Xây dựng văn hóa Đảng Cộng sản Việt Nam trong kỷ nguyên số Kỳ 2: Nhận diện nguy cơ "giặc nội xâm” từ góc nhìn văn hóa Đảng
Building the culture of Communist Party of Vietnam in digital era Part 2: Identifying threat of “internal enemies” from the perspective of Party culture
| Đặng Thanh Phương | phuongdtajc@gmail.com | Học viện Báo chí và Tuyên truyền |
Tóm tắt:
Abstract:
Từ khóa:
Văn hóa Đảng, giặc nội xâm, suy thoái tư tưởng, văn hóa tranh luận, môi trường số
Keyword:
Party culture, internal enemies, ideological degradation, culture of debate, digital environment
Nội dung:
1. Đặt vấn đề
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số toàn diện đã mở rộng mạnh mẽ không gian giao tiếp xã hội, đồng thời làm gia tăng chưa từng có khả năng xâm nhập của thông tin sai trái, xuyên tạc, phản văn hóa. Khi internet và mạng xã hội bao phủ gần như toàn bộ đời sống công cộng, thì mọi biểu hiện dao động trong nhận thức, niềm tin, kỷ luật phát ngôn, đạo đức công vụ và trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên đều có thể nhanh chóng trở thành “điểm tựa” để các quan điểm sai trái khai thác, khuếch đại và tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Chính vì vậy, Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị nhấn mạnh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thực chất là bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng, công cuộc đổi mới, lợi ích quốc gia - dân tộc. Kết luận số 89-KL/TW ngày 25/7/2024 yêu cầu gắn chặt công tác tư tưởng với kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng ngành, từng lĩnh vực.
Nhìn từ lăng kính văn hóa chính trị và quy luật vận động của lịch sử, mọi tác động tiêu cực từ bên ngoài chỉ có thể phát huy tác dụng khi "cơ thể" Đảng xuất hiện những "căn bệnh" từ bên trong. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn, một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân (Hồ Chí Minh, 2011). Do đó, sự tấn công của các thế lực thù địch dù thâm độc đến đâu cũng không đáng sợ bằng "giặc nội xâm" - sự biến chất, tha hóa từ chính nội bộ. Việc nhận diện rõ những mầm mống tha hóa văn hóa Đảng trên mặt trận tư tưởng hiện nay là đòi hỏi mang tính sinh tử để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết áp dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích sự biến đổi của văn hóa chính trị trong môi trường truyền thông mới. Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành như phân tích văn bản pháp quy, tổng kết thực tiễn thông qua việc tổng hợp dữ liệu thống kê chính thức (số liệu người dùng internet, số liệu kỷ luật đảng năm 2024–2026), và phương pháp so sánh đối chiếu giữa chuẩn mực văn hóa Đảng với các biểu hiện lệch chuẩn trong thực tế.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Kết quả nghiên cứu
3.1.1. Sự suy thoái tư tưởng chính trị: Biểu hiện của "sự tự hủ hóa" văn hóa
Nhìn từ lăng kính văn hóa chính trị và quy luật vận động của lịch sử, mọi tác động tiêu cực từ bên ngoài chỉ có thể phát huy tác dụng khi "cơ thể" Đảng xuất hiện những "căn bệnh" từ bên trong. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn, một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân. Do đó, sự tấn công của các thế lực thù địch dù thâm độc đến đâu cũng không đáng sợ bằng "giặc nội xâm" này.
Văn hóa Đảng, ở tầng nấc sâu sắc nhất, chính là nền tảng tư tưởng, triết lý và niềm tin chính trị vững chắc của đội ngũ cán bộ, đảng viên vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Sự thống nhất về tư tưởng tạo nên sức mạnh vô song của Đảng. Tuy nhiên, một thực trạng nhức nhối đã được Đảng ta nhận diện: “Một bộ phận tổ chức đảng, cán bộ đảng viên suy thoái, thiếu tiên phong gương mẫu, mất tính đảng, biểu hiện “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” xa rời mục đích, lý tưởng, bản chất của Đảng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Sự dao động, mất phương hướng này không chỉ đơn thuần là sự yếu kém về mặt nhận thức chính trị, mà chính là sự "tự hủ hóa", tự tha hóa văn hóa, tự biến chất và phản văn hóa. Sự hoài nghi lý tưởng là bước đệm đầu tiên dẫn đến sự "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Khi một người đảng viên đánh mất niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, họ đã tự tước bỏ vũ khí tư duy sắc bén nhất, tự đẩy mình vào khoảng trống văn hóa chính trị và tất yếu sẽ bị lấp đầy bởi các luồng tư tưởng dân túy, cực đoan đang lan truyền với tốc độ ánh sáng trên không gian số. Môi trường số đóng vai trò như một chất gia tốc cực mạnh thúc đẩy quá trình tha hóa này. Với cơ chế lan truyền thông tin phi tập trung, thuật toán hướng cá nhân hóa và các hiệu ứng “buồng phản ngôn” (echo chambers), mạng xã hội có khả năng khuếch đại cảm xúc, làm lu mờ lý trí và bóp méo sự thật chính trị. Nguyên nhân sâu xa của sự tha hóa nhận thức này bắt nguồn từ bệnh giáo điều và thói lười học tập lý luận chính trị: “việc tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh có lúc, có nơi còn sơ cứng, giáo điều, thậm chí có nơi chưa thực sự coi trọng. Việc học tập quán triệt nghị quyết của Đảng vẫn có biểu hiện hình thức” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Trong thời đại tri thức bùng nổ, khi sự biến đổi của thế giới diễn ra từng ngày, từng giờ, không ít cán bộ vẫn giữ phương pháp tư duy cảm tính, chủ nghĩa kinh nghiệm hoặc thực dụng. Họ xem nhẹ lý luận, coi việc học tập chính trị là hình thức để thăng tiến. Hậu quả là, khi đối mặt với những luận điệu xuyên tạc tinh vi, ngụy tạo bằng những vỏ bọc "khoa học" của các học giả tư sản phương Tây trên mạng xã hội, họ trở nên lúng túng, không đủ sức đề kháng và dễ dàng bị đánh gục. Lười học tập lý luận chính là biểu hiện của "nạn mù chữ" kiểu mới về văn hóa chính trị, khiến cán bộ, đảng viên không bắt kịp vận tốc của thời đại và tụt hậu về tư duy. Quy định số 144-QĐ/TW về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới yêu cầu cán bộ, đảng viên phải kiên quyết bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chủ động phòng ngừa suy thoái, chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm, giữ gìn danh dự, uy tín của bản thân và của tổ chức đảng. Cách đặt vấn đề này cho thấy phòng, chống suy thoái tư tưởng ở cấp độ sâu nhất chính là bảo vệ văn hóa chính trị cách mạng trong từng con người đảng viên (Báo điện tử Chính phủ, 2024). Tính chất cấp bách của vấn đề càng trở nên rõ rệt trong môi trường truyền thông số. Đầu năm 2025, Việt Nam có khoảng 79,8 triệu người sử dụng internet và 76,2 triệu tài khoản mạng xã hội 96,4% thôn, bản đã có internet cáp quang, 82,9% hộ gia đình dùng internet cáp quang băng rộng (Báo điện tử Chính phủ, 2025). Với quy mô ấy, bất kỳ “độ trễ” nào về lý luận, bản lĩnh hay năng lực xử lý tình huống tư tưởng cũng có thể bị thông tin xấu độc khai thác ngay lập tức. Trên bình diện xây dựng, chỉnh đốn Đảng năm 2024 cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp thi hành kỷ luật 709 tổ chức đảng và 24.097 đảng viên vi phạm. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 68 cán bộ diện Trung ương quản lý. Trong đó, lần đầu tiên Bộ Chính trị đã thi hành kỷ luật 02 đồng chí nguyên là lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước do vi phạm quy định trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao và trong phòng chống tham nhũng tiêu cực, vi phạm những điều đảng viên không được làm, trách nhiệm nêu gương (Thông tin nội chính Trung ương, 2024). Trong nhiệm kỳ đại hội XI, XII, XIII của Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy các cấp, chi bộ đã thi hành kỷ luật 660 tổ chức đảng và 59.200 đảng viên (trong đó có 20.524 cấp ủy viên, chiếm 35%) (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Những con số ấy không chỉ phản ánh cường độ của xung đột tư tưởng trong môi trường số, mà còn cho thấy mức độ hiện hữu của “giặc nội xâm” nếu không được nhận diện và xử lý từ gốc bằng xây dựng văn hóa trong Đảng.
Nghị quyết số 80-NQ/TW đã đi thẳng vào bản chất của mối quan hệ này khi xác định văn hóa phải “thấm sâu” vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng, nguồn lực nội sinh, đồng thời yêu cầu phát huy vai trò nền tảng của văn hóa trong việc hình thành bản lĩnh và “sức đề kháng” trước các tác động phức tạp, lệch chuẩn của văn hóa ngoại lai. Nghị quyết cũng chỉ rõ một thực tế đáng suy nghĩ: môi trường văn hóa chưa thật sự lành mạnh và sự bùng nổ nền tảng trực tuyến xuyên biên giới đã kéo theo những yếu tố phản cảm, phi văn hóa. Bởi vậy, nếu nội bộ Đảng không chủ động tự nâng trình độ lý luận, cập nhật tri thức mới và rèn luyện bản lĩnh số, thì sẽ rất dễ rơi vào tình trạng bị động trước làn sóng thông tin phức tạp. Những con số ấy cho thấy không gian tư tưởng hiện nay là một chiến trường thực sự, nơi ngoại lực phá hoại vận động với tốc độ rất nhanh; vì vậy, yêu cầu xây dựng “sức đề kháng” từ bên trong càng phải được đặt lên hàng đầu.
3.1.2. Sự xói mòn của "Văn hóa tranh luận" trong sinh hoạt Đảng
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, đặc biệt trước những vấn đề mới và phức tạp của bối cảnh hội nhập, việc xuất hiện các ý kiến khác nhau đòi hỏi văn hóa tranh luận trong sinh hoạt Đảng không phải là sự đối đầu cảm tính, càng không phải sự buông lỏng phát ngôn; đó là năng lực sử dụng lý luận, thực tiễn và nguyên tắc tổ chức để làm sáng tỏ vấn đề, bảo vệ chân lý, loại bỏ lệch lạc ngay từ trong nội bộ. Văn hóa tranh luận dân chủ, thẳng thắn, dựa trên tình đồng chí yêu thương lẫn nhau chính là "bộ lọc" tốt nhất để tìm ra chân lý. Chính vì vậy, Quy định số 19-QĐ/TW ngày 08/4/2026 về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng yêu cầu thực hành và phát huy dân chủ trong sinh hoạt đảng, đi đôi với siết chặt kỷ luật, kỷ cương, kỷ luật phát ngôn; đồng thời coi chủ động nắm bắt tình hình tư tưởng, đánh giá và định hướng dư luận (Hệ thống tư liệu văn kiện Đảng, 2026).
Biểu hiện tha hóa trong văn hóa Đảng hiện nay ở sự xói mòn nghiêm trọng "văn hóa tranh luận". Đáng buồn thay, trong nội bộ Đảng vẫn còn những kẻ cơ hội, luồn lách, tôn thờ triết lý sống thực dụng "ngậm miệng ăn tiền", "im lặng là vàng". Họ mắc căn bệnh a dua, "thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi", thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh, che giấu sự thật và dối trá với Đảng. Thái độ nể nang, né tránh, dĩ hòa vi quý này không phải là biểu hiện của sự đoàn kết, mà là sự đồng thuận hình thức, một vỏ bọc giả tạo che giấu sự rệu rã về tinh thần chiến đấu.
Đáng nguy hại hơn, vẫn còn tình trạng nhiều người đồng nhất việc tranh luận, phản biện khoa học trong tổ chức với tình trạng mất đoàn kết nội bộ. Ở một số nơi, sự chuyên quyền, độc đoán của người đứng đầu đã bóp nghẹt dân chủ. Thay vì đối thoại bình đẳng, công khai và thẳng thắn, người ta lại sử dụng các thủ đoạn phản văn hóa như "chụp mũ", "trấn áp", "cả vú lấp miệng em" hoặc trù dập những người có ý kiến khác biệt. Những thái độ thiếu văn hóa, phản văn hóa này đã triệt tiêu sức sáng tạo, làm thui chột tính tiên phong của đảng viên, biến các buổi sinh hoạt chi bộ thành những diễn đàn một chiều, sáo rỗng. Khi văn hóa tranh luận bị thủ tiêu, khả năng tự miễn dịch của Đảng suy giảm, tạo mảnh đất màu mỡ cho những luồng thông tin độc hại từ bên ngoài xâm nhập và phá hoại nền tảng tư tưởng. Sự xói mòn văn hóa tranh luận khiến nội bộ mất dần khả năng tự thanh lọc. Khi đúng - sai không còn được phân định bằng tranh luận thẳng thắn, bằng thực chứng và nguyên tắc, thì cái sai dễ ẩn náu sau lớp vỏ đoàn kết hình thức; còn cái đúng, cái mới, cái dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung lại có thể bị cô lập. Nghị quyết số 45-NQ/TW vì vậy không chỉ nói về chính sách đối với trí thức, mà còn nêu một vấn đề có ý nghĩa rộng hơn đối với đời sống chính trị: phải tôn trọng tự do tư tưởng, học thuật, thực hành dân chủ trong hoạt động nghiên cứu, đồng thời lắng nghe, tham vấn, đối thoại, tôn trọng ý kiến của đội ngũ trí thức (Báo điện tử Chính phủ, 2024).Tinh thần ấy, khi vận dụng vào sinh hoạt Đảng, chính là yêu cầu phải phục hồi không khí tranh luận có văn hóa, có nguyên tắc, có tinh thần trách nhiệm, qua đó khắc phục thái độ ngại bày tỏ chính kiến và tâm lý đứng ngoài cuộc trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm. Ở góc độ thực tiễn lãnh đạo, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực những năm gần đây cũng cho thấy Đảng không chấp nhận sự “dĩ hòa vi quý” vô nguyên tắc. Thông báo Phiên họp thứ 27 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực khẳng định năm 2024 xử lý kiên quyết, nghiêm minh các sai phạm nhưng đồng thời chú trọng phân hóa trong xử lý đối tượng vi phạm, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, vì lợi ích chung. Điều đó có nghĩa là văn hóa tranh luận và đấu tranh trong Đảng phải được đặt lên hai trụ cột đồng thời: không nương tay với sai phạm, nhưng cũng không triệt tiêu những người có bản lĩnh đổi mới thật sự. Nếu thiếu tiêu chuẩn văn hóa này, sinh hoạt Đảng rất dễ trượt sang hai trạng thái cực đoan: hoặc buông lỏng, hoặc thủ tiêu sáng tạo.
3.1.3. Tha hóa đạo đức, lối sống thực dụng và hệ lụy đối với uy tín cầm quyền của Đảng
Nếu suy thoái tư tưởng chính trị làm rạn nứt niềm tin thì lối sống thực dụng và sự băng hoại đạo đức lại trực tiếp làm vẩn đục môi trường văn hóa Đảng. Ở bình diện này, “giặc nội xâm” hiện ra không chỉ bằng các vụ án tham nhũng lớn, mà còn bằng một lối sống vụ lợi, cơ hội, coi quyền lực như nguồn tài nguyên riêng, coi chức vụ như phương tiện đổi chác, coi trách nhiệm công vụ như thứ có thể mặc cả. Khi đó, chuẩn mực người cán bộ cách mạng bị đảo lộn: lợi ích cá nhân lấn át lợi ích chung; lợi ích nhóm lấn át kỷ cương tổ chức; uy tín bề ngoài được ưu tiên hơn phẩm giá, danh dự và sự liêm chính thực chất. Nghị quyết số 80-NQ/TW nhìn thẳng vào nguy cơ này khi yêu cầu chấn chỉnh, hạn chế, đẩy lùi các biểu hiện tiêu cực, suy thoái về đạo đức, lối sống, thực dụng, “lợi ích nhóm” trong hoạt động văn hóa; đồng thời nhấn mạnh phải làm trong sạch môi trường văn hóa số và gắn văn hóa nêu gương của cán bộ, đảng viên với xây dựng văn hóa trong Đảng và hệ thống chính trị.
Trong Quy định số 144-QĐ/TW về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên giai đoạn mới đã cụ thể hóa yêu cầu ấy ở cấp độ đạo đức công vụ và đạo đức chính trị. Cán bộ, đảng viên không những phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, mà còn quy định rất rõ: không tham ô, tham nhũng, tiêu cực, không gây phiền hà, sách nhiễu; chủ động phòng ngừa chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; không cơ hội chính trị, không tham vọng quyền lực; không để gia đình, người thân lợi dụng chức vụ để trục lợi; và phải thực hành văn hóa từ chức khi không đủ khả năng, uy tín (Báo điện tử Chính phủ, 2024). Từ góc nhìn văn hóa Đảng, đây là sự chuyển hóa rất quan trọng trong nhận thức của Đảng từ những lời kêu gọi đạo đức chung chung sang các chuẩn mực có thể kiểm tra, giám sát và quy trách nhiệm.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng đưa ra một cảnh báo mang tính chân lý: Một công dân bình thường thiếu lương tâm thì khó có thể đục khoét nhân dân. Nhưng một người có quyền mà thiếu lương tâm thì sẽ có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút lót. Quyền hành được trao vào tay một cán bộ thoái hóa, biến chất thì nguy hiểm hơn lưỡi gươm trong tay đao phủ (Hồ Chí Minh, 1995). Khi cán bộ trở nên vô cảm trước những bức xúc của nhân dân, đùn đẩy trách nhiệm, coi trọng "lợi ích nhóm" hơn lợi ích quốc gia dân tộc, họ đã tự tước bỏ danh hiệu người cộng sản. Sự suy thoái, biến chất về đạo đức, lối sống của những "con sâu làm rầu nồi canh" này không chỉ làm sứt mẻ uy tín của chế độ, làm giảm sút lòng tin của nhân dân mà còn cung cấp chất liệu sống cho các thế lực thù địch chống phá, xuyên tạc.
3.2. Thảo luận
Các kết quả trên cho thấy ba nhóm biểu hiện - suy thoái tư tưởng chính trị, xói mòn văn hóa tranh luận và tha hóa đạo đức, lối sống - không tồn tại tách rời. Suy giảm năng lực lý luận làm yếu khả năng phân biệt đúng - sai; môi trường tranh luận thiếu dân chủ làm cho sai phạm khó được phát hiện và sửa chữa; còn chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm thúc đẩy việc che giấu khuyết điểm. Ba quá trình này tác động qua lại, tạo thành cơ chế “tự tha hóa” từ bên trong.
Môi trường số chủ yếu giữ vai trò khuếch đại chứ không phải là nguyên nhân duy nhất của suy thoái. Thuật toán, tốc độ lan truyền và tính xuyên biên giới của thông tin có thể làm một biểu hiện lệch chuẩn trở thành khủng hoảng niềm tin trong thời gian ngắn; tuy nhiên, căn nguyên vẫn nằm ở sự yếu kém về bản lĩnh chính trị, đạo đức, kỷ luật và cơ chế kiểm soát quyền lực. Vì vậy, nếu chỉ tăng cường kiểm soát kỹ thuật mà không xây dựng văn hóa trong tổ chức đảng thì khó tạo được hiệu quả bền vững.
Nhận diện “giặc nội xâm” từ góc nhìn văn hóa Đảng vì thế giúp chuyển trọng tâm từ xử lý hiện tượng sang phòng ngừa căn nguyên. Tiêu chí đánh giá không chỉ là số vụ việc được phát hiện, mà còn là năng lực tự phê bình, chất lượng tranh luận, mức độ nêu gương và khả năng chuyển hóa chuẩn mực đạo đức thành hành vi có thể kiểm tra, giám sát.
4. Kết luận
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không phải bảo vệ giáo điều, mà là bảo vệ lẽ phải, đạo đức và niềm tin của nhân dân. Mọi sự phản bác quan điểm sai trái sẽ thiếu sức thuyết phục nếu cán bộ, đảng viên vẫn sa vào lối sống thực dụng, xa hoa, hách dịch. Chính những biểu hiện phản văn hóa ấy là “giặc nội xâm” nguy hiểm nhất, âm thầm bào mòn Đảng từ bên trong. Trong kỷ nguyên số, nhận diện đúng sự phai nhạt lý tưởng, xói mòn văn hóa tranh luận và suy thoái đạo đức chính là bước đầu để Đảng tự chỉnh đốn và tự “chữa bệnh”.
Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng trong thời đại ngày nay không chỉ là việc giương cao ngọn cờ phản bác kẻ thù bên ngoài trên không gian mạng, mà cốt lõi nhất, sâu xa nhất phải bắt đầu từ việc làm sạch môi trường văn hóa trong chính nội bộ Đảng. Một khi Đảng dũng cảm gọt bỏ những ung nhọt của sự tha hóa, phục hồi văn hóa tranh luận khoa học, kiên quyết trừng trị chủ nghĩa cá nhân, tham nhũng và đề cao trách nhiệm nêu gương, thì văn hóa Đảng sẽ thực sự tỏa sáng. Sức mạnh nội sinh từ một Đảng "là đạo đức, là văn minh" sẽ là tấm khiên vững chắc nhất đập tan mọi âm mưu "diễn biến hòa bình", giữ vững niềm tin tuyệt đối của nhân dân đối với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Việc nhận diện đúng bản chất của sự tha hóa này là cơ sở thực tiễn để đề ra các giải pháp đột phá, toàn diện trong kỳ 3./.
Tài liệu tham khảo:
Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. (2024). Thông báo Phiên họp thứ 27 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. https://noichinh.vn/tin-tuc-su-kien/tin-trung-uong/202412/thong-bao-phien-hop-thu-27-cua-ban-chi-dao-trung-uong-ve-phong-chong-tham-nhung-lang-phi-tieu-cuc-314472/
Báo Chính phủ. (2025). Đào tạo an ninh mạng tăng kỹ năng thực chiến cho sinh viên. https://baochinhphu.vn/dao-tao-an-ninh-mang-tang-ky-nang-thuc-chien-cho-sinh-vien-10225092523102498.htm
Báo điện tử Chính Phủ (2026). Quy định số 19-QĐ/TW về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-quy-dinh-so-19-qd-tw-ve-cong-tac-chinh-tri-tu-tuong-trong-dang-119260410100912112.htm
Đặng Thanh Phương (Chủ nhiệm). (2021). Văn hóa Đảng (Đề cương bài giảng). Đề tài khoa học cấp cơ sở, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, tr. 154–172.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 164.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 2. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 334.
Hồ Chí Minh. (2011). Toàn tập, tập 3. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh. (1995). Toàn tập, tập 5. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.
Hồ Chí Minh. (2011). Toàn tập, tập 15. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 672.
Đảng Cộng sản Việt Nam ( 2023) Nghị quyết về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức (Số 45-NQ/TW) https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-45-ve-tiep-tuc-xay-dung-va-phat-huy-vai-tro-cua-doi-ngu-tri-thuc-119231204122208681.htm
Đảng Cộng sản Việt Nam (2024). Quy định về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên giai đoạn mới (Số 144-QĐ/TW) https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-quy-dinh-so-144-qd-tw-ve-chuan-muc-dao-duc-cach-mang-cua-can-bo-dang-vien-giai-doan-moi-119240518105237831.htm
Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC). (2025). Báo cáo tài nguyên Internet Việt Nam 2024. https://www.vnnic.vn/sites/default/files/2025–07/baocaotainguyeninternet2024.
Văn hóa Đảng, giặc nội xâm, suy thoái tư tưởng, văn hóa tranh luận, môi trường số
Party culture, internal enemies, ideological degradation, culture of debate, digital environment
Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. (2024). Thông báo Phiên họp thứ 27 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. https://noichinh.vn/tin-tuc-su-kien/tin-trung-uong/202412/thong-bao-phien-hop-thu-27-cua-ban-chi-dao-trung-uong-ve-phong-chong-tham-nhung-lang-phi-tieu-cuc-314472/
Báo Chính phủ. (2025). Đào tạo an ninh mạng tăng kỹ năng thực chiến cho sinh viên. https://baochinhphu.vn/dao-tao-an-ninh-mang-tang-ky-nang-thuc-chien-cho-sinh-vien-10225092523102498.htm
Báo điện tử Chính Phủ (2026). Quy định số 19-QĐ/TW về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-quy-dinh-so-19-qd-tw-ve-cong-tac-chinh-tri-tu-tuong-trong-dang-119260410100912112.htm
Đặng Thanh Phương (Chủ nhiệm). (2021). Văn hóa Đảng (Đề cương bài giảng). Đề tài khoa học cấp cơ sở, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, tr. 154–172.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 164.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 2. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 334.
Hồ Chí Minh. (2011). Toàn tập, tập 3. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh. (1995). Toàn tập, tập 5. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.
Hồ Chí Minh. (2011). Toàn tập, tập 15. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 672.
Đảng Cộng sản Việt Nam ( 2023) Nghị quyết về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức (Số 45-NQ/TW) https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-45-ve-tiep-tuc-xay-dung-va-phat-huy-vai-tro-cua-doi-ngu-tri-thuc-119231204122208681.htm
Đảng Cộng sản Việt Nam (2024). Quy định về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên giai đoạn mới (Số 144-QĐ/TW) https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-quy-dinh-so-144-qd-tw-ve-chuan-muc-dao-duc-cach-mang-cua-can-bo-dang-vien-giai-doan-moi-119240518105237831.htm
Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC). (2025). Báo cáo tài nguyên Internet Việt Nam 2024. https://www.vnnic.vn/sites/default/files/2025–07/baocaotainguyeninternet2024.
1. Đặt vấn đề
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số toàn diện đã mở rộng mạnh mẽ không gian giao tiếp xã hội, đồng thời làm gia tăng chưa từng có khả năng xâm nhập của thông tin sai trái, xuyên tạc, phản văn hóa. Khi internet và mạng xã hội bao phủ gần như toàn bộ đời sống công cộng, thì mọi biểu hiện dao động trong nhận thức, niềm tin, kỷ luật phát ngôn, đạo đức công vụ và trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên đều có thể nhanh chóng trở thành “điểm tựa” để các quan điểm sai trái khai thác, khuếch đại và tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Chính vì vậy, Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị nhấn mạnh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thực chất là bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng, công cuộc đổi mới, lợi ích quốc gia - dân tộc. Kết luận số 89-KL/TW ngày 25/7/2024 yêu cầu gắn chặt công tác tư tưởng với kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng ngành, từng lĩnh vực.
Nhìn từ lăng kính văn hóa chính trị và quy luật vận động của lịch sử, mọi tác động tiêu cực từ bên ngoài chỉ có thể phát huy tác dụng khi "cơ thể" Đảng xuất hiện những "căn bệnh" từ bên trong. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn, một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân (Hồ Chí Minh, 2011). Do đó, sự tấn công của các thế lực thù địch dù thâm độc đến đâu cũng không đáng sợ bằng "giặc nội xâm" - sự biến chất, tha hóa từ chính nội bộ. Việc nhận diện rõ những mầm mống tha hóa văn hóa Đảng trên mặt trận tư tưởng hiện nay là đòi hỏi mang tính sinh tử để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết áp dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích sự biến đổi của văn hóa chính trị trong môi trường truyền thông mới. Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành như phân tích văn bản pháp quy, tổng kết thực tiễn thông qua việc tổng hợp dữ liệu thống kê chính thức (số liệu người dùng internet, số liệu kỷ luật đảng năm 2024–2026), và phương pháp so sánh đối chiếu giữa chuẩn mực văn hóa Đảng với các biểu hiện lệch chuẩn trong thực tế.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Kết quả nghiên cứu
3.1.1. Sự suy thoái tư tưởng chính trị: Biểu hiện của "sự tự hủ hóa" văn hóa
Nhìn từ lăng kính văn hóa chính trị và quy luật vận động của lịch sử, mọi tác động tiêu cực từ bên ngoài chỉ có thể phát huy tác dụng khi "cơ thể" Đảng xuất hiện những "căn bệnh" từ bên trong. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn, một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân. Do đó, sự tấn công của các thế lực thù địch dù thâm độc đến đâu cũng không đáng sợ bằng "giặc nội xâm" này.
Văn hóa Đảng, ở tầng nấc sâu sắc nhất, chính là nền tảng tư tưởng, triết lý và niềm tin chính trị vững chắc của đội ngũ cán bộ, đảng viên vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Sự thống nhất về tư tưởng tạo nên sức mạnh vô song của Đảng. Tuy nhiên, một thực trạng nhức nhối đã được Đảng ta nhận diện: “Một bộ phận tổ chức đảng, cán bộ đảng viên suy thoái, thiếu tiên phong gương mẫu, mất tính đảng, biểu hiện “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” xa rời mục đích, lý tưởng, bản chất của Đảng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Sự dao động, mất phương hướng này không chỉ đơn thuần là sự yếu kém về mặt nhận thức chính trị, mà chính là sự "tự hủ hóa", tự tha hóa văn hóa, tự biến chất và phản văn hóa. Sự hoài nghi lý tưởng là bước đệm đầu tiên dẫn đến sự "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Khi một người đảng viên đánh mất niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, họ đã tự tước bỏ vũ khí tư duy sắc bén nhất, tự đẩy mình vào khoảng trống văn hóa chính trị và tất yếu sẽ bị lấp đầy bởi các luồng tư tưởng dân túy, cực đoan đang lan truyền với tốc độ ánh sáng trên không gian số. Môi trường số đóng vai trò như một chất gia tốc cực mạnh thúc đẩy quá trình tha hóa này. Với cơ chế lan truyền thông tin phi tập trung, thuật toán hướng cá nhân hóa và các hiệu ứng “buồng phản ngôn” (echo chambers), mạng xã hội có khả năng khuếch đại cảm xúc, làm lu mờ lý trí và bóp méo sự thật chính trị. Nguyên nhân sâu xa của sự tha hóa nhận thức này bắt nguồn từ bệnh giáo điều và thói lười học tập lý luận chính trị: “việc tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh có lúc, có nơi còn sơ cứng, giáo điều, thậm chí có nơi chưa thực sự coi trọng. Việc học tập quán triệt nghị quyết của Đảng vẫn có biểu hiện hình thức” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Trong thời đại tri thức bùng nổ, khi sự biến đổi của thế giới diễn ra từng ngày, từng giờ, không ít cán bộ vẫn giữ phương pháp tư duy cảm tính, chủ nghĩa kinh nghiệm hoặc thực dụng. Họ xem nhẹ lý luận, coi việc học tập chính trị là hình thức để thăng tiến. Hậu quả là, khi đối mặt với những luận điệu xuyên tạc tinh vi, ngụy tạo bằng những vỏ bọc "khoa học" của các học giả tư sản phương Tây trên mạng xã hội, họ trở nên lúng túng, không đủ sức đề kháng và dễ dàng bị đánh gục. Lười học tập lý luận chính là biểu hiện của "nạn mù chữ" kiểu mới về văn hóa chính trị, khiến cán bộ, đảng viên không bắt kịp vận tốc của thời đại và tụt hậu về tư duy. Quy định số 144-QĐ/TW về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới yêu cầu cán bộ, đảng viên phải kiên quyết bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chủ động phòng ngừa suy thoái, chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm, giữ gìn danh dự, uy tín của bản thân và của tổ chức đảng. Cách đặt vấn đề này cho thấy phòng, chống suy thoái tư tưởng ở cấp độ sâu nhất chính là bảo vệ văn hóa chính trị cách mạng trong từng con người đảng viên (Báo điện tử Chính phủ, 2024). Tính chất cấp bách của vấn đề càng trở nên rõ rệt trong môi trường truyền thông số. Đầu năm 2025, Việt Nam có khoảng 79,8 triệu người sử dụng internet và 76,2 triệu tài khoản mạng xã hội 96,4% thôn, bản đã có internet cáp quang, 82,9% hộ gia đình dùng internet cáp quang băng rộng (Báo điện tử Chính phủ, 2025). Với quy mô ấy, bất kỳ “độ trễ” nào về lý luận, bản lĩnh hay năng lực xử lý tình huống tư tưởng cũng có thể bị thông tin xấu độc khai thác ngay lập tức. Trên bình diện xây dựng, chỉnh đốn Đảng năm 2024 cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp thi hành kỷ luật 709 tổ chức đảng và 24.097 đảng viên vi phạm. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 68 cán bộ diện Trung ương quản lý. Trong đó, lần đầu tiên Bộ Chính trị đã thi hành kỷ luật 02 đồng chí nguyên là lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước do vi phạm quy định trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao và trong phòng chống tham nhũng tiêu cực, vi phạm những điều đảng viên không được làm, trách nhiệm nêu gương (Thông tin nội chính Trung ương, 2024). Trong nhiệm kỳ đại hội XI, XII, XIII của Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy các cấp, chi bộ đã thi hành kỷ luật 660 tổ chức đảng và 59.200 đảng viên (trong đó có 20.524 cấp ủy viên, chiếm 35%) (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Những con số ấy không chỉ phản ánh cường độ của xung đột tư tưởng trong môi trường số, mà còn cho thấy mức độ hiện hữu của “giặc nội xâm” nếu không được nhận diện và xử lý từ gốc bằng xây dựng văn hóa trong Đảng.
Nghị quyết số 80-NQ/TW đã đi thẳng vào bản chất của mối quan hệ này khi xác định văn hóa phải “thấm sâu” vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng, nguồn lực nội sinh, đồng thời yêu cầu phát huy vai trò nền tảng của văn hóa trong việc hình thành bản lĩnh và “sức đề kháng” trước các tác động phức tạp, lệch chuẩn của văn hóa ngoại lai. Nghị quyết cũng chỉ rõ một thực tế đáng suy nghĩ: môi trường văn hóa chưa thật sự lành mạnh và sự bùng nổ nền tảng trực tuyến xuyên biên giới đã kéo theo những yếu tố phản cảm, phi văn hóa. Bởi vậy, nếu nội bộ Đảng không chủ động tự nâng trình độ lý luận, cập nhật tri thức mới và rèn luyện bản lĩnh số, thì sẽ rất dễ rơi vào tình trạng bị động trước làn sóng thông tin phức tạp. Những con số ấy cho thấy không gian tư tưởng hiện nay là một chiến trường thực sự, nơi ngoại lực phá hoại vận động với tốc độ rất nhanh; vì vậy, yêu cầu xây dựng “sức đề kháng” từ bên trong càng phải được đặt lên hàng đầu.
3.1.2. Sự xói mòn của "Văn hóa tranh luận" trong sinh hoạt Đảng
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, đặc biệt trước những vấn đề mới và phức tạp của bối cảnh hội nhập, việc xuất hiện các ý kiến khác nhau đòi hỏi văn hóa tranh luận trong sinh hoạt Đảng không phải là sự đối đầu cảm tính, càng không phải sự buông lỏng phát ngôn; đó là năng lực sử dụng lý luận, thực tiễn và nguyên tắc tổ chức để làm sáng tỏ vấn đề, bảo vệ chân lý, loại bỏ lệch lạc ngay từ trong nội bộ. Văn hóa tranh luận dân chủ, thẳng thắn, dựa trên tình đồng chí yêu thương lẫn nhau chính là "bộ lọc" tốt nhất để tìm ra chân lý. Chính vì vậy, Quy định số 19-QĐ/TW ngày 08/4/2026 về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng yêu cầu thực hành và phát huy dân chủ trong sinh hoạt đảng, đi đôi với siết chặt kỷ luật, kỷ cương, kỷ luật phát ngôn; đồng thời coi chủ động nắm bắt tình hình tư tưởng, đánh giá và định hướng dư luận (Hệ thống tư liệu văn kiện Đảng, 2026).
Biểu hiện tha hóa trong văn hóa Đảng hiện nay ở sự xói mòn nghiêm trọng "văn hóa tranh luận". Đáng buồn thay, trong nội bộ Đảng vẫn còn những kẻ cơ hội, luồn lách, tôn thờ triết lý sống thực dụng "ngậm miệng ăn tiền", "im lặng là vàng". Họ mắc căn bệnh a dua, "thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi", thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh, che giấu sự thật và dối trá với Đảng. Thái độ nể nang, né tránh, dĩ hòa vi quý này không phải là biểu hiện của sự đoàn kết, mà là sự đồng thuận hình thức, một vỏ bọc giả tạo che giấu sự rệu rã về tinh thần chiến đấu.
Đáng nguy hại hơn, vẫn còn tình trạng nhiều người đồng nhất việc tranh luận, phản biện khoa học trong tổ chức với tình trạng mất đoàn kết nội bộ. Ở một số nơi, sự chuyên quyền, độc đoán của người đứng đầu đã bóp nghẹt dân chủ. Thay vì đối thoại bình đẳng, công khai và thẳng thắn, người ta lại sử dụng các thủ đoạn phản văn hóa như "chụp mũ", "trấn áp", "cả vú lấp miệng em" hoặc trù dập những người có ý kiến khác biệt. Những thái độ thiếu văn hóa, phản văn hóa này đã triệt tiêu sức sáng tạo, làm thui chột tính tiên phong của đảng viên, biến các buổi sinh hoạt chi bộ thành những diễn đàn một chiều, sáo rỗng. Khi văn hóa tranh luận bị thủ tiêu, khả năng tự miễn dịch của Đảng suy giảm, tạo mảnh đất màu mỡ cho những luồng thông tin độc hại từ bên ngoài xâm nhập và phá hoại nền tảng tư tưởng. Sự xói mòn văn hóa tranh luận khiến nội bộ mất dần khả năng tự thanh lọc. Khi đúng - sai không còn được phân định bằng tranh luận thẳng thắn, bằng thực chứng và nguyên tắc, thì cái sai dễ ẩn náu sau lớp vỏ đoàn kết hình thức; còn cái đúng, cái mới, cái dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung lại có thể bị cô lập. Nghị quyết số 45-NQ/TW vì vậy không chỉ nói về chính sách đối với trí thức, mà còn nêu một vấn đề có ý nghĩa rộng hơn đối với đời sống chính trị: phải tôn trọng tự do tư tưởng, học thuật, thực hành dân chủ trong hoạt động nghiên cứu, đồng thời lắng nghe, tham vấn, đối thoại, tôn trọng ý kiến của đội ngũ trí thức (Báo điện tử Chính phủ, 2024).Tinh thần ấy, khi vận dụng vào sinh hoạt Đảng, chính là yêu cầu phải phục hồi không khí tranh luận có văn hóa, có nguyên tắc, có tinh thần trách nhiệm, qua đó khắc phục thái độ ngại bày tỏ chính kiến và tâm lý đứng ngoài cuộc trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm. Ở góc độ thực tiễn lãnh đạo, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực những năm gần đây cũng cho thấy Đảng không chấp nhận sự “dĩ hòa vi quý” vô nguyên tắc. Thông báo Phiên họp thứ 27 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực khẳng định năm 2024 xử lý kiên quyết, nghiêm minh các sai phạm nhưng đồng thời chú trọng phân hóa trong xử lý đối tượng vi phạm, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, vì lợi ích chung. Điều đó có nghĩa là văn hóa tranh luận và đấu tranh trong Đảng phải được đặt lên hai trụ cột đồng thời: không nương tay với sai phạm, nhưng cũng không triệt tiêu những người có bản lĩnh đổi mới thật sự. Nếu thiếu tiêu chuẩn văn hóa này, sinh hoạt Đảng rất dễ trượt sang hai trạng thái cực đoan: hoặc buông lỏng, hoặc thủ tiêu sáng tạo.
3.1.3. Tha hóa đạo đức, lối sống thực dụng và hệ lụy đối với uy tín cầm quyền của Đảng
Nếu suy thoái tư tưởng chính trị làm rạn nứt niềm tin thì lối sống thực dụng và sự băng hoại đạo đức lại trực tiếp làm vẩn đục môi trường văn hóa Đảng. Ở bình diện này, “giặc nội xâm” hiện ra không chỉ bằng các vụ án tham nhũng lớn, mà còn bằng một lối sống vụ lợi, cơ hội, coi quyền lực như nguồn tài nguyên riêng, coi chức vụ như phương tiện đổi chác, coi trách nhiệm công vụ như thứ có thể mặc cả. Khi đó, chuẩn mực người cán bộ cách mạng bị đảo lộn: lợi ích cá nhân lấn át lợi ích chung; lợi ích nhóm lấn át kỷ cương tổ chức; uy tín bề ngoài được ưu tiên hơn phẩm giá, danh dự và sự liêm chính thực chất. Nghị quyết số 80-NQ/TW nhìn thẳng vào nguy cơ này khi yêu cầu chấn chỉnh, hạn chế, đẩy lùi các biểu hiện tiêu cực, suy thoái về đạo đức, lối sống, thực dụng, “lợi ích nhóm” trong hoạt động văn hóa; đồng thời nhấn mạnh phải làm trong sạch môi trường văn hóa số và gắn văn hóa nêu gương của cán bộ, đảng viên với xây dựng văn hóa trong Đảng và hệ thống chính trị.
Trong Quy định số 144-QĐ/TW về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên giai đoạn mới đã cụ thể hóa yêu cầu ấy ở cấp độ đạo đức công vụ và đạo đức chính trị. Cán bộ, đảng viên không những phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, mà còn quy định rất rõ: không tham ô, tham nhũng, tiêu cực, không gây phiền hà, sách nhiễu; chủ động phòng ngừa chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; không cơ hội chính trị, không tham vọng quyền lực; không để gia đình, người thân lợi dụng chức vụ để trục lợi; và phải thực hành văn hóa từ chức khi không đủ khả năng, uy tín (Báo điện tử Chính phủ, 2024). Từ góc nhìn văn hóa Đảng, đây là sự chuyển hóa rất quan trọng trong nhận thức của Đảng từ những lời kêu gọi đạo đức chung chung sang các chuẩn mực có thể kiểm tra, giám sát và quy trách nhiệm.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng đưa ra một cảnh báo mang tính chân lý: Một công dân bình thường thiếu lương tâm thì khó có thể đục khoét nhân dân. Nhưng một người có quyền mà thiếu lương tâm thì sẽ có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút lót. Quyền hành được trao vào tay một cán bộ thoái hóa, biến chất thì nguy hiểm hơn lưỡi gươm trong tay đao phủ (Hồ Chí Minh, 1995). Khi cán bộ trở nên vô cảm trước những bức xúc của nhân dân, đùn đẩy trách nhiệm, coi trọng "lợi ích nhóm" hơn lợi ích quốc gia dân tộc, họ đã tự tước bỏ danh hiệu người cộng sản. Sự suy thoái, biến chất về đạo đức, lối sống của những "con sâu làm rầu nồi canh" này không chỉ làm sứt mẻ uy tín của chế độ, làm giảm sút lòng tin của nhân dân mà còn cung cấp chất liệu sống cho các thế lực thù địch chống phá, xuyên tạc.
3.2. Thảo luận
Các kết quả trên cho thấy ba nhóm biểu hiện - suy thoái tư tưởng chính trị, xói mòn văn hóa tranh luận và tha hóa đạo đức, lối sống - không tồn tại tách rời. Suy giảm năng lực lý luận làm yếu khả năng phân biệt đúng - sai; môi trường tranh luận thiếu dân chủ làm cho sai phạm khó được phát hiện và sửa chữa; còn chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm thúc đẩy việc che giấu khuyết điểm. Ba quá trình này tác động qua lại, tạo thành cơ chế “tự tha hóa” từ bên trong.
Môi trường số chủ yếu giữ vai trò khuếch đại chứ không phải là nguyên nhân duy nhất của suy thoái. Thuật toán, tốc độ lan truyền và tính xuyên biên giới của thông tin có thể làm một biểu hiện lệch chuẩn trở thành khủng hoảng niềm tin trong thời gian ngắn; tuy nhiên, căn nguyên vẫn nằm ở sự yếu kém về bản lĩnh chính trị, đạo đức, kỷ luật và cơ chế kiểm soát quyền lực. Vì vậy, nếu chỉ tăng cường kiểm soát kỹ thuật mà không xây dựng văn hóa trong tổ chức đảng thì khó tạo được hiệu quả bền vững.
Nhận diện “giặc nội xâm” từ góc nhìn văn hóa Đảng vì thế giúp chuyển trọng tâm từ xử lý hiện tượng sang phòng ngừa căn nguyên. Tiêu chí đánh giá không chỉ là số vụ việc được phát hiện, mà còn là năng lực tự phê bình, chất lượng tranh luận, mức độ nêu gương và khả năng chuyển hóa chuẩn mực đạo đức thành hành vi có thể kiểm tra, giám sát.
4. Kết luận
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không phải bảo vệ giáo điều, mà là bảo vệ lẽ phải, đạo đức và niềm tin của nhân dân. Mọi sự phản bác quan điểm sai trái sẽ thiếu sức thuyết phục nếu cán bộ, đảng viên vẫn sa vào lối sống thực dụng, xa hoa, hách dịch. Chính những biểu hiện phản văn hóa ấy là “giặc nội xâm” nguy hiểm nhất, âm thầm bào mòn Đảng từ bên trong. Trong kỷ nguyên số, nhận diện đúng sự phai nhạt lý tưởng, xói mòn văn hóa tranh luận và suy thoái đạo đức chính là bước đầu để Đảng tự chỉnh đốn và tự “chữa bệnh”.
Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng trong thời đại ngày nay không chỉ là việc giương cao ngọn cờ phản bác kẻ thù bên ngoài trên không gian mạng, mà cốt lõi nhất, sâu xa nhất phải bắt đầu từ việc làm sạch môi trường văn hóa trong chính nội bộ Đảng. Một khi Đảng dũng cảm gọt bỏ những ung nhọt của sự tha hóa, phục hồi văn hóa tranh luận khoa học, kiên quyết trừng trị chủ nghĩa cá nhân, tham nhũng và đề cao trách nhiệm nêu gương, thì văn hóa Đảng sẽ thực sự tỏa sáng. Sức mạnh nội sinh từ một Đảng "là đạo đức, là văn minh" sẽ là tấm khiên vững chắc nhất đập tan mọi âm mưu "diễn biến hòa bình", giữ vững niềm tin tuyệt đối của nhân dân đối với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Việc nhận diện đúng bản chất của sự tha hóa này là cơ sở thực tiễn để đề ra các giải pháp đột phá, toàn diện trong kỳ 3./.
Trích dẫn bài báo
Bài liên quan
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và ý nghĩa đối với giảng dạy lý luận chính trị hiện nay
- Quán triệt nguyên tắc “dĩ bất biến” trong đổi mới phương pháp giảng dạy lý luận chính trị ở Việt Nam hiện nay
- Nền tảng tư tưởng của Đảng - “thành trì” vững chắc của niềm tin và khát vọng Việt Nam
- Vận dụng cặp phạm trù nguyên nhân - kết quả trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy môn Triết học Mác - Lênin hiện nay
- Xây dựng văn hóa Đảng Cộng sản Việt Nam trong kỷ nguyên số Kỳ 1: Đảng là trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại
llcttt1994dientu@gmail.com
02438348033


