Tạp chí điện tử tiếng Việt

Hiện tượng “mất nguồn tin” trong tiếp nhận báo chí qua AI của Gen Z Việt Nam

Phenomenon of “source loss” in Gen Z’s reception of news through AI in Vietnam

Lê Anh Thư leanhthuctu2002@gmail.com Học viên Cao học Báo chí, chuyên ngành Quản lý báo chí truyền thông, K 31.1, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Ngày nhận bài: 20/08/2026 Ngày phản biện: 28/08/2026 Ngày xuất bản: 02/11/2026
Việc tiếp nhận tin tức qua chatbot trí tuệ nhân tạo đặt ra một vấn đề lớn đối với báo chí: cụ thể là công chúng có thể ghi nhớ nội dung nhưng không còn nhận diện rõ cơ quan báo chí đã công bố thông tin. Bài viết tập trung làm rõ những biểu hiện của hiện tượng “mất nguồn tin” và ý nghĩa của hiện tượng đối với quá trình tiếp nhận báo chí của nhóm Gen Z được khảo sát. Từ khảo sát 108 người 18-24 tuổi tại Cần Thơ từng dùng AI để tìm hiểu tin tức, nghiên cứu ghi nhận ba nhóm biểu hiện tự thuật: nhớ nội dung hơn tên báo, khó trở lại bài gốc và nhầm lẫn giữa thông tin của báo với phần AI diễn giải. Các phát hiện gợi mở ý nghĩa của khả năng truy nguyên nguồn đối với việc kiểm chứng dữ kiện, nhận biết bối cảnh công bố thông tin và xác định trách nhiệm biên tập.
Receiving news through artificial intelligence chatbots raises a significant issue for journalism: audiences may remember the content of a news report without clearly identifying the news organization that originally published it. This article examines the manifestations of “source loss” and its implications for news reception among the surveyed Gen Z audience. Based on a survey of 108 people aged 18–24 in Can Tho who had used AI to access news, the study identifies three self-reported patterns: remembering news content more readily than the name of the news outlet, difficulty returning to the original article, and confusion between information published by news organizations and AI-generated interpretations. These findings highlight the importance of source traceability for fact-checking, understanding the context in which information was published, and identifying editorial responsibility.

mất nguồn tin, Gen Z Việt Nam, tiếp nhận báo chí qua AI, trí nhớ nguồn, kiểm chứng nguồn

source loss, Vietnamese Gen Z, news reception through AI, source memory, source verification

Thủ tướng Chính phủ (2023). Quyết định số 348/QĐ-TTg ngày 06/4/2023 phê duyệt Chiến lược chuyển đổi số báo chí đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

 Đỗ Thị Thu Hằng (2023). Trí tuệ nhân tạo và báo chí số. Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, 29(6), 40-43. https://doi.org/10.66057/llcttt-30452

Đặng Văn Em, Nguyễn Đình Loan Phương, & Nguyễn Thị Hảo (2024). Thực trạng ứng dụng ChatGPT trong việc học tập, nghiên cứu của sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Giáo dục, 24(1), 36-41. https://tcgd.tapchigiaoduc.edu.vn/index.php/tapchi/article/view/1212

Lê Đình Hải, & Đỗ Thị Nụ (2025). Đặc điểm hành vi tiêu thụ tin tức trên mạng xã hội của thế hệ Z tại Việt Nam. Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, 31(6),  https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/dac-diem-hanh-vi-tieu-thu-tin-tuc-tren-mang-xa-hoi-cua-the-he-z-tai-viet-nam-p29211.html

Nguyễn Nam Phương, Nguyễn Hoài Thu, Lại Thùy Linh, & Nguyễn Thị Thanh Hiền (2025). Thực trạng sử dụng ChatGPT của sinh viên sư phạm trong tìm kiếm thông tin phục vụ học tập: Nghiên cứu tại Trường Đại học Hùng Vương và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Tạp chí Giáo dục, 25(đặc biệt 4), 351-356. https://tcgd.tapchigiaoduc.edu.vn/index.php/tapchi/article/view/3759

Nguyễn Thị Trường Giang (chủ biên), Đinh Thị Thu Hằng, & Đinh Thị Xuân Hòa (2025). Trí tuệ nhân tạo trong hoạt động báo chí - truyền thông. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học - Công nghệ - Truyền thông.

Vũ Thị Kim Hoa, & Trương Thị Ánh Tuyết (2025). Thái độ tiếp nhận của sinh viên đối với các sản phẩm truyền thông tạo ra bởi trí tuệ nhân tạo trên nền tảng TikTok. Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, 31(6), 15. https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/thai-do-tiep-nhan-cua-sinh-vien-doi-voi-cac-san-pham-truyen-thong-tao-ra-boi-tri-tue-nhan-tao-tren-nen-tang-tiktok-p29213.html

Vũ Thị Kim Hoa, & Nguyễn Đức Việt (2026). Hành vi tiếp nhận sản phẩm truyền thông tạo sinh bởi AI của công chúng trẻ hiện nay. Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, 32(1), 15. https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/hanh-vi-tiep-nhan-san-pham-truyen-thong-tao-sinh-boi-ai-cua-cong-chung-tre-hien-nay-p29535.html

Phan Văn Kiền (2026). Tác động của trí tuệ nhân tạo đến sự biến đổi của báo chí - truyền thông. Tạp chí Lý luận Chính trị, (575), 117-124. https://vjol.info.vn/tclyluanchinhtri/vi/article/view/141716/

European Broadcasting Union (2025). News Integrity in AI Assistants: An International PSM Study. https://www.ebu.ch/research/open/report/news-integrity-in-ai-assistants

Johnson, M. K., Hashtroudi, S., & Lindsay, D. S. (1993). Source monitoring. Psychological Bulletin, 114(1), 3-28. https://doi.org/10.1037/0033-2909.114.1.3

Risko, E. F., & Gilbert, S. J. (2016). Cognitive offloading. Trends in Cognitive Sciences, 20(9), 676-688. https://doi.org/10.1016/j.tics.2016.07.002

1. Đặt vấn đề

Trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang tạo thêm một lớp trung gian giữa báo chí và công chúng. Khác với công cụ tìm kiếm thường cung cấp đường dẫn, chatbot có thể tóm tắt và tái diễn đạt nhiều bản tin thành một câu trả lời. Người dùng nhờ đó nắm nhanh sự kiện nhưng không nhất thiết nhìn thấy tên báo, tác giả, ngày xuất bản hoặc bối cảnh biên tập. Vấn đề không chỉ là câu trả lời AI đúng hay sai mà còn là công chúng có nhận biết được ai đã xác minh, công bố và chịu trách nhiệm về thông tin họ tiếp nhận hay không.

Trong tiến trình chuyển đổi số báo chí Việt Nam, Quyết định số 348/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (2023), phê duyệt Chiến lược chuyển đổi số báo chí đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, xác định yêu cầu đổi mới trải nghiệm độc giả và nâng cao năng lực hoạt động báo chí trên môi trường số. Từ góc độ nghiên cứu, Đỗ Thị Thu Hằng (2023), trong tham luận Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong sáng tạo nội dung báo chí số, phân tích khả năng ứng dụng AI vào các khâu nghiệp vụ, sản xuất và phân phối nội dung, đồng thời chỉ ra những thách thức về quản trị thông tin, đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp. Tiếp cận vấn đề một cách hệ thống hơn, Nguyễn Thị Trường Giang (chủ biên) (2025), trong sách chuyên khảo Trí tuệ nhân tạo trong hoạt động báo chí - truyền thông, trình bày cơ sở lý luận, thực tiễn ứng dụng AI trong báo chí - truyền thông Việt Nam và những xu hướng, giải pháp phát triển. Phan Văn Kiền (2026), qua bài viết Tác động của trí tuệ nhân tạo đến sự biến đổi của báo chí - truyền thông, tiếp tục làm rõ những tác động của AI đối với hoạt động báo chí, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến giá trị nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội. Có thể thấy, các tài liệu trên chủ yếu tiếp cận AI từ phương diện hoạt động của cơ quan báo chí, ứng dụng công nghệ và những yêu cầu thích ứng nghề nghiệp. Trong phạm vi các tài liệu được khảo cứu, vấn đề công chúng ghi nhớ và nhận diện nguồn báo chí như thế nào sau khi tiếp nhận thông tin do chatbot AI tổng hợp, diễn giải lại vẫn chưa được phân tích trực tiếp. Đây là hướng tiếp cận mà nghiên cứu về hiện tượng “mất nguồn tin” trong tiếp nhận báo chí qua AI của Gen Z Việt Nam tập trung làm rõ.

Lê Đình Hải và Đỗ Thị Nụ (2025), qua khảo sát 1.224 người 15-21 tuổi tại sáu địa phương, ghi nhận 97,2% coi mạng xã hội là kênh tiếp nhận tin chính, trong khi 60,9% chủ động kiểm tra nguồn gốc tin tức. Sự chênh lệch ấy đáng chú ý: tiếp xúc thường xuyên với tin không đồng nghĩa với việc mọi người đều chủ động truy nguyên thông tin. Tuy nhiên, khảo sát này nghiên cứu mạng xã hội, không đo cách người dùng ghi nhớ tên báo khi tiếp nhận tin qua chatbot.

Ở nhóm nghiên cứu về chatbot, Đặng Văn Em, Nguyễn Đình Loan Phương và Nguyễn Thị Hảo (2024) khảo sát 584 sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, ghi nhận ChatGPT được sử dụng để tra cứu tài liệu, hỗ trợ học tập và nghiên cứu, đồng thời đặt ra yêu cầu đánh giá độ tin cậy của thông tin. Nguyễn Nam Phương và cộng sự (2025), qua khảo sát 694 sinh viên sư phạm, cũng nhấn mạnh vai trò của ChatGPT trong tìm kiếm và tóm tắt tài liệu.

Những kết quả trên lý giải vì sao chatbot trở thành công cụ xử lý thông tin quen thuộc với người trẻ. Tuy vậy, việc nhận được câu trả lời hữu ích chưa cho biết người đọc có nhớ được cơ quan báo chí cung cấp dữ kiện hay không.

Vũ Thị Kim Hoa và Trương Thị Ánh Tuyết (2025) nghiên cứu thái độ sinh viên đối với sản phẩm truyền thông do AI tạo trên TikTok; Vũ Thị Kim Hoa và Nguyễn Đức Việt (2026) khảo sát 288 người trẻ và phỏng vấn sâu 35 trường hợp về tiếp nhận nội dung truyền thông tạo sinh. Trong nghiên cứu, 78,0% người tham gia ủng hộ gắn nhãn nội dung AI và 65,0% cho rằng nhãn minh bạch giúp tăng niềm tin. Đây là bằng chứng về nhu cầu nhận diện vai trò của AI, nhưng minh bạch về việc nội dung do AI tạo ra khác với khả năng xác định tờ báo gốc của từng thông tin. Khoảng trống ấy là điểm xuất phát của bài viết.

Ở bình diện quốc tế, báo cáo của European Broadcasting Union (2025) đặt vấn đề về tính toàn vẹn thông tin và việc dẫn nguồn trong câu trả lời của các trợ lý AI. Trong khi những đánh giá này tập trung vào đặc điểm đầu ra của hệ thống, nghiên cứu hiện tại chú ý đến trải nghiệm tự nhận biết, ghi nhớ và truy lại nguồn báo chí của người tiếp nhận.

Bài viết sử dụng “mất nguồn tin” như một khái niệm làm việc, chỉ sự suy yếu mối liên hệ trong nhận thức người đọc giữa nội dung tiếp nhận và cơ quan báo chí công bố thông tin sau khi có sự trung gian của AI. Trọng tâm không phải chỉ hỏi chatbot có ghi nguồn hay không mà là nguồn có được công chúng ghi nhớ và truy lại hay không.

Về mặt phân tích, bài viết phân biệt ba khía cạnh liên quan nhưng không đồng nhất: trí nhớ nguồn (nhớ cơ quan báo chí đã công bố), khả năng truy nguyên nguồn (tìm lại bài gốc) và khả năng quy thuộc thông tin (phân biệt dữ kiện từ báo với phần AI diễn giải). Lý thuyết giám sát nguồn của Johnson, Hashtroudi và Lindsay (1993) cung cấp cơ sở để xem xét việc nhận diện xuất xứ thông tin; khái niệm giảm tải nhận thức (cognitive offloading) của Risko và Gilbert (2016) gợi mở vai trò của việc giao một phần hoạt động xử lý thông tin cho công cụ. Đây là các hướng lý giải, không phải bằng chứng cho quan hệ nhân quả trong khảo sát hiện tại.

Từ đó, nghiên cứu đặt ra ba câu hỏi: (1) Người tham gia tự nhận thấy những biểu hiện nào của hiện tượng “mất nguồn tin” khi sử dụng chatbot để tiếp nhận tin tức? (2) Tỷ lệ thừa nhận từng biểu hiện trong mẫu khảo sát là bao nhiêu? (3) Những biểu hiện này gợi ra vấn đề gì đối với hoạt động kiểm chứng và trách nhiệm nguồn tin trong báo chí?

2. Phương pháp nghiên cứu

Khảo sát trực tuyến được tiến hành từ ngày 11/8 đến 11/9/2026 với 108 người 18-24 tuổi tại Cần Thơ, gồm sinh viên một số trường đại học và người trẻ đã đi làm. Người tham gia đều từng sử dụng chatbot để tìm hiểu, tóm tắt hoặc giải thích tin tức trong ba tháng gần nhất. Đây là mẫu thăm dò, không đại diện thống kê cho toàn bộ Gen Z Cần Thơ hay Việt Nam. Dữ liệu không tách riêng theo trường học hoặc tình trạng việc làm, nên bài viết không so sánh các nhóm này.

Bảng hỏi tập trung vào thói quen dùng chatbot và các trải nghiệm: nhớ tên báo, truy lại bài gốc, nhận diện tác giả, phân biệt dữ kiện báo chí với phần AI diễn giải. Bài viết trình bày số người lựa chọn từng phát biểu và phân tích ý nghĩa của lựa chọn, đó là tự thuật, không phải phép kiểm tra trí nhớ thực nghiệm.

3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

3.1. Kết quả nghiên cứu

3.1.1. Thói quen tiếp nhận tin tức qua AI của nhóm được khảo sát

 

Trong 108 người, 52 người (48,1%) sử dụng AI để tìm hiểu, tóm tắt hoặc giải thích tin tức thường xuyên hoặc rất thường xuyên; 23 người (21,3%) thỉnh thoảng; 33 người (30,6%) hiếm hoặc rất hiếm. Có 75 người (69,4%) chọn ChatGPT làm công cụ chính. Mục đích được chọn nhiều nhất là tóm tắt tin, bài báo với 36 người (33,3%), tiếp đến là giải thích bối cảnh (19,4%).

Kết quả này cho thấy một sự thay đổi đáng chú ý trong cách nhóm được khảo sát tiếp cận thông tin báo chí: AI không đơn thuần được sử dụng để tìm kiếm tin tức mà còn đảm nhận vai trò xử lý và tái trình bày nội dung trước khi người đọc tiếp nhận. Việc tóm tắt bài báo trở thành mục đích phổ biến nhất phản ánh nhu cầu tiếp cận thông tin dưới dạng cô đọng, giảm thời gian đọc và công sức tổng hợp. Trong khi đó, nhu cầu giải thích bối cảnh cho thấy người dùng không chỉ muốn biết sự kiện đã xảy ra mà còn tìm đến AI để diễn giải ý nghĩa của thông tin. Chatbot có khả năng tham gia vào cả hai khâu vốn gắn với hoạt động tiếp nhận báo chí, lựa chọn những nội dung được chú ý và định hình cách người đọc hiểu nội dung ấy.

Từ góc độ nghiên cứu, vấn đề đáng quan tâm không nằm ở tần suất sử dụng AI, mà ở sự dịch chuyển vị trí của cơ quan báo chí trong quá trình tiếp nhận thông tin. Khi người đọc lựa chọn bản tóm tắt hoặc lời giải thích của chatbot thay vì trực tiếp đọc bài báo gốc, tên cơ quan báo chí, thời điểm công bố và bối cảnh xuất bản có nguy cơ không còn hiện diện đầy đủ trong trải nghiệm tiếp nhận. Người dùng có thể ghi nhớ thông tin do AI trình bày nhưng không hình thành được mối liên hệ rõ ràng giữa thông tin đó với chủ thể đã sản xuất và chịu trách nhiệm biên tập. Đây là cơ chế có thể góp phần hình thành hiện tượng “mất nguồn tin” mà nghiên cứu đặt ra.

3.1.2. Những biểu hiện của hiện tượng "mất nguồn tin" 

 

Sáu phương án khảo sát phản ánh ba mức độ khác nhau: ghi nhớ tên nguồn, trở lại bài gốc và phân biệt phát biểu của báo với diễn giải của AI. Chúng mô tả trải nghiệm người trả lời thừa nhận, không phải tỷ lệ mắc lỗi đã được kiểm tra.

Bảng 1. Các biểu hiện “mất nguồn tin” được người tham gia thừa nhận

090909
Nguồn: Khảo sát của tác giả, 11/8-11/9/2026.

3.1.3. Nhớ nội dung nhưng không nhớ rõ nơi công bố

 

Trong 108 người, 64 người (59,3%) cho biết thường nhớ AI đã nói gì hơn là nhớ báo nào đăng tin. Đây là lựa chọn phổ biến nhất. Khác với việc đơn thuần quên tên báo, kết quả còn cho thấy sự dịch chuyển đối tượng được ghi nhớ: lời trình bày của công cụ nổi bật hơn chủ thể đã thu thập và xác minh dữ kiện. Cần phân biệt sự nổi bật của “người kể lại” với bằng chứng người đọc đã quên hoàn toàn bản tin gốc; khảo sát chỉ ghi nhận cách người tham gia đánh giá trải nghiệm của mình.

Có 56 người (51,9%) đồng ý với phát biểu “sau khi đọc tin qua AI, tôi thường nhớ nội dung nhưng không nhớ tên cơ quan báo chí”. Nếu tỷ lệ 59,3% cho thấy sức nổi bật của lời đáp AI thì 51,9% chỉ rõ sự tách rời giữa dữ kiện và chủ thể công bố. “Biết tin” và “biết tin từ đâu” không phải một năng lực: người đọc có thể nhớ nội dung thông tin nhưng không biết tìm bài nào để kiểm tra ngày đăng và ngữ cảnh công bố. Với báo chí, khả năng truy nguyên ấy quyết định giá trị kiểm chứng của thông tin.

Hai số liệu không được cộng lại vì một người có thể chọn cả hai phát biểu, dữ liệu tổng hợp không cho biết phần trùng nhau. Điều quan trọng là cả hai cùng phản ánh khoảng cách giữa ghi nhớ nội dung và ghi nhớ nguồn, chứ không tạo thành một tỷ lệ “mất nguồn tin” chung.

3.1.4. Khó trở về bài báo gốc để kiểm chứng

 

Có 48 người (44,4%) cho biết khó xác định câu trả lời AI xuất phát từ bài báo nào. Dù thấp hơn hai tỷ lệ về trí nhớ, lựa chọn này liên quan trực tiếp đến hành động kiểm chứng. Không nhớ tên báo nhưng vẫn tìm lại được bài gốc là một tình huống; không xác định được văn bản xuất phát là tình huống khác, bởi người đọc thiếu căn cứ đối chiếu phát biểu, thời điểm và điều kiện áp dụng.

Thêm 47 người (43,5%) cho biết dấu vết về tác giả hoặc cơ quan báo chí trong trí nhớ trở nên mờ nhạt. Tác giả và tên báo không chỉ là phần ghi công, đó còn là đầu mối để yêu cầu giải thích, phản hồi hoặc đính chính. Hai lựa chọn 48 và 47 người vì vậy chỉ ra hai trở ngại có liên quan: tìm lại văn bản và nhận biết chủ thể chịu trách nhiệm về văn bản.

3.1.5. Ranh giới giữa lời giải thích của AI và thông tin từ báo chí bị nhòe

 

Có 45 người (41,7%) thừa nhận sau một thời gian họ có thể nhầm phần AI diễn giải với thông tin trực tiếp của báo. Lựa chọn này vượt ra ngoài việc quên tên nguồn: nó liên quan đến tư cách của từng mệnh đề. Đâu là dữ kiện do tòa soạn xác minh, đâu là nhận định do hệ thống tổng hợp? Nếu không phân biệt, người đọc có thể gán cho tòa soạn điều tờ báo chưa từng viết, hoặc ngược lại, xem thông tin có nguồn thành lời giải thích riêng của máy.

Có 42 người (38,9%) ít chú ý nguồn nào đóng góp cho từng chi tiết khi AI tổng hợp nhiều bài. Tỷ lệ thấp nhất trong sáu biểu hiện vẫn có ý nghĩa: không chỉ tên báo bị lãng quên, mà mối liên hệ giữa một nhận định và chứng cứ đỡ cho nhận định ấy cũng có thể nhòe đi. Khi nhiều bài về cùng một sự kiện được nén vào một câu trả lời, việc xác định nguồn của từng mệnh đề trở thành yêu cầu quan trọng.

Sáu lựa chọn không có nghĩa người trẻ đã ngừng quan tâm báo chí. Chúng gợi ra sự tách rời ba hoạt động: tiếp nhận dữ kiện, xác định chủ thể công bố và kiểm tra lại phát biểu. Vấn đề cần khảo sát tiếp là liệu người đọc còn biết phải trở về bản tin nào khi cần xác minh.

3.2. Thảo luận

Dữ liệu cho thấy biểu hiện nổi bật của “mất nguồn tin” trong nhóm khảo sát là khoảng cách giữa nhớ câu trả lời AI và nhớ cơ quan báo chí: 64 người thừa nhận ưu tiên ghi nhớ nội dung AI; 56 người nhớ nội dung nhưng không nhớ tên báo. Đây chưa phải bằng chứng AI làm suy giảm trí nhớ nguồn, nhưng buộc nghiên cứu báo chí đặt câu hỏi về tính truy nguyên bên cạnh câu hỏi về độ chính xác của thông tin.

Lý thuyết giám sát nguồn của Johnson, Hashtroudi và Lindsay (1993) giúp lý giải sự khác biệt. Khi đọc báo trực tiếp, nội dung xuất hiện cùng tên báo, tác giả, chuyên mục và thời điểm. Trong lời đáp AI, dữ kiện có thể được tái diễn đạt trong khi các dấu hiệu đó ít nổi bật hơn. Sự thay đổi dấu hiệu đi kèm thông tin có thể ảnh hưởng đến cách người đọc nhận diện nguồn, nhưng nghiên cứu hiện tại không kiểm tra trực tiếp quá trình ghi nhớ.

Các nghiên cứu của Lê Đình Hải và Đỗ Thị Nụ (2025), Vũ Thị Kim Hoa và Nguyễn Đức Việt (2026), Nguyễn Nam Phương và cộng sự (2025) đều đề cập dưới những góc độ khác nhau đến kiểm chứng và minh bạch thông tin. Kết quả tại Cần Thơ bổ sung một điểm: ủng hộ nguyên tắc phải có nguồn khác với việc thực sự nhớ tên báo và tìm lại bài gốc. Khoảng cách đó không nên bị quy giản thành tâm lý “lười đọc” của Gen Z.

Ý nghĩa thứ nhất là khả năng kiểm chứng. Người đọc có thể ghi nhớ nội dung do AI trình bày nhưng không biết nội dung đó xuất phát từ bài báo nào. Nếu không nhận diện được bài báo gốc và ngày đăng, họ khó đối chiếu dữ kiện với nguồn công bố ban đầu cũng như xác định đâu là thông tin của báo và đâu là phần diễn giải của AI. Kiểm chứng vì vậy không chỉ xác nhận một dữ kiện, mà còn xác định nguồn xuất bản và chủ thể chịu trách nhiệm về thông tin ấy.

Ý nghĩa thứ hai là trách nhiệm biên tập. Bài báo có tên tòa soạn, tác giả và ngày đăng để công chúng đối chiếu, phản hồi hoặc yêu cầu đính chính. Khi dữ kiện chỉ còn được nhớ dưới dạng “AI nói rằng”, tờ báo có thể không được nhận diện là nơi xác minh; ngược lại, công chúng có thể gán cho báo lời diễn giải không phải của báo. “Mất nguồn tin” vì thế chạm đến cơ chế quy trách nhiệm, không chỉ là câu chuyện thương hiệu báo chí hay lượt truy cập.

Ý nghĩa thứ ba thuộc quan hệ giữa công chúng và tòa soạn. Người đọc có thể dùng nội dung do báo sản xuất mà không nhớ cơ quan sản xuất. Khi ấy, mức độ hiện diện của tin tức không đồng nhất với khả năng nhận diện tờ báo. Thách thức là duy trì mối liên hệ giữa thông tin có ích và chủ thể chịu trách nhiệm về thông tin ấy. Khảo sát này chưa đo được mức tổn thất về niềm tin hay lượng độc giả nên không thể đưa ra kết luận định lượng về các hệ quả đó.

Đối với báo chí Việt Nam, điều cần ưu tiên không chỉ là tăng lượt tiếp cận qua nền tảng số mà còn là giữ khả năng truy nguyên: tên tòa soạn, tác giả, thời điểm và đường dẫn bài gốc phải rõ ràng, nhất quán. Định hướng này gắn với mục tiêu nâng chất lượng và năng lực số của báo chí trong Quyết định 348/QĐ-TTg (2023).

Với nền tảng AI, việc gắn một đường dẫn ở cuối câu trả lời chưa đủ nếu người đọc không biết mệnh đề nào được hỗ trợ bởi nguồn nào. Tên báo nên đi gần dữ kiện liên quan; phần tóm tắt thông tin cần phân biệt với phần suy luận của hệ thống. Giáo dục truyền thông cũng cần hướng người trẻ đến thao tác cụ thể: mở bài gốc, kiểm tra ngày đăng, so sánh điều kiện áp dụng và xác định ai chịu trách nhiệm về phát biểu.

Sự quên tên báo còn xảy ra khi đọc mạng xã hội hay nghe thuật lại; khảo sát chưa có nhóm đọc trực tiếp để tách tác động riêng của AI. Các tỷ lệ phản ánh mức đồng ý với trải nghiệm tự thuật, không phải tỷ lệ sai trong một bài kiểm tra trí nhớ. Vì thế, đóng góp của bài viết là chỉ ra những biểu hiện đáng chú ý và ý nghĩa báo chí của việc duy trì dấu vết nguồn, đồng thời xác lập vấn đề cho nghiên cứu có đối chứng.

4. Kết luận

Khảo sát 108 người 18-24 tuổi tại Cần Thơ ghi nhận sự tách rời giữa nhớ nội dung và nhớ nguồn báo chí. Có 64 người nhớ câu trả lời AI hơn tên báo; 56 người nhớ nội dung nhưng không nhớ cơ quan báo chí; 48 người khó truy bài gốc; 45 người có thể nhầm phần AI diễn giải với thông tin của báo. Các lựa chọn chỉ ra ba biểu hiện liên tiếp: nguồn mờ đi trong trí nhớ, đường kiểm chứng khó tìm và tư cách của phát biểu dễ bị nhầm lẫn.

Nghiên cứu không đại diện cho toàn bộ Gen Z Việt Nam và chưa chứng minh AI trực tiếp gây quên nguồn; khảo sát ghi nhận trải nghiệm tự thuật của 108 người, không thực hiện phép kiểm tra trí nhớ nguồn thực nghiệm. Tuy nhiên, các phát hiện đặt ra yêu cầu thực tiễn: tin tức đi qua AI vẫn phải để người đọc trở lại được văn bản báo chí, xác định ai công bố và dựa trên chứng cứ nào./.

 

Trích dẫn bài báo

Lê Anh Thư. Hiện tượng “mất nguồn tin” trong tiếp nhận báo chí qua AI của Gen Z Việt Nam. Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông 2026, 32(11):—. DOI:https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/hien-tuong-mat-nguon-tin-trong-tiep-nhan-bao-chi-qua-ai-cua-gen-z-viet-nam-p31641.html
Lê Anh Thư. Hiện tượng “mất nguồn tin” trong tiếp nhận báo chí qua AI của Gen Z Việt Nam. Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, 2026, 32, —, https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/hien-tuong-mat-nguon-tin-trong-tiep-nhan-bao-chi-qua-ai-cua-gen-z-viet-nam-p31641.html.
Lê Anh Thư (2026). Hiện tượng “mất nguồn tin” trong tiếp nhận báo chí qua AI của Gen Z Việt Nam. Tập 32, Số 11 (2026), 32(11), —. https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/hien-tuong-mat-nguon-tin-trong-tiep-nhan-bao-chi-qua-ai-cua-gen-z-viet-nam-p31641.html
Lê Anh Thư. Hiện tượng “mất nguồn tin” trong tiếp nhận báo chí qua AI của Gen Z Việt Nam. Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, 2026, v. 32, n. 11, p. —. Disponível em: https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/hien-tuong-mat-nguon-tin-trong-tiep-nhan-bao-chi-qua-ai-cua-gen-z-viet-nam-p31641.html.
Lê Anh Thư. "Hiện tượng “mất nguồn tin” trong tiếp nhận báo chí qua AI của Gen Z Việt Nam." Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông 32, no. 11 (2026): —. https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/hien-tuong-mat-nguon-tin-trong-tiep-nhan-bao-chi-qua-ai-cua-gen-z-viet-nam-p31641.html.
Lê Anh Thư (2026) 'Hiện tượng “mất nguồn tin” trong tiếp nhận báo chí qua AI của Gen Z Việt Nam'. Tập 32, Số 11 (2026), 32(11), —. Available at: https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/hien-tuong-mat-nguon-tin-trong-tiep-nhan-bao-chi-qua-ai-cua-gen-z-viet-nam-p31641.html.
Lê Anh Thư, "Hiện tượng “mất nguồn tin” trong tiếp nhận báo chí qua AI của Gen Z Việt Nam," Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, vol. 32, no. 11, pp. —, 2026. [Online]. Available: https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/hien-tuong-mat-nguon-tin-trong-tiep-nhan-bao-chi-qua-ai-cua-gen-z-viet-nam-p31641.html
Lê Anh Thư. "Hiện tượng “mất nguồn tin” trong tiếp nhận báo chí qua AI của Gen Z Việt Nam." Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, vol. 32, no. 11, 2026, pp. —.
Lê Anh Thư. "Hiện tượng “mất nguồn tin” trong tiếp nhận báo chí qua AI của Gen Z Việt Nam." Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông 32, no. 11 (2026): —. https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/hien-tuong-mat-nguon-tin-trong-tiep-nhan-bao-chi-qua-ai-cua-gen-z-viet-nam-p31641.html.
Lê Anh Thư. Hiện tượng “mất nguồn tin” trong tiếp nhận báo chí qua AI của Gen Z Việt Nam. Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông. 2026;32(11):—. Available from: https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/hien-tuong-mat-nguon-tin-trong-tiep-nhan-bao-chi-qua-ai-cua-gen-z-viet-nam-p31641.html
Thống kê truy cập
Online: 68
Hôm nay: 3.272
Hôm qua: 4.292
Tổng: 9.298.696
Liên kết hữu ích