Tạp chí điện tử tiếng Việt

Truyền thông chính trị thích ứng với công chúng trẻ trên mạng xã hội: Kinh nghiệm của Trung Quốc và giá trị tham khảo

Political communication adapted to young audiences on social media: China’s experience and lessons for reference

Phạm Minh Sơn truonggiangbmdt@yahoo.com.vn Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Lê Tùng Lâm tunglamhvbc@gmail.com Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Ngày nhận bài: 15/09/2026 Ngày phản biện: 21/09/2026 Ngày xuất bản: 29/10/2026
Khi không gian số và mạng xã hội ngày càng trở thành môi trường quan trọng của đời sống thông tin, truyền thông chính trị cũng đứng trước yêu cầu phải thích ứng với sự thay đổi trong cách tiếp nhận, tương tác và tham gia của công chúng, đặc biệt là giới trẻ. Bài viết phân tích trường hợp Trung Quốc và chỉ ra bốn phương diện thích ứng chủ yếu gồm: nội dung truyền thông, hình thức biểu đạt, nền tảng và tương tác với công chúng trẻ. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu kết hợp nghiên cứu trường hợp đối với một số chương trình, sản phẩm và tài khoản truyền thông tiêu biểu của Đoàn Thanh niên Cộng sản Trung Quốc giai đoạn 2013 - 2025. Trên cơ sở đó, nghiên cứu khái quát một số giá trị tham khảo từ kinh nghiệm của Trung Quốc đối với truyền thông chính trị hướng tới công chúng trẻ trong môi trường số.
As digital spaces and social media increasingly become important environments for information exchange, political communication faces growing demands to adapt to changes in how audiences receive information, interact, and participate, particularly among young people. This article analyzes the case of China and identifies four key dimensions of adaptation: communication content, forms of expression, platform selection, and interaction with young audiences. The study employs document analysis combined with case studies of selected programs, communication products, and prominent social media accounts of the Communist Youth League of China during the 2013–2025 period. Based on this analysis, the study draws several lessons from China’s experience that may inform political communication targeting young audiences in the digital environment.

truyền thông chính trị, công chúng trẻ, mạng xã hội, thích ứng truyền thông, Trung Quốc.

political communication, young audiences, social media, communication adaptation, China

Báo Thanh niên Trung Quốc. (2023a). Lớp học chủ đề trực tuyến “Học tập lớn của thanh niên”, kỳ 21 năm 2023. https://zqb.cyol.com/html/2023-11/28/nw.D110000zgqnb_20231128_3-01.htm

Báo Thanh niên Trung Quốc. (2023b). Lớp học chủ đề trực tuyến “Học tập lớn của thanh niên”, kỳ 22 năm 2023. https://zqb.cyol.com/html/2023-12/19/nw.D110000zgqnb_20231219_8-01.htm.

Báo Thanh niên Trung Quốc. (2024a). Lớp học chủ đề “Học tập lớn của thanh niên”, kỳ 1 năm 2024. https://news.youth.cn/gn/202401/t20240110_15013128.htm.

Báo Thanh niên Trung Quốc. (2024b). Lớp học chủ đề trực tuyến “Học tập lớn của thanh niên”, kỳ 2 năm 2024. https://qnzz.youth.cn/qckc/202403/t20240327_15158127.htm.

Belov, G. A., & Pugachev, V. P. (Chủ biên). (1993). Cơ sở chính trị học: Từ điển ngắn gọn các thuật ngữ và khái niệm. IntelTech.

Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. (2025). Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc về việc tiếp tục làm sâu sắc quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, thúc đẩy xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam - Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược. https://baochinhphu.vn/tuyen-bo-chung-viet-nam-trung-quoc-ve-viec-tiep-tuc-lam-sau-sac-quan-he-doi-tac-hop-tac-chien-luoc-toan-dien-thuc-day-xay-dung-cong-dong-chia-se-tuong-lai-viet-nam-trung-quoc-co-y-nghia-chien-luoc-102250415164611109.htm.

Cục Quản lý Không gian mạng Trung Quốc. (2019). Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Trung Quốc: Chủ động lên tiếng, lan tỏa năng lượng tích cực và định hướng thanh niên. https://www.cac.gov.cn/2019-12/03/c_1576907934416237.htm.

DataReportal. (2026). Digital 2026: Vietnam. https://datareportal.com/reports/digital-2026-vietnam

Diễn đàn Thanh niên Trung Quốc. (2023a). Khơi dậy sức mạnh tinh thần của thanh niên Trung Quốc tiến bước trong thời đại mới: Tổng quan công tác định hướng tư tưởng chính trị thanh niên của Đoàn. https://news.youth.cn/gn/202306/t20230601_14555460.htm.

Diễn đàn Thanh niên Trung Quốc. (2023b). Tiến bước dưới sự chỉ dẫn của Tổng Bí thư: Tổng quan việc Đoàn Thanh niên học tập và quán triệt bài phát biểu quan trọng tại lễ kỷ niệm 100 năm thành lập Đoàn. https://news.youth.cn/sz/202305/t20230516_14519863.htm.

Diễn đàn Thanh niên Trung Quốc. (2024). Học tập lớn của thanh niên. https://dszk.youth.cn/qndxx/.

Học viện Báo chí và Tuyên truyền. (2025). Cán bộ, đảng viên Đảng bộ Học viện Báo chí và Tuyên truyền với việc giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa trường Đảng. https://ajc.hcma.vn/SMPT_Publishing_UC/TinTuc/pInTinTuc.aspx?ItemID=14261&UrlList=.

Kinh Học Dân. (2014). Lý luận về hoạt động truyền thông chính trị. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội Trung Quốc.

Klinger, U., & Svensson, J. (2015). The emergence of network media logic in political communication: A theoretical approach. New Media & Society, 17(8), 1241-1257. https://doi.org/10.1177/1461444814522952.

Lasswell, H. D. (1948). The structure and function of communication in society. In L. Bryson (Ed.), The communication of ideas (pp. 37-51). Institute for Religious and Social Studies.

Luật Thanh niên (Số 57/2020/QH14, 2020). Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Lữ Tử Hàm. (2018). Kiến tạo hình ảnh của Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Trung Quốc trên Bilibili: Nghiên cứu dựa trên video đăng tải và các văn bản liên quan. Nhân Dân nhật báo trực tuyến. https://media.people.com.cn/n1/2018/0125/c416773-29787109.html.

Lưu Uyên. (2023). Phối hợp “đám mây - biên - thiết bị đầu cuối”: Xây dựng không gian metaverse đầu tiên của Đoàn Thanh niên. Báo Thanh niên Trung Quốc. https://zqb.cyol.com/html/2023-03/30/nw.D110000zgqnb_20230330_1-05.htm.

Lý Triết, & Lữ Hồng Giác. (2021). Nghiên cứu biểu đạt và định hướng ý thức chính trị của thanh niên trên mạng: Phân tích diễn ngôn bình luận chạy trên màn hình đối với video của Trung ương Đoàn trên Bilibili. Tạp chí Học viện Sư phạm Kỹ thuật Phúc Kiến, 39(6), 557-562, 579. https://doi.org/10.19977/j.cnki.jfpnu.20210085.

McNair, B. (2011). An introduction to political communication (5th ed.). Routledge.

Nguyễn Thị Thanh Dung. (2024). Các yếu tố tác động đến xử lý khủng hoảng truyền thông chính trị. Tạp chí Lý luận chính trị. https://lyluanchinhtri.vn/cac-yeu-to-tac-dong-den-xu-ly-khung-hoang-truyen-thong-chinh-tri-6521.html.

Tân Hoa Xã. (2017). Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc vụ viện ban hành Quy hoạch phát triển thanh niên trung và dài hạn (2016-2025). https://app.www.gov.cn/govdata/gov/201704/14/402865/article.html

Thiệu Bồi Nhân. (1991). Truyền thông chính trị học. Nhà xuất bản Nhân dân Giang Tô.

Tô Nhạn. (2021). Nhân danh tuổi trẻ lan tỏa tình yêu nước: Chuỗi video ngắn “Tôi hiểu bạn hơn bao giờ hết” lan tỏa mạnh trên toàn mạng. Quang Minh nhật báo. https://news.youth.cn/gn/202108/t20210801_13145694.htm.

Trung tâm Thông tin mạng Internet Trung Quốc (CNNIC). (2025). Báo cáo thống kê lần thứ 56 về tình hình phát triển Internet Trung Quốc. https://www3.cnnic.cn/n4/2025/0721/c88-11328.html.

Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. (2025a). Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn thăm, chúc mừng 100 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam. https://doanthanhnien.vn/chi-tiet/bi-thu-thu-nhat-trung-uong-doan-tham-chuc-mung-100-nam-ngay-bao-chi-cach-mang-viet-nam-53913.

Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. (2025b). Chiến dịch truyền thông A80 của Đoàn Thanh niên lan tỏa kỷ lục trên nền tảng số. https://doanthanhnien.vn/chi-tiet/chien-dich-truyen-thong-a80-cua-doan-thanh-nien-lan-toa-ky-luc-tren-nen-tang-so-54455.

Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. (2025c). Những con số ấn tượng Hành trình “Tôi yêu Tổ quốc tôi”. https://doanthanhnien.vn/chi-tiet/nhung-con-so-an-tuong-hanh-trinh-toi-yeu-to-quoc-toi-54477.

Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Trung Quốc. (2023). Báo cáo Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIX Đoàn Thanh niên Cộng sản Trung Quốc. https://19th.gqt.org.cn/yw/202306/t20230625_14606141.htm.

Van Dijck, J., & Poell, T. (2013). Understanding social media logic. Media and Communication, 1(1), 2-14. https://doi.org/10.17645/mac.v1i1.70.

1. Đặt vấn đề

Sự phát triển nhanh của mạng xã hội đang làm thay đổi sâu sắc cách công chúng, đặc biệt là giới trẻ trong tiếp cận, trao đổi và tham gia vào các vấn đề chính trị - xã hội. Ở Việt Nam, đến cuối năm 2025, số người sử dụng Internet đạt 85,6 triệu người, tương đương 84,2% dân số. Trong số người dùng Internet, 92,3% sử dụng ít nhất một nền tảng mạng xã hội; tổng số định danh người dùng mạng xã hội đạt khoảng 79,0 triệu, tương đương 77,6% dân số, trong đó khoảng 78,7 triệu thuộc nhóm từ 18 tuổi trở lên (DataReportal, 2026). Tại Trung Quốc, đến tháng 6/2025, số người sử dụng Internet đạt 1,123 tỷ người, tương ứng tỷ lệ phổ cập 79,7%; trong đó số người dùng mạng xã hội đạt 1,107 tỷ và người dùng video ngắn đạt 1,068 tỷ (Trung tâm Thông tin mạng Internet Trung Quốc, 2025). Cùng với sự phát triển của WeChat, Weibo, Douyin, Bilibili, Kuaishou và nhiều nền tảng nội địa khác, những con số này cho thấy một hệ sinh thái truyền thông số có quy mô rất lớn, ảnh hưởng mạnh đến đời sống thông tin và cách tiếp cận nội dung của thanh niên Trung Quốc. Trong bối cảnh đó, truyền thông chính trị không thể chỉ duy trì cách thức truyền tải truyền thống mà phải chủ động thích ứng với ngôn ngữ, hình thức biểu đạt, logic nền tảng và phương thức tương tác mới của công chúng trẻ.

Trung Quốc là trường hợp đáng chú ý bởi quá trình thích ứng được triển khai tương đối có hệ thống, gắn với định hướng của các cơ quan Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, đồng thời dựa trên hệ sinh thái nền tảng nội địa phát triển mạnh. Đối với Việt Nam, việc nghiên cứu có giá trị tham khảo nhất định do những tương đồng giữa hai nước về thể chế chính trị, sự gần gũi về địa lý, văn hóa và quan hệ giao lưu nhân dân. Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc năm 2025 nhấn mạnh “tăng cường hợp tác giữa các cơ quan báo chí, tin tức, xuất bản, phát thanh truyền hình” (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, 2025), qua đó tạo thêm nền tảng cho việc trao đổi kinh nghiệm về tổ chức truyền thông trong bối cảnh số.

Cho đến nay, các nghiên cứu trong nước về truyền thông chính trị trên mạng xã hội hiện chủ yếu tập trung vào khung lý luận, chủ thể, phương thức truyền thông nói chung, đặc biệt gắn với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng; chưa nghiên cứu một cách hệ thống cách một quốc gia, cụ thể là Trung Quốc đang thích ứng ra sao trong truyền thông chính trị với công chúng trẻ trên mạng xã hội. Từ đó, bài viết tập trung trả lời hai câu hỏi: (1) Truyền thông chính trị ở Trung Quốc thích ứng với công chúng trẻ trên mạng xã hội theo những phương diện nào và bằng cách thức gì? (2) Những giá trị tham khảo nào có thể được rút ra từ quá trình thích ứng đó?

2. Phương pháp nghiên cứu

Về phương pháp luận, bài viết dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; đồng thời quán triệt các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về công tác tư tưởng, truyền thông chính trị và quản lý thông tin trên không gian số. Bên cạnh đó, bài viết sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp phân tích tài liệu: được sử dụng để thu thập và phân tích các văn kiện, quy hoạch, báo cáo chính thức liên quan đến công tác thanh niên, công tác tư tưởng và hoạt động truyền thông trên môi trường số của Trung Quốc; các thông tin, số liệu do tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Trung Quốc, cơ quan quản lý và cơ quan báo chí chính thống công bố. Bài viết đồng thời tham khảo các công trình học thuật về truyền thông chính trị, truyền thông trên mạng xã hội, đặc điểm tiếp nhận của công chúng trẻ và các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến những trường hợp được khảo sát. Các nguồn tài liệu được đối chiếu nhằm bổ sung và kiểm chứng thông tin giữa nguồn chính thức và kết quả nghiên cứu học thuật.

- Phương pháp nghiên cứu trường hợp: bài viết lựa chọn có chủ đích một số chương trình, tài khoản mạng xã hội và sản phẩm truyền thông tiêu biểu của các chủ thể truyền thông chính trị ở Trung Quốc, trong đó tập trung vào các hoạt động của Đoàn Thanh niên Cộng sản Trung Quốc. Các trường hợp được lựa chọn theo các tiêu chí: hướng trực tiếp hoặc chủ yếu tới thanh niên; được triển khai trên mạng xã hội hoặc gắn chặt với hệ sinh thái truyền thông số; thể hiện tương đối rõ sự điều chỉnh nhằm phù hợp với công chúng trẻ; và có nguồn dữ liệu đủ để phân tích về nội dung, hình thức, cách thức sử dụng nền tảng hoặc mức độ tương tác.

- Phương pháp phân tích nội dung và so sánh: các tài liệu và trường hợp nghiên cứu được phân loại, đối chiếu và phân tích theo bốn phương diện đã xác lập trong khung nghiên cứu, gồm: nội dung truyền thông, hình thức biểu đạt, nền tảng và tương tác với công chúng trẻ. Trên cơ sở đó, bài viết nhận diện những biểu hiện thích ứng nổi bật, xem xét mối liên hệ giữa các phương diện và khái quát những kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam. Phương pháp so sánh được sử dụng chủ yếu ở mức đối chiếu với điều kiện và thực tiễn truyền thông chính trị tại Việt Nam, không nhằm xây dựng một nghiên cứu so sánh đối xứng giữa hai quốc gia.

- Phạm vi và nguồn dữ liệu: dữ liệu được thu thập trong giai đoạn 2013–2025, tính từ thời điểm các tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Trung Quốc bắt đầu tăng cường hiện diện chính thức trên Weibo và WeChat. Nguồn dữ liệu gồm: (i) văn kiện, quy hoạch và báo cáo chính thức về công tác thanh niên, công tác tư tưởng và truyền thông số; (ii) thông tin và số liệu do cơ quan quản lý, tổ chức chính trị - xã hội và các chủ thể truyền thông công bố; (iii) bài viết trên các cơ quan báo chí chính thống; và (iv) các công trình học thuật có liên quan. Phần lớn số liệu về quy mô tiếp cận, lượt theo dõi và tương tác được lấy từ báo cáo hoặc thông tin do chính các chủ thể truyền thông và cơ quan quản lý công bố, chưa qua kiểm định độc lập; vì vậy, các số liệu này chủ yếu được sử dụng để mô tả quy mô triển khai và mức độ tham gia trên nền tảng, không được coi là căn cứ độc lập để đo lường đầy đủ hiệu quả tác động.

3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

3.1. Kết quả nghiên cứu

3.1.1. Một số vấn đề lý luận về truyền thông chính trị thích ứng với công chúng trẻ trên mạng xã hội

Trước hết, thuật ngữ “truyền thông chính trị” đã được đề cập khá nhiều trong các nghiên cứu quốc tế và trong nước. Brian McNair xem truyền thông chính trị là “hoạt động truyền thông có chủ đích về chính trị”. Theo ông, phạm vi của truyền thông chính trị bao gồm: các hình thức truyền thông do các chính trị gia và chủ thể chính trị thực hiện nhằm đạt những mục tiêu nhất định; hoạt động truyền thông của những chủ thể ngoài chính trị, như cử tri hay các cây bút bình luận, hướng tới các chủ thể chính trị; và hoạt động truyền thông về các chủ thể chính trị cũng như các hoạt động của họ trên báo chí và các hình thức thảo luận chính trị khác trên phương tiện truyền thông (McNair, 2011, tr. 4).

G.A. Belov và V.P. Pugachev cho rằng: “Truyền thông chính trị là khái niệm phản ánh quá trình tương tác giữa các chủ thể chính trị dựa trên việc trao đổi thông tin và giao tiếp trực tiếp, cũng như phương tiện và phương pháp của sự tương tác này” (Belov & Pugachev, 1993, tr. 54). Quan niệm này nhấn mạnh rõ tính tương tác, sự trao đổi thông tin và đề cập đến cả các phương tiện, phương thức trong quá trình truyền thông chính trị.

Các học giả Trung Quốc cũng công bố nhiều nghiên cứu về vấn đề này. Thiệu Bồi Nhân xác định “Truyền thông chính trị là việc chủ thể truyền thông chính trị thông qua nhiều hình thức để truyền tải thông tin chính trị, nhằm tác động đến thái độ và hành vi của người tiếp nhận, qua đó thúc đẩy quá trình chính trị” (Thiệu Bồi Nhân, 1991, tr. 25). Kinh Học Dân tiếp cận truyền thông chính trị theo hướng hệ thống khi cho rằng: “Truyền thông chính trị là quá trình vận hành có hệ thống của sự lan tỏa, tiếp nhận, đồng thuận và nội hóa thông tin chính trị trong cộng đồng chính trị” (Kinh Học Dân, 2014, tr. 26). Cách tiếp cận này làm rõ hơn quá trình vận động và tác động của thông tin chính trị từ truyền đạt đến tiếp nhận, đồng thuận và nội hóa trong công chúng.

Trong nước, tác giả Nguyễn Thị Thanh Dung định nghĩa: “Truyền thông chính trị là cách thức tương tác, giao tiếp giữa các chủ thể chính trị với nhau, giữa các chủ thể chính trị và công chúng thông qua việc sử dụng các phương tiện truyền thông, nhằm tác động đến tri thức, niềm tin và hành vi của các bên giao tiếp về các vấn đề chính trị” (Nguyễn Thị Thanh Dung, 2024).

Từ các quan niệm trên, có thể hiểu truyền thông chính trị là quá trình có chủ đích trong đó các chủ thể chính trị tạo lập, truyền tải và tổ chức sự tương tác xoay quanh các thông tin, thông điệp chính trị thông qua những phương tiện và nền tảng truyền thông khác nhau, nhằm tác động đến nhận thức, thái độ, niềm tin và hành vi của công chúng. Theo cách hiểu này, truyền thông chính trị không chỉ dừng ở việc chuyển tải thông tin một chiều, mà còn bao hàm quá trình tiếp nhận, phản hồi và tương tác giữa chủ thể truyền thông với công chúng trong những điều kiện truyền thông cụ thể.

Bên cạnh đó, chủ thể chính trị trong phạm vi bài viết này được hiểu chủ yếu là các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và các thiết chế truyền thông chính thống tham gia xây dựng, truyền tải và tổ chức tương tác đối với các nội dung chính trị; trong đó, nghiên cứu tập trung vào hoạt động của Đoàn Thanh niên Cộng sản Trung Quốc do đây là trường hợp có sự phân hóa mạnh về đối tượng hướng đến, trực tiếp hướng tới nhóm công chúng thanh niên.

Về công chúng trẻ, có thể tiếp cận theo tiêu chí độ tuổi của thanh niên. Ở Việt Nam, Điều 1 Luật Thanh niên năm 2020 quy định: “Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi” (Luật Thanh niên, 2020). Đối với Trung Quốc, Quy hoạch phát triển thanh niên trung và dài hạn (2016 - 2025) xác định thanh niên trong độ tuổi 14-35, trừ một số lĩnh vực được điều chỉnh theo quy định pháp luật chuyên ngành (Tân Hoa Xã, 2017). Trên cơ sở đó, công chúng trẻ được hiểu là bộ phận công chúng thuộc nhóm tuổi thanh niên; cụ thể hơn trong bài viết này là nhóm công chúng trẻ tham gia tiếp nhận, tương tác, chia sẻ và tạo lập nội dung trong môi trường truyền thông số.

Trong môi trường mạng xã hội, truyền thông chính trị không chỉ chuyển hoạt động truyền thông từ các kênh truyền thống lên nền tảng số mà còn phải điều chỉnh theo logic vận hành của môi trường truyền thông mới. Klinger và Svensson cho rằng các nền tảng mạng xã hội vận hành theo một “logic truyền thông mạng” khác với truyền thông đại chúng truyền thống, dẫn tới những thay đổi trong cách sản xuất nội dung, phân phối thông tin và sử dụng truyền thông (Klinger & Svensson, 2015, tr. 1241 - 1257). Van Dijck và Poell cũng chỉ ra rằng “logic truyền thông xã hội” được cấu thành bởi bốn nguyên tắc nền tảng gồm khả năng lập trình, tính phổ biến, tính kết nối và tính dữ liệu hóa (Van Dijck & Poell, 2013, tr. 2 - 14). Từ cách tiếp cận này, sự thích ứng có thể được hiểu là quá trình chủ thể truyền thông điều chỉnh hoạt động truyền thông để phù hợp với đặc điểm của môi trường nền tảng và hành vi của công chúng.

Trên cơ sở đó, sự thích ứng của truyền thông chính trị với công chúng trẻ trên mạng xã hội được hiểu là quá trình các chủ thể truyền thông chính trị điều chỉnh có chủ đích về nội dung, hình thức biểu đạt, cách thức sử dụng nền tảng và phương thức tương tác nhằm phù hợp hơn với đặc điểm tiếp nhận, hành vi truyền thông của người trẻ, đồng thời vẫn bảo đảm mục tiêu chính trị cốt lõi.

3.1.2. Các phương diện thích ứng của truyền thông chính trị với công chúng trẻ trên mạng xã hội ở Trung Quốc

Trên cơ sở khái niệm đã xác lập, bài viết xây dựng khung phân tích sự thích ứng của truyền thông chính trị với công chúng trẻ trên mạng xã hội theo một số phương diện có thể quan sát trong thực tiễn. Mô hình truyền thông của Lasswell xác định năm thành tố cơ bản của quá trình truyền thông gồm chủ thể, nội dung, kênh, công chúng và hiệu quả truyền thông (Lasswell, 1948). Tuy nhiên, nghiên cứu này không khảo sát đầy đủ tất cả các thành tố trên mà tập trung vào những phương diện thể hiện rõ sự điều chỉnh của hoạt động truyền thông khi hướng tới công chúng trẻ trên mạng xã hội. Đồng thời, bài viết vận dụng cách tiếp cận “logic truyền thông xã hội” của Van Dijck và Poell để xem xét sự thích ứng trong điều kiện truyền thông vận hành trên các nền tảng số. Từ đó, nghiên cứu tập trung vào bốn phương diện thích ứng: (1) nội dung truyền thông; (2) hình thức biểu đạt; (3) nền tảng; (4) tương tác với công chúng trẻ.

Thứ nhất, thích ứng về nội dung truyền thông.

Sự thích ứng này thể hiện ở việc lựa chọn, cụ thể hóa và tổ chức lại các nội dung chính trị theo hướng phù hợp hơn với mối quan tâm, ngôn ngữ và đặc điểm tiếp nhận của công chúng trẻ. Quy hoạch phát triển thanh niên trung và dài hạn (2016 - 2025) yêu cầu “coi Internet là một trận địa quan trọng để tiến hành giáo dục tư tưởng cho thanh niên”, đồng thời khuyến khích phát triển các sản phẩm văn hóa truyền thông mới trên mạng “phù hợp với các giá trị cốt lõi xã hội chủ nghĩa và được thanh niên yêu thích” (Tân Hoa Xã, 2017). Đến Đại hội XIX Đoàn Thanh niên Cộng sản Trung Quốc, cách tiếp cận này được xác định rõ hơn qua các yêu cầu “diễn giải theo hướng thanh niên hóa”, “định hướng phân nhóm”, “truyền thông qua mạng” và sử dụng “ngôn ngữ của thanh niên” trong truyền tải lý luận chính trị (Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Trung Quốc, 2023).

Một trường hợp tiêu biểu là chương trình “Học tập lớn của thanh niên” do Ban Tuyên truyền Trung ương Đoàn tổ chức dưới dạng các lớp học chủ đề trực tuyến và phân phối nội dung qua các kênh truyền thông và mạng xã hội của tổ chức Đoàn. Nội dung chính trị không được chuyển nguyên trạng từ các văn kiện hay bài phát biểu lên môi trường số, mà được chia thành các chủ đề cụ thể, gắn với những câu chuyện, nhân vật và vấn đề gần với thanh niên. Chẳng hạn, năm 2024, chủ đề “Tuổi trẻ gánh vác trách nhiệm trong hiện đại hóa kiểu Trung Quốc” lần lượt đi vào từng khía cạnh đóng góp cụ thể của thanh niên như phát triển kinh tế, đổi mới khoa học - công nghệ, nông thôn, dân chủ - pháp trị, văn hóa - giáo dục - thể thao (Diễn đàn Thanh niên Trung Quốc, 2024); hay tư tưởng “lấy nhân dân làm trung tâm” sử dụng những câu chuyện, trường hợp cụ thể và phỏng vấn chuyên gia để giúp thanh niên tiếp cận nội dung lý luận (Báo Thanh niên Trung Quốc, 2024a, 2024b). Qua đó, những nội dung vốn mang tính khái quát cao được chủ đề hóa, cụ thể hóa và kể lại bằng cấu trúc gần với trải nghiệm tiếp nhận của người trẻ, thay vì duy trì nguyên vẹn phong cách diễn ngôn trong các văn kiện chính trị.

Quy mô tham gia cũng cho thấy sự khả quan: kỳ thứ 20 năm 2023 ghi nhận 52.922.625 lượt người tham gia học tập và tương tác, với 88.325.317 lượt nhấp; kỳ thứ 21 tăng lên 56.748.772 lượt người tham gia và 107.415.777 lượt nhấp (Báo Thanh niên Trung Quốc, 2023a, 2023b). Ở cấp độ rộng hơn, hệ thống truyền thông mới của Đoàn đã triển khai chiến lược “sản phẩm hóa”, cho ra đời hàng nghìn sản phẩm văn hóa mạng với tổng lượt đọc trên 26 tỷ, đồng thời hệ thống tài khoản của tổ chức này đạt trên 800 triệu lượt theo dõi (Diễn đàn Thanh niên Trung Quốc, 2023b). Những dữ liệu này tuy chưa chứng minh được mức độ thay đổi nhận thức, và bản thân chúng do chủ thể truyền thông công bố nên cần được tiếp nhận thận trọng, nhưng cho thấy việc “thanh niên hóa” nội dung chính trị đã được tổ chức ở quy mô lớn, với khả năng tiếp cận và huy động sự tham gia đáng kể của công chúng trẻ.

Thứ hai, thích ứng về hình thức biểu đạt.

Truyền thông chính trị hướng tới thanh niên ở Trung Quốc những năm gần đây chuyển mạnh sang các hình thức trực quan, đa phương tiện và có tính trải nghiệm, cá thể hóa cao.

Điển hình, nhân kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 2021, dưới sự chỉ đạo của Cục Truyền thông mạng thuộc Cơ quan Quản lý Không gian mạng Trung Quốc, chuỗi 30 video ngắn “Tôi hiểu bạn hơn bao giờ hết” được xây dựng theo phương thức “thanh niên kể, kể cho thanh niên nghe”, chuyển quá trình lịch sử của Đảng Cộng sản Trung Quốc thành những câu chuyện ngắn dành trực tiếp cho người trẻ. Đến ngày 30/7/2021, chuỗi sản phẩm đạt hơn 1,036 tỷ lượt nhấp và 6,94 triệu lượt thảo luận trên toàn mạng (Tô Nhạn, 2021).

Ở cấp độ sản phẩm, sự thích ứng này thể hiện ở việc đưa nội dung giáo dục, tuyên truyền vào video, livestream, sản phẩm tương tác và các không gian số nhập vai...  Một trường hợp tiêu biểu là “Challenge Cup Metaverse”, không gian tương tác số được xây dựng cho cuộc thi “Challenge Cup” do Trung ương Đoàn cùng các cơ quan trung ương tổ chức. Người dùng có thể nhập vai nhân vật số, tham quan khuôn viên và triển lãm ảo, xem nội dung trình diễn, tương tác với các sản phẩm; các buổi giới thiệu còn được phát trực tiếp trên Weibo, WeChat Channels, Bilibili và Douyin, thu hút tổng cộng hơn 500.000 lượt xem. Trong thời gian vòng chung kết, 1.083.518 người dùng đã đăng nhập vào không gian này (Lưu Uyên, 2023).

Những hoạt động này cho thấy hình thức biểu đạt của truyền thông chính trị đang được mở rộng từ chương trình truyền thông tuyến tính sang video, phát trực tiếp, không gian tương tác nhập vai, qua đó đưa thông điệp chính trị vào chính những dạng thức truyền thông mà công chúng trẻ quen sử dụng trên mạng xã hội.

Thứ ba, thích ứng về nền tảng.

Sự thích ứng của truyền thông chính trị với công chúng trẻ ở Trung Quốc còn thể hiện ở việc điều chỉnh cách hiện diện và phong cách truyền thông theo đặc điểm của từng nền tảng. Quá trình này được triển khai khá hệ thống trong hoạt động của Đoàn Thanh niên Cộng sản Trung Quốc: từ năm 2013 mở tài khoản chính thức trên Weibo và WeChat, năm 2016 vào Zhihu, năm 2017 vào Bilibili và QQ Space, đến năm 2018 tiếp tục hiện diện trên Douyin, Kuaishou và Weishi (Cục Quản lý Không gian mạng Trung Quốc, 2019). Điểm đáng chú ý không chỉ nằm ở việc mở rộng số lượng kênh, mà ở sự phân hóa phong cách theo văn hóa của từng nền tảng. Ví dụ, hình tượng “Tuantuan” của Trung ương Đoàn trên Weibo được mô tả là mang sắc thái “dũng cảm, chính trực”, trên WeChat “ấm áp, tích cực”, trên Zhihu “sâu sắc, trí tuệ”, trên QQ Space “nhiệt huyết, trẻ trung”, còn trên Bilibili lại có thể “chơi vui cùng mọi người” (Cục Quản lý Không gian mạng Trung Quốc, 2019). Cách vận hành này cho thấy cùng một chủ thể chính trị nhưng không duy trì một giọng điệu và mô thức truyền thông đơn điệu, đồng nhất, mà chủ động điều chỉnh bộ nhận diện, cách biểu đạt, nhịp độ thông tin và tương tác với người dùng theo “cấu trúc cộng đồng”, nhất là cộng đồng thanh thiếu niên trên từng mạng xã hội. Đến năm 2023, hệ thống Đoàn đã hiện diện trên 26 nền tảng mạng, bao phủ các mạng xã hội chủ yếu trong nước, với hơn 30.000 tài khoản trong toàn hệ thống và tổng lượt đọc hằng năm trên các tài khoản truyền thông mới vượt 37 tỷ lượt (Diễn đàn Thanh niên Trung Quốc, 2023a). Điều đó cho thấy thích ứng với nền tảng ở Trung Quốc không chỉ là mở thêm tài khoản, mà đã phát triển thành một chiến lược phân phối và định vị nội dung theo từng hệ sinh thái truyền thông, nhằm duy trì khả năng hiện diện của truyền thông chính trị ở những không gian số khác nhau mà công chúng trẻ tập trung.

Thứ tư, thích ứng trong tương tác với công chúng trẻ.

Thích ứng trong tương tác với công chúng trẻ thể hiện ở sự dịch chuyển từ mô hình truyền đạt một chiều sang tăng cường phản hồi, tham gia và đồng kiến tạo của giới trẻ. Trường hợp tài khoản Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Trung Quốc trên Bilibili thể hiện khá rõ xu hướng này. Ngay khi tham gia nền tảng, tổ chức này cho biết sẽ cùng thanh niên “xem video, gửi danmu, thả xu, theo dõi và góp lời bình…” (Lữ Tử Hàm, 2018) (“danmu” là dạng bình luận của người xem hiển thị trực tiếp và chạy ngang trên video, một hình thức tương tác đặc trưng của Bilibili). Phong cách trẻ trung này cho thấy chủ thể truyền thông không chỉ đưa nội dung lên nền tảng mà còn chủ động tham gia vào chính cách giao tiếp quen thuộc của người dùng mạng xã hội, qua đó thu hút sự chú ý của những người trẻ tuổi.

Mức độ tham gia của công chúng có thể thấy rõ qua nghiên cứu của Lý Triết và Lữ Hồng Giác, 2021 đối với 2.506 video của tài khoản Trung ương Đoàn trên Bilibili giai đoạn 2017 - 2020, với tổng cộng 5,09 triệu bình luận chạy trên màn hình được đưa vào phân tích (Lý Triết & Lữ Hồng Giác, 2021). Khối lượng phản hồi này cho thấy người sử dụng mạng xã hội không chỉ xem và tiếp nhận các nội dung chính trị một cách thụ động, mà còn đi kèm với việc bày tỏ cảm xúc, trao đổi quan điểm và tham gia thảo luận, tương tác. Qua đó, quan hệ giữa chủ thể truyền thông chính trị và công chúng trẻ trở nên gần gũi và có tính đối thoại hơn; người trẻ không chỉ là đối tượng tiếp nhận mà còn tham gia phản hồi, chia sẻ và tiếp tục là một kênh thứ cấp để truyền tải thông điệp trên mạng xã hội. Khác với các số liệu do chủ thể truyền thông tự công bố, đây là kết quả của một nghiên cứu độc lập, phân tích trực tiếp các phản hồi của người dùng trên nền tảng, qua đó cung cấp thêm căn cứ để nhận diện mức độ tham gia và tương tác của công chúng trẻ.

Xét về hiệu quả truyền thông, những thích ứng về nội dung, hình thức biểu đạt, nền tảng và tương tác nêu trên trước hết cho thấy khả năng tiếp cận, lan tỏa và huy động sự tham gia của công chúng trẻ ở quy mô lớn. Báo cáo Đại hội XIX Đoàn Thanh niên Cộng sản Trung Quốc đánh giá công tác định hướng tư tưởng đã “không ngừng tăng cường sự đồng thuận về tư tưởng, sự tin tưởng và hành động theo, sự gắn bó về tình cảm của thanh thiếu niên”; đồng thời, cho rằng “qua trao đổi, tranh luận và phân biệt đúng sai, đông đảo thanh thiếu niên tiếp tục củng cố niềm tin kiên định vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc” (Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Trung Quốc, 2023). Tuy nhiên, đây là đánh giá tổng kết của chính chủ thể tổ chức; các dữ liệu độc lập hiện có chưa đủ để đo lường đầy đủ, khách quan tác động lâu dài đến nhận thức, thái độ, niềm tin và hành vi của công chúng trẻ. Vì vậy, bài viết chủ yếu ghi nhận hiệu quả ở cấp độ tiếp cận, lan tỏa, tham gia và những kết quả tư tưởng được chủ thể tổ chức đánh giá, đồng thời thận trọng khi suy rộng sang hiệu quả chính trị dài hạn.

3.1.3. Một số giá trị tham khảo

Từ trường hợp Trung Quốc có thể khái quát một số giá trị tham khảo đối với hoạt động truyền thông chính trị hướng tới công chúng trẻ trên mạng xã hội. Những giá trị này không nằm ở việc sao chép từng hình thức hay kỹ thuật truyền thông cụ thể, mà chủ yếu ở cách tổ chức sự thích ứng tương đối đồng bộ giữa định hướng chiến lược, nội dung truyền thông, hình thức biểu đạt, nền tảng và tương tác với công chúng.

Một là, tổ chức truyền thông theo hướng có hệ thống và liên tục. Sự thích ứng với công chúng trẻ được triển khai từ định hướng chung đến tổ chức lực lượng, phát triển hệ thống tài khoản, xây dựng sản phẩm và thực hiện các chương trình, chiến dịch theo từng chủ đề. Cách tổ chức này giúp hoạt động truyền thông vừa duy trì thường xuyên, vừa tạo được những điểm nhấn phù hợp với từng thời điểm và nhóm công chúng.

Hai là, lấy đặc điểm tiếp nhận của công chúng trẻ làm một căn cứ quan trọng trong tổ chức nội dung và cách thể hiện. Nội dung chính trị vẫn giữ những thông điệp cốt lõi nhưng được cụ thể hóa, chủ đề hóa và chuyển tải bằng ngôn ngữ, hình thức, câu chuyện và trải nghiệm gần hơn với người trẻ. Giá trị đáng chú ý ở đây là sự kết hợp giữa yêu cầu định hướng với khả năng thích nghi về cách truyền đạt.

Ba là, thích ứng theo đặc điểm của từng nền tảng thay vì sử dụng một cách thức truyền thông đồng nhất. Việc phân hóa nội dung, phong cách thể hiện và phương thức tương tác theo văn hóa người dùng và cơ chế vận hành của từng mạng xã hội giúp mở rộng khả năng tiếp cận, đồng thời tạo sự liên kết giữa các tài khoản và nền tảng trong một hệ sinh thái truyền thông chung.

Bốn là, coi sự tham gia của công chúng trẻ là một bộ phận của quá trình truyền thông. Bình luận, phản hồi, chia sẻ, thảo luận và sáng tạo lại nội dung không chỉ là những phản ứng sau khi tiếp nhận thông tin mà còn góp phần tiếp tục lưu chuyển và lan tỏa thông điệp trong mạng lưới xã hội. Điều này cho thấy truyền thông chính trị trên mạng xã hội ngày càng cần chú ý đến quan hệ hai chiều giữa chủ thể truyền thông và công chúng.

Năm là, phát triển và làm chủ hệ sinh thái nền tảng số nội địa. Sự phát triển mạnh của các nền tảng như WeChat, Weibo, Douyin, Bilibili và Kuaishou ở Trung Quốc tạo điều kiện để các chủ thể truyền thông chính trị tổ chức hoạt động trong một hệ sinh thái số có tính nội địa hóa cao, thuận lợi hơn cho việc phân phối nội dung, kết nối mạng lưới tài khoản, khai thác dữ liệu và duy trì tương tác với công chúng. Đây là một điều kiện quan trọng góp phần làm cho quá trình thích ứng được triển khai tương đối đồng bộ và có tính hệ thống.

Sáu là, gắn quá trình thích ứng với việc theo dõi và đánh giá kết quả truyền thông. Các chỉ số về tiếp cận, tương tác và tham gia có thể cung cấp những tín hiệu ban đầu về khả năng vận hành của nội dung trên nền tảng, nhưng cần được đặt trong mối quan hệ với những mục tiêu sâu hơn về nhận thức, thái độ và hành vi của công chúng. Vì vậy, việc thích ứng không chỉ là đổi mới cách truyền tải mà còn đòi hỏi khả năng quan sát, đánh giá và điều chỉnh hoạt động truyền thông trong quá trình triển khai.

3.2. Thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự thích ứng của truyền thông chính trị với công chúng trẻ ở Trung Quốc không chỉ thể hiện ở việc thay đổi hình thức truyền tải, mà diễn ra tương đối đồng bộ từ nội dung truyền thông, cách biểu đạt, nền tảng đến phương thức tương tác. Quá trình này được tổ chức khá có hệ thống, từ định hướng chính sách, tổ chức lực lượng truyền thông đến phát triển tài khoản, sản phẩm và các chương trình hướng tới thanh niên. Trong môi trường đó, mạng xã hội không chỉ là kênh truyền thông bổ sung, mà đã trở thành một không gian quan trọng của hoạt động truyền thông chính trị, nơi chủ thể truyền thông vừa duy trì nội dung định hướng, vừa điều chỉnh cách thể hiện và phương thức tương tác phù hợp hơn với đặc điểm của nền tảng và công chúng trẻ.

Đặt trong bối cảnh Việt Nam, nhiều biểu hiện thích ứng với công chúng trẻ thực tế đã được triển khai khá rõ trong những năm gần đây. Tiêu biểu là các chiến dịch truyền thông của Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh gắn với những sự kiện chính trị lớn của đất nước, được tổ chức theo hướng đa nền tảng, đa phương tiện, tăng tính trực quan, trong đó đặc biệt chú ý các hình thức video ngắn, đồ họa thông tin, livestream, âm nhạc hóa, sử dụng KOLs…, và khuyến khích người trẻ trực tiếp tham gia sáng tạo nội dung. Nhiều con số ấn tượng đã được ghi nhận như chiến dịch “Hòa bình đẹp lắm” nhân kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước có hơn 3,6 tỷ lượt tham gia, tương tác trên mạng xã hội (Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, 2025a); chiến dịch “Tự hào Việt Nam” nhân kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 đạt gần 10 tỷ lượt xem trên các nền tảng số (Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, 2025b); Hành trình “Tôi yêu Tổ quốc tôi” đạt hơn 1,1 tỷ lượt tương tác trên các nền tảng mạng xã hội (Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, 2025c).

Bên cạnh đó, các cơ quan truyền thông chủ lực quốc gia như VTV, VOV… cũng ngày càng đầu tư nhiều hơn cho các sản phẩm hướng tới công chúng trẻ, đổi mới cách thể hiện nội dung chính trị theo hướng đa phương tiện, với thông điệp ngắn gọn, tích cực và hấp dẫn với môi trường số. Một ví dụ khác ở phạm vi nhỏ hơn tại cơ sở - chương trình “Mạch nguồn” của Học viện Báo chí và Tuyên truyền, nằm trong hệ thống trường Đảng. Trong đó, các nhóm sinh viên dưới sự hướng dẫn của giảng viên trực tiếp làm các sản phẩm truyền thông “truyền tải những nội dung lý luận, chính trị một cách sinh động, dễ tiếp cận đến đông đảo công chúng” (Học viện Báo chí và Tuyên truyền, 2025) và đăng tải trên các nền tảng mạng xã hội như YouTube, Facebook hay tạp chí điện tử... Đây là một cách tiếp cận khá tiêu biểu trong việc chuyển tải nội dung chính trị bằng các sản phẩm truyền thông số do chính người trẻ thực hiện.

Những thực tiễn trên cho thấy nhiều hình thức thích ứng mà Trung Quốc sử dụng như video ngắn, nội dung trực quan, truyền thông đa nền tảng hay tăng cường tương tác đã xuất hiện khá phổ biến ở Việt Nam và đạt được nhiều kết quả khả quan. Vì vậy, việc tham khảo kinh nghiệm Trung Quốc không nên được hiểu là tiếp nhận những công cụ hoặc phương thức hoàn toàn mới. Điểm đáng chú ý hơn nằm ở cách tổ chức các yếu tố này thành một quá trình thích ứng có tính hệ thống, trong đó định hướng chiến lược, nội dung, hình thức biểu đạt, nền tảng và tương tác được kết nối tương đối chặt chẽ.

Trong tham khảo kinh nghiệm Trung Quốc cũng cần chú ý đến yếu tố “nền tảng”. Trung Quốc hiện đã sở hữu một hệ thống mạng xã hội nội địa quy mô lớn như WeChat, Weibo, Douyin, Bilibili và Kuaishou, tạo điều kiện để các chủ thể truyền thông triển khai hoạt động trong một môi trường nền tảng có tính nội địa hóa cao. Trong khi đó, môi trường mạng xã hội tại Việt Nam phụ thuộc khá nhiều vào các nền tảng xuyên biên giới như Facebook, YouTube, TikTok... Sự khác biệt này có thể ảnh hưởng đến khả năng tổ chức, phân phối nội dung, khai thác dữ liệu và duy trì sự liên kết giữa các hoạt động truyền thông; do đó, kinh nghiệm Trung Quốc cần được xem xét trong những điều kiện cụ thể của hệ sinh thái truyền thông số tại Việt Nam.

Bên cạnh đó, cần phân biệt giữa mức độ thích ứng của hoạt động truyền thông với hiệu quả tác động. Các chỉ số như lượt xem, lượt theo dõi, bình luận hay chia sẻ chủ yếu phản ánh khả năng tiếp cận, lan tỏa và tham gia của công chúng, trong khi những thay đổi sâu hơn về nhận thức, thái độ, niềm tin và hành vi đòi hỏi những phương pháp đánh giá riêng. Đồng thời, việc trẻ hóa cách biểu đạt và gia tăng tính hấp dẫn của nội dung cũng cần đi cùng yêu cầu bảo đảm tính chính xác, chiều sâu và mục tiêu của truyền thông chính trị. Vì vậy, việc tham khảo kinh nghiệm Trung Quốc cần được đặt trong sự cân nhắc đồng thời giữa khả năng thích ứng với môi trường truyền thông mới và những yêu cầu đặc thù của từng bối cảnh.

4. Kết luận

Trường hợp Trung Quốc cho thấy truyền thông chính trị hướng tới công chúng trẻ trên mạng xã hội đang chuyển theo hướng linh hoạt hơn, gần với đặc điểm tiếp nhận của người trẻ và phù hợp hơn với môi trường nền tảng số. Sự thích ứng không chỉ thể hiện ở nội dung hay hình thức biểu đạt, mà còn ở cách tổ chức nền tảng, phương thức tương tác và sự phối hợp giữa các chủ thể truyền thông. Giá trị tham khảo đáng chú ý nằm ở cách tổ chức truyền thông theo hướng tương đối đồng bộ, trong đó mục tiêu chính trị cốt lõi được duy trì nhưng cách chuyển tải được điều chỉnh phù hợp hơn với ngôn ngữ, thói quen tiếp nhận và mức độ tham gia của công chúng trẻ. Trong bối cảnh mạng xã hội ngày càng trở thành một không gian quan trọng của đời sống thông tin, việc nghiên cứu những kinh nghiệm như vậy có ý nghĩa tham khảo đối với quá trình đổi mới truyền thông chính trị trong môi trường số./.

Trích dẫn bài báo

Phạm Minh Sơn & Lê Tùng Lâm. Truyền thông chính trị thích ứng với công chúng trẻ trên mạng xã hội: Kinh nghiệm của Trung Quốc và giá trị tham khảo. Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông 2026, 32(10):—. DOI:https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/truyen-thong-chinh-tri-thich-ung-voi-cong-chung-tre-tren-mang-xa-hoi-kinh-nghiem-cua-trung-quoc-va-gia-tri-tham-khao-p31937.html
Phạm Minh Sơn & Lê Tùng Lâm. Truyền thông chính trị thích ứng với công chúng trẻ trên mạng xã hội: Kinh nghiệm của Trung Quốc và giá trị tham khảo. Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, 2026, 32, —, https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/truyen-thong-chinh-tri-thich-ung-voi-cong-chung-tre-tren-mang-xa-hoi-kinh-nghiem-cua-trung-quoc-va-gia-tri-tham-khao-p31937.html.
Phạm Minh Sơn & Lê Tùng Lâm (2026). Truyền thông chính trị thích ứng với công chúng trẻ trên mạng xã hội: Kinh nghiệm của Trung Quốc và giá trị tham khảo. Tập 32, Số 10 (2026), 32(10), —. https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/truyen-thong-chinh-tri-thich-ung-voi-cong-chung-tre-tren-mang-xa-hoi-kinh-nghiem-cua-trung-quoc-va-gia-tri-tham-khao-p31937.html
Phạm Minh Sơn & Lê Tùng Lâm. Truyền thông chính trị thích ứng với công chúng trẻ trên mạng xã hội: Kinh nghiệm của Trung Quốc và giá trị tham khảo. Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, 2026, v. 32, n. 10, p. —. Disponível em: https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/truyen-thong-chinh-tri-thich-ung-voi-cong-chung-tre-tren-mang-xa-hoi-kinh-nghiem-cua-trung-quoc-va-gia-tri-tham-khao-p31937.html.
Phạm Minh Sơn & Lê Tùng Lâm. "Truyền thông chính trị thích ứng với công chúng trẻ trên mạng xã hội: Kinh nghiệm của Trung Quốc và giá trị tham khảo." Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông 32, no. 10 (2026): —. https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/truyen-thong-chinh-tri-thich-ung-voi-cong-chung-tre-tren-mang-xa-hoi-kinh-nghiem-cua-trung-quoc-va-gia-tri-tham-khao-p31937.html.
Phạm Minh Sơn & Lê Tùng Lâm (2026) 'Truyền thông chính trị thích ứng với công chúng trẻ trên mạng xã hội: Kinh nghiệm của Trung Quốc và giá trị tham khảo'. Tập 32, Số 10 (2026), 32(10), —. Available at: https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/truyen-thong-chinh-tri-thich-ung-voi-cong-chung-tre-tren-mang-xa-hoi-kinh-nghiem-cua-trung-quoc-va-gia-tri-tham-khao-p31937.html.
Phạm Minh Sơn & Lê Tùng Lâm, "Truyền thông chính trị thích ứng với công chúng trẻ trên mạng xã hội: Kinh nghiệm của Trung Quốc và giá trị tham khảo," Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, vol. 32, no. 10, pp. —, 2026. [Online]. Available: https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/truyen-thong-chinh-tri-thich-ung-voi-cong-chung-tre-tren-mang-xa-hoi-kinh-nghiem-cua-trung-quoc-va-gia-tri-tham-khao-p31937.html
Phạm Minh Sơn & Lê Tùng Lâm. "Truyền thông chính trị thích ứng với công chúng trẻ trên mạng xã hội: Kinh nghiệm của Trung Quốc và giá trị tham khảo." Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, vol. 32, no. 10, 2026, pp. —.
Phạm Minh Sơn & Lê Tùng Lâm. "Truyền thông chính trị thích ứng với công chúng trẻ trên mạng xã hội: Kinh nghiệm của Trung Quốc và giá trị tham khảo." Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông 32, no. 10 (2026): —. https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/truyen-thong-chinh-tri-thich-ung-voi-cong-chung-tre-tren-mang-xa-hoi-kinh-nghiem-cua-trung-quoc-va-gia-tri-tham-khao-p31937.html.
Phạm Minh Sơn & Lê Tùng Lâm. Truyền thông chính trị thích ứng với công chúng trẻ trên mạng xã hội: Kinh nghiệm của Trung Quốc và giá trị tham khảo. Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông. 2026;32(10):—. Available from: https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/truyen-thong-chinh-tri-thich-ung-voi-cong-chung-tre-tren-mang-xa-hoi-kinh-nghiem-cua-trung-quoc-va-gia-tri-tham-khao-p31937.html
Thống kê truy cập
Online: 65
Hôm nay: 395
Hôm qua: 5.173
Tổng: 9.282.884
Liên kết hữu ích