Vai trò của video trong tác phẩm báo chí đa phương tiện
Thông tin trở nên sinh động và hấp dẫn hơn
Hầu hết các tác phẩm báo chí trên báo điện tử hiện nay sử dụng text và hình ảnh tĩnh để truyền tải thông tin tới độc giả. Đây là cách đưa tin truyền thống được sử dụng phổ biến từ khi báo điện tử mới ra đời cho tới nay. Chính vì thế, việc tiếp nhận thông tin thông qua việc đọc đã trở nên nhàm chán, và không mang lại hiệu quả cao. Việc sử dụng video trong tác phẩm báo chí mang lại cho công chúng của loại hình báo điện tử một phương thức tiếp nhận thông tin hoàn toàn mới đó là “xem”. Thông tin không còn là những con chữ nối tiếp nhau từ đầu tới cuối tác phẩm, mà thông tin được thể hiện bằng các video, clip đó là những chuỗi hình ảnh động nối tiếp nhau, có âm thanh được ghi âm trực tiếp từ hiện trường, từ mỗi câu chuyện trong cuộc sống. Chính cách truyền tải thông tin này, giúp các tác phẩm trở nên vô cùng sinh động và hấp dẫn, mang lại cho người xem cảm xúc thật, như họ đang được tận mắt chứng kiến diễn biến của sự việc, vấn đề đang xảy ra ngoài cuộc sống. Nhờ sự hấp dẫn và sinh động, video kích thích trực quan tới độc giả và thu hút độc giả hơn.
Sự kiện 37 năm ngày tổng động viên chống quân Trung Quốc xâm lược bằng video trên trang Vnexpress ngày 5/3/2016, khiến công chúng được nghe thấy âm thanh của lời kêu gọi, được nhìn thấy hình ảnh của các chiến sỹ triệu người như một đồng lòng kháng chiến, rõ ràng những hình ảnh, âm thanh đó mang lại cho độc giả một cảm xúc nhất định về sự việc, mà nếu chỉ truyền tải thông tin đơn thuần bằng chữ viết sẽ không thể có được.
Tăng tính khách quan, chân thực của thông tin
Việc bảo đảm thông tin được truyền tải tới công chúng được khách quan và chân thực nhất là điều rất quan trọng. Thông tin mà mỗi tác phẩm báo chí truyền tải tới công chúng qua video chính là một lát cắt của cuộc sống, có địa điểm cụ thể, có ngày giờ rõ ràng, thời gian và không gian. Chính vì thế, thông tin mà video truyền tải sẽ khiến cho độc giả hoàn toàn tin tưởng.
Khi đưa tin về buổi làm việc của Bí thư Thành ủy TP. Hồ Chí Minh Đinh La Thăng với các bệnh viện tại Thành phố ngày 6/3/2016, video về sự kiện đó, gồm có những cử chỉ hành động ân cần của ông dành cho các bệnh nhân, những lời nói, dặn dò cẩn thận của ông đối với các cơ sở y tế... đã phản ánh đúng tính chất khách quan của sự việc, giúp cho người xem có cái nhìn đúng đắn nhất về sự kiện.
Tăng view, tăng nguồn thu cho cơ quan báo chí
Trước đây view (số lượt xem) được xem là một trong các yếu tố hàng đầu quyết định tới sự thành công của tác phẩm báo chí. Tác phẩm báo chí có hiệu quả hay không, có mang lại giá trị thông tin hay không, các tòa soạn báo thường căn cứ vào số lượt xem. Nhưng hiện nay, bên cạnh view các tòa soạn và các cơ quan báo điện tử còn quan tâm tới sự tương tác của tác phẩm, của tin bài đối với công chúng, thông qua lượt like, comment, hay lượt chia sẻ trên mạng xã hội. Vì sao lại thế? Đó là do các tòa soạn báo đã nắm bắt được tâm lý của độc giả, một tin bài hay, có giá trị thông tin cao, công chúng không chỉ vào đọc tin đơn thuần, mà họ còn muốn chia sẻ những thông tin đó cho mọi người, cho bạn bè... vì thế tin bài nào có tính tương tác càng cao, chắc chắn sẽ có lượng view cao.
Nguồn thu của các cơ quan báo điện tử, phụ thuộc hoàn toàn vào doanh thu đến từ quảng cáo. Quảng cáo nhiều hay ít, đắt hay rẻ phụ thuộc vào lượt view. Chính vì thế tăng view chính là tăng nguồn thu cho cơ quan báo điện tử.
Vậy tại sao khi sử dụng video trong tác phẩm báo chí đa phương tiện lại giúp cho tác phẩm tăng được view, tăng được sự tương tác với độc giả. Bất kỳ tác phẩm báo chí đa phương tiện nào có sử dụng video để hỗ trợ thêm thông tin cho tin bài, thì bên cạnh mỗi tiêu đề thường có hình chiếc camera đính kèm.
Ngoài việc đọc chữ, việc xem video, nghe âm thanh, độc giả còn được cảm nhận, bàn luận, tranh luận và phản hồi... dễ mang lại cảm xúc cho công chúng hơn.
Thông tin trở nên dễ hiểu, cô đọng, súc tích và dễ tiếp nhận hơn
Bất cứ cái gì chuyển động cũng làm ta tò mò và thu hút hơn so với những gì đứng yên. Hơn nữa sự chuyển động đó lại đang kể về một “câu chuyện” thì nó lại càng thu hút sự chú ý của mọi người. Nhờ vào yếu tố gây chú ý cho độc giả, khuyến khích họ tập trung theo dõi và ghi nhớ thông tin. Video có khả năng kể chuyện nhưng không cần giải thích, mà công chúng vẫn có thể hiểu toàn bộ nội dung câu chuyện đang diễn ra, điều đó giúp công chúng tiếp nhận thông tin dễ dàng và nhanh chóng hơn. Tất cả thông tin cần diễn đạt đều gói gọn trong các hình ảnh, độc giả không cần mất nhiều thời gian để đọc dài dòng và tưởng tượng, mà chỉ việc xem và nắm bắt thông tin.
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, quá trình tiếp nhận thông tin của con người bằng mắt thông qua việc xem, nghe, nhìn lưu lại thông tin tốt hơn việc đọc, và hình ảnh lưu lại trong trí nhớ tốt hơn là từ ngữ. Và đặc biệt việc sử dụng video giúp cho quá trình tiếp nhận thông tin ngắn hơn, tiết kiệm được nhiều thời gian hơn. Thay vì đọc những tin bài dài, với tác phẩm báo chí đa phương tiện có sử dụng video để cung cấp thông tin độc giả chỉ mất 2 tới 3 phút như khi đưa tin về vụ xe Camry gây tai nạn liên hoàn tại Hà Nội khiến 3 người chết vào ngày 29/2/2016.
Rõ ràng, nếu thông tin đó chỉ được truyền tải tới độc giả qua câu chữ thì có lẽ thông tin này không thể tạo nên được sóng trong dư luận. Do có video ghi lại cụ thể diễn biến của sự việc nên công chúng dễ dàng nhìn thấy diễn biến của sự việc và thấy được mức độ nghiêm trọng của vấn đề này như thế nào. Video chỉ có thời lượng 30 giây nhưng đã truyền tải được toàn bộ thông tin liên quan tới sự việc./.
|
Một số tòa soạn còn chưa ý thức được tầm quan trọng và tính ưu việt của video nên chưa có sự đầu tư thỏa đáng, dẫn tới việc sử dụng các tranh, ảnh minh họa, không có giá trị thông tin, thiếu tính hấp dẫn đối với công chúng. Hiểu được vai trò và tầm quan trọng của việc sử dụng video trong tác phẩm báo chí đa phương tiện để các tòa soạn, lãnh đạo các cơ quan báo chí xác định hướng đi quan trọng cho báo mạng điện tử. |
__________________________
Bài viết đăng trên Tạp chí Người Làm Báo điện tử ngày 01.7.2016
Dương Hải Anh
Tạp chí Người Làm Báo số 385 - Tháng 3/2016
Nguồn: http://nguoilambao.vn
Bài liên quan
- Báo chí Hà Nội với vấn đề xây dựng tòa soạn hội tụ trong bối cảnh chuyển đổi số
- Hành vi tiếp nhận sản phẩm truyền thông tạo sinh bởi AI của công chúng trẻ hiện nay
- Truyền thông giáo dục giới tính cho sinh viên các trường đại học ở Hà Nội trên nền tảng YouTube hiện nay
- Quản trị truyền thông ứng phó với thiên tai của Đài Truyền hình Việt Nam trong bối cảnh truyền thông số hiện nay
- Công tác thông tin về thị trường chứng khoán và trái phiếu doanh nghiệp trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay: Vấn đề đặt ra và một số khuyến nghị
Xem nhiều
-
1
Những biểu hiện của chuyển đổi số báo chí và yêu cầu nâng cao năng lực số của nhà báo truyền hình ở Việt Nam hiện nay
-
2
Hoạt động marketing bền vững của các thương hiệu Unilever và Coca Cola tại Việt Nam hiện nay
-
3
Vai trò của báo chí trong công cuộc phòng, chống kỳ thị phụ nữ và giới tính thứ ba tại Việt Nam
-
4
Công tác thông tin về thị trường chứng khoán và trái phiếu doanh nghiệp trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay: Vấn đề đặt ra
và một số khuyến nghị
-
5
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong cải cách hành chính và tinh gọn bộ máy Nhà nước hiện nay
-
6
Văn hóa tham gia truyền thông số hậu Covid-19 ở Việt Nam (từ tham chiếu khung lý thuyết của Jenkins)
Liên kết
- Báo điện tử đảng cộng sản việt nam
- Báo nhân dân
- Báo Quân đội nhân dân
- Cổng thông tin điện tử Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia hồ chí minh
- Tạp chí Cộng sản
- Tạp chí Giáo dục lý luận
- Tạp chí Giáo dục và Xã hội
- Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
- Tạp chí Lý luận chính trị
- Tạp chí Nghiên cứu con người
- TẠP CHÍ Nghiên cứu dân tộc
- Tạp chí Người làm báo
- Tạp chí Nội chính
- Tạp chí Quản lý Nhà nước
- Tạp chí Tổ chức Nhà nước
- Tạp chí Tuyên giáo
- Tạp chí Xây Dựng Đảng
- Thư viện số Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Trang thông tin điện tử Hội đồng Lý luận Trung ương
Quản trị truyền thông thương hiệu ngân hàng thương mại cổ phần vốn nhà nước chi phối ở Việt Nam
Trong hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam, các ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) có vốn nhà nước chi phối vừa là chủ thể kinh doanh, vừa thực thi mục tiêu ổn định vĩ mô, nên thương hiệu mang bản chất thể chế - thương mại, gắn với niềm tin về sự an toàn, minh bạch. Trong bối cảnh chuyển đổi số và cạnh tranh gia tăng, quản trị truyền thông (QTTT) thương hiệu của các ngân hàng này đối mặt “nghịch lý thể chế - tốc độ”: cơ chế quản trị nhiều tầng kiểm soát bảo đảm an toàn nhưng làm chậm phản ứng trước dòng chảy thông tin nhanh. Dựa trên khung lý thuyết về thương hiệu thể chế cùng dữ liệu khảo sát khách hàng và phỏng vấn cán bộ truyền thông do tác giả thực hiện, bài báo nhận diện ba biểu hiện của nghịch lý này và đề xuất tiếp cận QTTT thương hiệu như năng lực điều hành niềm tin thể chế, với ba trụ cột: quyền lực truyền thông; xây dựng hệ thông dữ liệu và cảnh báo sớm; thiết lập chế độ đối thoại với các nhóm công chúng.
Báo chí Hà Nội với vấn đề xây dựng tòa soạn hội tụ trong bối cảnh chuyển đổi số
Báo chí Hà Nội với vấn đề xây dựng tòa soạn hội tụ trong bối cảnh chuyển đổi số
Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, việc xây dựng và vận hành tòa soạn hội tụ là xu hướng phát triển của báo chí truyền thông hiện đại. Thời gian qua, các cơ quan báo chí Hà Nội đã và đang tích cực xây dựng mô hình tòa soạn hội tụ nhằm đổi mới phương thức sản xuất, nâng cao chất lượng thông tin để đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng số. Bài viết sử dụng phương pháp phân tích tài liệu và khảo sát thực tiễn để luận giải về cơ sở lý luận, chính sách (chiến lược quốc gia và cấp thành phố) và đánh giá khách quan thực trạng xây dựng tòa soạn hội tụ tại các cơ quan báo chí Thủ đô. Từ đó, đề xuất một khung giải pháp đồng bộ về quản trị dữ liệu, ứng dụng công nghệ AI/Big Data, phát triển nhân lực đa kỹ năng và cơ chế chính sách đặc thù nhằm hoàn thiện mô hình hội tụ, nâng cao năng lực định hướng thông tin của báo chí Hà Nội.
Hành vi tiếp nhận sản phẩm truyền thông tạo sinh bởi AI của công chúng trẻ hiện nay
Hành vi tiếp nhận sản phẩm truyền thông tạo sinh bởi AI của công chúng trẻ hiện nay
Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI) đã tạo ra một thế hệ các sản phẩm truyền thông mới được sản xuất hoàn toàn hoặc một phần bởi công nghệ AI như tin tức, hình ảnh, video cho đến nội dung quảng cáo… Trong bối cảnh đó, sinh viên trở thành đối tượng quan trọng để nghiên cứu khả năng thích ứng với các sản phẩm truyền thông do AI tạo ra. Bài viết này nhằm phân tích mức độ nhận biết, thái độ và hành vi tiếp nhận của công chúng trẻ đối với nội dung truyền thông được tạo sinh bởi AI, đồng thời xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thích ứng, bao gồm nhận thức về tính hữu ích, niềm tin vào độ xác thực, kỹ năng truyền thông số và năng lực phản biện thông tin. Từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực nhận diện và ứng xử có trách nhiệm với nội dung AI của công chúng trẻ hiện nay.
Truyền thông giáo dục giới tính cho sinh viên các trường đại học ở Hà Nội trên nền tảng YouTube hiện nay
Truyền thông giáo dục giới tính cho sinh viên các trường đại học ở Hà Nội trên nền tảng YouTube hiện nay
Giáo dục giới tính (GDGT) là hoạt động cần thiết nhằm đảm bảo cho sức khỏe sinh sản của giới trẻ. Tuy nhiên, ở môi trường học đường Việt Nam, hoạt động này vẫn còn nhiều hạn chế. Trước sự phát triển của mạng xã hội, YouTube là kênh giáo dục tiềm năng nhờ tính trực quan, gần gũi với sinh viên. Bài viết này khảo sát thực trạng, đánh giá tiềm năng và đề xuất giải pháp ứng dụng YouTube trong GDGT cho sinh viên đại học Hà Nội nhằm cải thiện sức khỏe sinh sản và tinh thần cho thế hệ trẻ.
Quản trị truyền thông ứng phó với thiên tai của Đài Truyền hình Việt Nam trong bối cảnh truyền thông số hiện nay
Quản trị truyền thông ứng phó với thiên tai của Đài Truyền hình Việt Nam trong bối cảnh truyền thông số hiện nay
Bài viết tập trung phân tích hoạt động và hiệu quả quản trị truyền thông ứng phó với thiên tai của Đài Truyền hình Việt Nam (ĐTHVN) trong bối cảnh truyền thông số, dựa trên phân tích nội dung tác phẩm và khảo sát ý kiến công chúng theo dõi các kênh truyền thông của ĐTHVN. Nghiên cứu chỉ ra rằng: hệ thống truyền thông ứng phó với thiên tai của ĐTHVN đã đảm bảo tính chính xác và kịp thời, song vẫn còn thiếu cơ chế phản hồi hai chiều và quản trị dữ liệu liên thông. Từ đó, bài viết đề xuất mô hình “quản trị truyền thông ứng phó thiên tai bốn tầng”, hướng đến mục tiêu xây dựng năng lực quản trị thông tin quốc gia trong điều kiện số hóa toàn diện.
llcttt1994dientu@gmail.com
024.38348033
Bình luận