung. Thuật toán ưu tiên hiển thị các nội dung mang tính giật gân, chủ nghĩa tiêu dùng, chuẩn mực cái đẹp và lối sống kiểu phương Tây hoặc từ các cường quốc văn hóa. Trong bối cảnh đó, người dùng mạng xã hội (đặc biệt là giới trẻ) chủ động tiêu thụ, bắt chước (cover), sáng tạo lại các trào lưu (trend), ngôn ngữ, trang phục, thẩm mỹ từ ngoại quốc. Quá trình xâm lăng không còn là sự cưỡng ép mà thông qua tâm lý muốn hội nhập, sợ bị bỏ lại phía sau. Đặc biệt, ngôn ngữ mạng, tiếng lóng ngoại nhập và lối ứng xử cá nhân chủ nghĩa trên MXH cũng có nguy cơ dần thay thế các chuẩn mực giao tiếp truyền thống của văn hóa bản địa.
Dal Yong Jin đưa ra khái niệm “đế quốc nền tảng” và chứng minh rằng dù internet được quảng cáo là phi trung tâm, nhưng hầu hết hạ tầng, nền tảng MXH và sở hữu trí tuệ số toàn cầu hiện nay vẫn nằm trong tay các tập đoàn công nghệ Mỹ, tạo ra sự bất bình đẳng văn hóa số mới (Dal Yong Jin, 2015, tr2-7). Trong khi đó, Nick Couldry & Ulises A. Mejias (2019) phát triển lý thuyết “Chủ nghĩa thực dân dữ liệu” để chỉ ra rằng các ứng dụng, nền tảng và thiết bị thông minh thu thập và biến cuộc sống của chúng ta thành dữ liệu, sau đó trích xuất thông tin để nạp vào các doanh nghiệp tư bản rồi bán ngược lại cho chính chúng ta. Qua đó, các nền tảng MXH chiếm đoạt hành vi, trải nghiệm văn hóa của công chúng toàn cầu để định hình lại thói quen sinh hoạt và tư duy văn hóa của người dùng. Cùng với đó, Ramesh Srinivasan đã phân tích mạng xã hội phương Tây đang đe dọa làm suy yếu kiến thức, ngôn ngữ và các giá trị bản địa ở các quốc gia đang phát triển (Srinivasan, R., 2017).
Như vậy, không gian mạng chính là mặt trận chủ quyền số bởi xâm lăng văn hóa không còn dừng lại ở phim ảnh hay sách báo truyền thống, mà đã chuyển sang môi trường thuật toán và MXH. Do đó, bảo vệ chủ quyền văn hóa trên mạng là bảo vệ không gian tư tưởng và lối sống của thế hệ trẻ.
Bên cạnh đó, cần chuyển từ phòng thủ thụ động sang chủ động sáng tạo bởi theo các nhà nghiên cứu, không thể ngăn chặn xâm lăng văn hóa bằng cách đóng cửa hay cấm đoán thuần túy trên không gian mạng (Dal Yong Jin, 2015, tr2-7).
3.2. Thảo luận
Trong bối cảnh các nền tảng xuyên biên giới đang xóa nhòa các rào cản vật lý, việc mất khả năng kiểm soát và dẫn dắt dòng chảy văn hóa trên mạng đồng nghĩa với nguy cơ bị “xâm lăng tư tưởng”. Khi các hệ giá trị ngoại lai chiếm lĩnh tâm trí công chúng thông qua các sản phẩm giải trí, chúng sẽ dần làm xói mòn bản sắc và niềm tin. Chủ quyền văn hóa, bao gồm quyền tự quyết, quản lý và bảo vệ các giá trị tư tưởng của quốc gia, phải được xem là nhiệm vụ trọng yếu trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc.
Thực tiễn cho thấy, nếu không phát triển một nền CNVH nội địa đủ mạnh, chúng ta sẽ vô tình tạo ra những khoảng trống bị lấp đầy bởi các sản phẩm độc hại, mang quan điểm sai trái. Giải pháp căn cơ và bền vững nhất là phải chuyển tư duy từ phòng ngự thụ động sang tấn công chủ động: gia tăng độ phủ trên không gian mạng bằng các sản phẩm văn hóa số chất lượng cao, đủ sức hấp dẫn để chiếm lĩnh thời lượng sử dụng của người dân. Đây chính là công cụ truyền thông chiến lược để xác lập quyền lực mềm và xây dựng “hệ miễn dịch” tư tưởng cho công chúng trong kỷ nguyên số.
Trước hết, về chính sách thuế và tín dụng, cần ban hành các gói ưu đãi tài chính, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp và hỗ trợ lãi suất vay vốn chuyên biệt cho các doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực sáng tạo nội dung số lành mạnh. Cơ chế này không chỉ giảm bớt rủi ro tài chính ban đầu cho các startup sáng tạo mà còn thu hút nguồn lực xã hội đầu tư vào các sản phẩm văn hóa chuẩn mực.
Bên cạnh đó, cần đổi mới chính sách đặt hàng của Nhà nước theo hướng linh hoạt và hiện đại hóa; thay vì chỉ tập trung vào các hình thức nghệ thuật truyền thống, Nhà nước nên chủ động đặt hàng các dự án game, phim lịch sử, và tác phẩm nghệ thuật số mang tính giáo dục sâu sắc nhưng được sản xuất bằng công nghệ tiên tiến như Trí tuệ nhân tạo, Thực tế ảo hay đồ họa 3D... Sự kết hợp giữa nội dung chính thống và hình thức thể hiện hiện đại sẽ giúp các giá trị lịch sử, văn hóa dễ dàng tiếp cận và chinh phục thế hệ trẻ.
Ở góc độ hạ tầng công nghệ, việc nghiên cứu và phát triển các nền tảng phân phối nội dung số nội địa có khả năng cạnh tranh là giải pháp chiến lược nhằm từng bước giảm bớt sự phụ thuộc vào thuật toán phân phối của các tập đoàn Big Tech xuyên biên giới. Việc làm chủ hạ tầng số không chỉ giúp bảo vệ dữ liệu văn hóa quốc gia mà còn tạo ra không gian chủ động để định hướng, lan tỏa các giá trị văn hóa tích cực, góp phần xây dựng thế trận an ninh văn hóa vững chắc trong kỷ nguyên số.
Song song với đó, cần đổi mới phương thức kiến tạo sản phẩm văn hóa số, kết hợp hài hòa giữa bản sắc dân tộc và tư duy truyền thông hiện đại. Việc ứng dụng các xu hướng mới để tạo ra các sản phẩm đa phương tiện (âm nhạc, điện ảnh, nghệ thuật số...) không chỉ đáp ứng thị hiếu của thế hệ trẻ mà còn khéo léo định hướng tư tưởng. Khi một sản phẩm có sức hấp dẫn tự thân, nó sẽ tự động lan tỏa, giúp cộng đồng mạng chủ động tẩy chay các luồng văn hóa lai căng và vô hiệu hóa những luận điệu xuyên tạc.
Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò nòng cốt của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ và những người sáng tạo nội dung- những “đại sứ quyền lực mềm”. Trong kỷ nguyên mới, lực lượng này cần được nhìn nhận như những chiến sĩ bảo vệ chủ quyền trên mặt trận tư tưởng. Khi mỗi cá nhân ý thức được sứ mệnh của mình, họ sẽ sử dụng sức ảnh hưởng để lan tỏa lối sống đẹp, tạo ra “màng lọc” văn hóa vững chắc trước các biểu hiện lệch chuẩn.
Như vậy, sự phối hợp nhịp nhàng giữa công nghệ, hành lang pháp lý và năng lực sáng tạo sẽ hình thành thế trận an ninh văn hóa liên hoàn, giúp Việt Nam vừa bảo vệ vững chắc chủ quyền số, vừa chủ động vươn tầm quốc tế.
4. Kết luận
Để phát huy vai trò “vũ khí sắc bén” của CNVH, cần tập trung lan tỏa các mô hình sáng tạo kết hợp tư duy hiện đại với bản sắc dân tộc, đồng thời đầu tư công phu cho các tác phẩm đa phương tiện có khả năng “phủ xanh” không gian mạng bằng những giá trị tích cực. Song song với đó là việc xây dựng hệ sinh thái số và thế trận thông tin liên hoàn, tạo cơ chế phối hợp đồng bộ giữa giải pháp công nghệ với đấu tranh chính trị, tư tưởng và pháp lý để tháo gỡ các điểm nghẽn trong tuyên truyền, giữ vững thế chủ động tấn công trên mọi nền tảng số.
Lực lượng nòng cốt quyết định sức mạnh của chiến lược này chính là đội ngũ trí thức, giảng viên và nghệ sĩ, những người cần nêu cao trách nhiệm kiến tạo, định hướng giá trị và tuân thủ nghiêm túc đạo đức nghề nghiệp cũng như đường lối của Đảng. Việc bồi dưỡng bản lĩnh chính trị và khích lệ tinh thần đổi mới sáng tạo sẽ biến mỗi tác phẩm văn hóa thành một chiến sĩ bảo vệ nền tảng tư tưởng từ sớm, từ xa. Thực hiện đồng bộ các giải pháp này không chỉ bảo vệ vững chắc chế độ mà còn nâng cao uy tín quốc gia, tạo sự đồng thuận để đất nước vững vàng bước vào kỷ nguyên phát triển mới./.
Trích dẫn bài báo
Bài liên quan
- Literature review and methodology in doctoral journalism research
- Bạo lực học đường ở học sinh trung học phổ thông và giải pháp công tác xã hội trong can thiệp phòng ngừa
- Điểm mới của giáo dục địa phương trong chương trình giáo dục phổ thông 2018 và những vấn đề đặt ra đối với công tác tổ chức bản thảo sách
- Nhu cầu sử dụng mạng xã hội của sinh viên Học viện Phụ nữ Việt Nam
- Sự tương tác giữa người dạy và người học trong dạy học ở bậc đại học
llcttt1994dientu@gmail.com
02438348033


