Cải cách hành chính góp phần xây dựng nhà trường quân đội vững mạnh toàn diện, mẫu mực, tiêu biểu

1. Cải cách hành chính ở các nhà trường quân đội hiện nay
Cải cách hành chính (CCHC) ở nhà trường quân đội (NTQĐ) là sự thay đổi có kế hoạch hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực quân sự nhằm hoàn thiện hệ thống thể chế, tổ chức và hoạt động quản lý, chỉ huy, điều hành việc chấp hành pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ, chế độ quy định của Quân đội, đáp ứng yêu cầu xây dựng các NTQĐ vững mạnh toàn diện “Mẫu mực, tiêu biểu”, hoàn thành tốt nhiệm vụ giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và các nhiệm vụ khác được giao.
CCHC ở các NTQĐ là quá trình tạo ra những thay đổi, tiến bộ trong xây dựng và hoàn thiện thể chế, tổ chức bộ máy; xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ có đủ phẩm chất, năng lực; bảo đảm tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý, điều hành thông suốt, không chồng chéo của các cơ quan, khoa, đơn vị trong các NTQĐ.
CCHC ở các NTQĐ có nội dung toàn diện, bao gồm việc cải cách thủ tục, bộ máy hành chính; cải cách tài chính công; ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết các công việc hành chính, chuyên môn, nghiệp vụ, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động chỉ đạo, điều hành và xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên, học viên, chiến sĩ. Trọng tâm là cải cách quy trình xây dựng và thông qua các văn bản quy phạm nội bộ; nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung những quy định, quy chế, bảo đảm tính pháp lý, hiệu quả, minh bạch, công bằng; rà soát, loại bỏ những quy định, quy chế không còn phù hợp, chồng chéo, trùng lặp hoặc gây khó khăn trong triển khai; quản lý chặt chẽ biên chế, rà soát, bổ sung, sửa đổi, cập nhật cơ sở dữ liệu dùng chung về sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, phục vụ cho công tác quản lý, điều hành hoạt động giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học ở nhà trường.
CCHC ở các NTQĐ là khâu đột phá nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học tại các nhà trường; góp phần thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, bảo đảm cho công tác quản lý, chỉ huy, điều hành hoạt động ở các NTQĐ đồng bộ, thống nhất, khả thi, hiệu quả; xây dựng tổ chức bộ máy trong các NTQĐ tinh, gọn, hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ; tạo môi trường, điều kiện thuận lợi, giúp tiết giảm thời gian, ngăn ngừa tiêu cực, lãng phí, nâng cao chất lượng hoạt động. Đồng thời, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên của các NTQĐ đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
Những năm qua, quán triệt quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Quân ủy Trung ương, kế hoạch, hướng dẫn của Ban Chỉ đạo CCHC và xây dựng Chính phủ điện tử của Bộ Quốc phòng, các NTQĐ đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng kế hoạch CCHC, triển khai thực hiện chặt chẽ, nghiêm túc, đạt được những kết quả quan trọng.
Bộ máy tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, khoa, đơn vị ở các NTQĐ được điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, chỉ huy, điều hành của hệ thống lãnh đạo, chỉ huy các cấp. Thủ tục hành chính ở các NTQĐ được sửa đổi, bổ sung, cơ bản bảo đảm tính pháp lý, minh bạch, chặt chẽ, công bằng, đơn giản hóa, góp phần tiết kiệm thời gian, chi phí, mang lại hiệu quả cao trong quản lý, chỉ huy, điều hành; “đã chỉ đạo rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện thủ tục hành chính, quy trình giải quyết công việc gắn với duy trì áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2015 bảo đảm công khai, minh bạch, dễ thực hiện và từng bước đơn giản hóa”(1).
Các NTQĐ đã quan tâm đầu tư mua sắm trang thiết bị, hoàn thiện hệ thống công nghệ thông tin, mạng internet, đường truyền quân sự tốc độ cao; hệ thống mô phỏng huấn luyện; các phòng học trực tuyến, trung tâm điều hành huấn luyện thông minh, kết nối liên thông trong nội bộ và toàn quân; hệ thống kiểm soát, an ninh chặt chẽ, bảo đảm thuận tiện cho công tác quản lý và có tính bảo mật cao. “Sử dụng hiệu quả hệ thống mạng nội bộ, mạng truyền dữ liệu quân sự, thư điện tử quân sự phục vụ công việc. Hệ thống phần mềm quản lý văn bản, hồ sơ công việc được các cơ quan, đơn vị triển khai áp dụng và vận hành đạt kết quả tốt”(2).
Tuy nhiên, CCHC ở các NTQĐ vẫn còn những hạn chế cần khắc phục. Tại một số cơ quan, đơn vị, cán bộ chủ trì chưa phát huy tốt vai trò, trách nhiệm trong nghiên cứu, tham mưu đề xuất, trong quản lý, điều hành, kiểm tra thực hiện các nội dung CCHC, “tổ chức thực hiện cải cách hành chính có thời điểm chưa thực sự quyết liệt; bố trí nguồn lực cho cải cách hành chính còn hạn chế; công tác kiểm tra, giám sát ở một số cơ quan, đơn vị chưa được thực hiện thường xuyên”(3). Trình tự, thủ tục giải quyết công việc liên quan đến một số ngành, lĩnh vực chưa thực sự khoa học, rõ ràng, chưa chuẩn hóa, tối ưu hóa; “việc kiểm soát thủ tục hành chính đối với một số văn bản quy phạm nội bộ có nội dung chưa chặt chẽ. Niêm yết công khai thủ tục hành chính sau khi tiếp nhận có nội dung chưa kịp thời”(4).
Chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của các cơ quan, khoa, đơn vị; chức trách, nhiệm vụ của chỉ huy các cấp vẫn còn chồng chéo, việc phân cấp, phân quyền, quy trách nhiệm có nơi chưa cụ thể, rõ ràng. Phương pháp làm việc của một số cán bộ, nhân viên chưa khoa học, thiếu chủ động, nhất là trong những công việc có tính phức tạp, yêu cầu phải trao đổi, phối hợp giữa nhiều cơ quan, đơn vị. “Hệ thống cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin có mặt còn hạn chế, việc chuyển văn bản qua mạng nội bộ còn ít”(5), năng lực khai thác, sử dụng công nghệ thông tin của một số cán bộ, nhân viên hạn chế.
Thực trạng trên và xuất phát từ yêu cầu CCHC ở các NTQĐ hiện nay đang đặt ra một số vấn đề cần quan tâm nhận thức rõ và giải quyết:
Một là, nhận thức của các chủ thể, lực lượng tham gia CCHC ở các NTQĐ cơ bản tốt, song quyết tâm trong lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện CCHC chưa cao, chưa quyết liệt, thiếu đồng bộ. Chủ trương, biện pháp lãnh đạo tương đối toàn diện, đúng đắn nhưng tổ chức thực hiện chưa thực sự chặt chẽ, bài bản, nhất là khâu xây dựng, triển khai thực hiện kế hoạch CCHC của một số cơ quan chức năng. Đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp chưa quyết liệt trong triển khai thực hiện các nội dung CCHC cụ thể; vẫn còn tư duy, cách nghĩ, cách làm cũ, rập khuôn, máy móc, mệnh lệnh hành chính, chưa dám đổi mới, đột phá, sáng tạo. “Một số cán bộ có tâm lý ngại thay đổi, chưa sẵn sàng ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết công việc”(6). Đây là vấn đề đặt ra đối với các chủ thể, lực lượng trong CCHC ở các NTQĐ, đòi hỏi sự đổi mới về tư duy, phương pháp, phong cách làm việc theo hướng tích cực, chủ động dám nghĩ; dám làm; dám tham mưu đề xuất; dám chịu trách nhiệm; dám đổi mới, sáng tạo; dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động quyết liệt vì lợi ích chung.
Hai là, tổ chức bộ máy hành chính ở các NTQĐ chưa thực sự tinh, gọn, phù hợp, hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa cao. Quy trình, phương thức quản lý, chỉ huy, điều hành chưa được tối ưu hóa; chức năng, nhiệm vụ của một số cơ quan, ban, bộ phận công tác còn chồng chéo; hiệu suất xử lý công việc chưa cao, chưa chuyên nghiệp. Một số cơ quan, khoa, đơn vị còn hiện tượng thừa hoặc thiếu cục bộ cán bộ, giảng viên, nhân viên; việc bố trí, sắp xếp công việc trái ngành nghề đào tạo vẫn xảy ra. Có hiện tượng quân số dôi dư ở một số cơ quan, đơn vị so với biên chế, nhưng lại chưa tinh, chưa mạnh dẫn đến chất lượng, hiệu quả công việc hạn chế. Thực tế này đặt ra vấn đề phải tiếp tục rà soát, đánh giá, rút kinh nghiệm về cải cách tổ chức, bộ máy để đề nghị cấp có thẩm quyền điều chỉnh sát thực tiễn từng nhà trường, bảo đảm tinh, gọn, mạnh, chuyên nghiệp, thông minh, hiện đại.
Ba là, năng lực tham mưu, chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện CCHC của lực lượng chuyên trách, nòng cốt chưa theo kịp sự phát triển; cơ chế phối hợp giữa các lực lượng chưa đồng bộ, chặt chẽ. Năng lực quán triệt, cụ thể hóa chủ trương, biện pháp lãnh đạo, xây dựng kế hoạch, chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện CCHC trên thực tế của lực lượng này còn nhiều hạn chế. Cơ chế, quy chế phối hợp giữa các lực lượng chuyên trách, nòng cốt trong tham gia CCHC thiếu đồng bộ, chưa phân định rõ vai trò, trách nhiệm, nhiệm vụ cụ thể của các lực lượng. Do đó, để nâng cao chất lượng, hiệu quả CCHC ở các NTQĐ hiện nay, đòi hỏi cần tập trung xây dựng lực lượng chuyên trách, nòng cốt có phẩm chất, năng lực tốt, đáp ứng yêu nhiệm vụ được giao.
Bốn là, cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật chưa đầy đủ, đồng bộ, tính bảo mật chưa cao; đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên nhiều mặt chưa đáp ứng yêu cầu CCHC. Hiện nay, các NTQĐ đang sử dụng song hành mạng internet và đường truyền dữ liệu quân sự, mạng nội bộ, dễ dẫn đến hiện tượng kết nối mạng Internet vào hệ thống máy tính quân sự. Số lượng máy tính quân sự của các NTQĐ đầy đủ, song đường truyền, cổng kết nối chưa đáp ứng yêu cầu; tỷ lệ máy tính quân sự kết nối mạng truyền dữ liệu quân sự còn thấp. Tỷ lệ cán bộ, giảng viên, nhân viên sử dụng địa chỉ email quân sự, thiết bị lưu trữ tài liệu an toàn còn ít. Hệ thống phần mềm phát hiện độ trùng lặp, hiện tượng sao chép tài liệu, văn bản, nhất là trong đào tạo sau đại học, nghiên cứu khoa học chưa theo kịp sự phát triển của công nghệ hiện đại. Việc mã hóa, số hóa dữ liệu chậm, chưa thống nhất; hệ thống các phần mềm phục vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học và quản lý chưa đồng bộ, khó sử dụng, chưa liên thông. Trình độ sử dụng công nghệ thông tin trong quản lý, dạy - học và nghiên cứu khoa học của nhiều cán bộ, giảng viên, nhân viên và học viên còn hạn chế. Phương pháp, tác phong làm việc của cán bộ, giảng viên, nhân viên thiếu chuyên nghiệp, chưa thích ứng với sự phát triển của công nghệ và yêu cầu làm việc trên môi trường mạng. Đây là những vấn đề đặt ra cần được quan tâm giải quyết nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả CCHC ở các NTQĐ trong thời gian tới.
2. Giải pháp nâng cao chất lượng cải cách hành chính ở các NTQĐ
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, Đảng, Nhà nước đang lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục đẩy mạnh CCHC, trọng tâm là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức với ba trụ cột chính: tổ chức bộ máy; công vụ, công chức; hành chính điện tử và chuyển đổi số. Sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc tiếp tục đặt ra cho Quân đội những nhiệm vụ rất nặng nề và yêu cầu mới mạnh mẽ hơn trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng. Quán triệt, thực hiện quan điểm “Xây dựng đồng bộ thể chế, chính sách để thực hiện có hiệu quả chủ trương giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước”(7) và quan điểm chỉ đạo: Tổ chức, sắp xếp hệ thống NTQĐ tinh, gọn, mạnh, chuyên sâu, “xây dựng các học viện, nhà trường quân đội thông minh, hiện đại, chất lượng cao, theo mô hình trường đại học nghiên cứu…; đẩy mạnh CCHC để nâng cao hiệu quả công tác quản lý giáo dục và quản trị nhà trường”(8), cần tiến hành đồng bộ những giải pháp cơ bản sau:
Một là, tăng cường công tác giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng, nhất là cán bộ chủ trì các cấp đối với nhiệm vụ CCHC ở các NTQĐ. Các tổ chức, lực lượng, nhất là cấp ủy, chỉ huy các cấp ở nhà trường cần quán triệt và thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị, chương trình, kế hoạch và các văn bản hướng dẫn của cấp trên về công tác CCHC; cụ thể hóa các mục tiêu, yêu cầu của công tác CCHC trong Đề án CCHC của Bộ Quốc phòng giai đoạn 2021-2025 và những năm tiếp theo. Tiếp tục đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, quán triệt nhiệm vụ; tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp đối với nhiệm vụ CCHC; đổi mới nội dung, linh hoạt, sáng tạo về phương pháp, hình thức phù hợp với đặc điểm, nhiệm vụ của từng nhà trường, từng cơ quan, đơn vị.
Hai là, kiện toàn tổ chức bộ máy hành chính và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì, cán bộ chuyên trách các cấp ở các NTQĐ. Tập trung thực hiện tốt việc cải cách tổ chức bộ máy hành chính theo đúng biểu biên chế đã quy định. Tiếp tục rà soát, hoàn thiện quy định về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, khoa, đơn vị; thực hiện điều chỉnh tổ chức lực lượng và sắp xếp các cơ quan, khoa, đơn vị phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và yêu cầu xây dựng các nhà trường, yêu cầu nhiệm vụ giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học trong tình hình mới. Thường xuyên kiện toàn, nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của các ban chỉ đạo CCHC. Hoàn thiện bộ máy cơ quan tham mưu, cơ quan chỉ đạo, hướng dẫn; cơ chế điều hành, giải quyết công việc ở các cấp, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, đồng bộ và tính khả thi cao.
Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác CCHC có số lượng hợp lý và đủ năng lực tham mưu, đề xuất, hướng dẫn tổ chức thực hiện có hiệu quả. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt việc chuẩn hóa cán bộ, giảng viên, nhân viên theo quy định.
Ba là, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ hoạt động giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học. Căn cứ vào thực tế nhiệm vụ của từng nhà trường để đề xuất đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, nhân lực trong quản lý, điều hành hoạt động giáo dục, đào tạo, giảng dạy và học tập, nghiên cứu; có quy chế và tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên, học viên tiếp cận, chọn lọc thông tin trên internet phục vụ cho công tác chuyên môn. “Tập trung đầu tư xây dựng một số học viện, nhà trường theo mô hình “Nhà trường thông minh, tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư””(9).
Nghiên cứu, đề xuất đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin, hiện đại hóa công tác hành chính, nhất là trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành hoạt động giáo dục, đào tạo. Quán triệt, triển khai thực hiện chủ trương của Chính phủ về “Phát triển nền tảng hỗ trợ dạy và học từ xa, ứng dụng triệt để công nghệ số trong công tác quản lý, giảng dạy và học tập; số hóa tài liệu, giáo trình; xây dựng nền tảng chia sẻ tài nguyên giảng dạy và học tập theo cả hình thức trực tiếp và trực tuyến. Phát triển công nghệ phục vụ giáo dục, hướng tới đào tạo cá thể hóa”(10).
Rà soát các hệ thống chương trình quản lý hiện có; nâng cấp, mở rộng, phổ cập và nâng cao chất lượng, hiệu quả vận hành các phần mềm về quản lý cán bộ, đảng viên; thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội; phần mềm công tác bảo vệ an ninh Quân đội; thúc đẩy dịch vụ công trực tuyến một số thủ tục hành chính, nhất là trong công tác tuyển sinh quân sự.
Bốn là, căn cứ vào đặc điểm, nhiệm vụ của từng nhà trường, xác định rõ phạm vi, nội dung CCHC phù hợp. Xác định mục tiêu CCHC mang tính định lượng với mức độ phù hợp, thiết thực để bảo đảm tính khả thi. Tổ chức thực hiện chương trình CCHC gắn với tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng nhà trường là giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học. Thường xuyên làm tốt công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá quá trình triển khai thực hiện công tác CCHC ở các NTQĐ. Coi trọng thí điểm, tổng kết, nhân rộng những mô hình, sáng kiến trong cải cách hành chính. Chú trọng việc đánh giá, biểu dương những cơ quan, đơn vị, cá nhân thực hiện tốt và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm./.
___________________________________________________
(1) Báo cáo số 5697/BC-HV ngày 15/12/2022 của Học viện Kỹ thuật quân sự về Kết quả công tác cải cách hành chính và Báo cáo Kiểm soát thủ tục hành chính, tr.4.
(2)Báo cáo số 1275/BC-HV ngày 08/5/2020 của Học viện Chính trị vềTổng kết công tác cải cách hành chính giai đoạn 2011 - 2020, phương hướng, nhiệm vụ công tác cải cách hành chính giai đoạn 2021 - 2030, tr.7.
(3) Báo cáo số 3856/BC-HV ngày 03/12/2020 của Học viện Chính trị về kết quả công tác CCHC và kiểm soát thủ tục hành chính năm 2021, tr.6.
(4) Báo cáo số 2218/BC-LQ, ngày 17/5/2020 của Trường Sĩ quan Lục quân 1 về Tổng kết công tác cải cách hành chính giai đoạn 2011 - 2020 và phương hướng, nhiệm vụ cải cách hành chính giai đoạn 2021 - 2030, tr.7.
(5) Báo cáo số 6553/BC-LQ ngày 08/12/2021 của Trường Sĩ quan Lục quân 1 về kết quả công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính năm 2021; phương hướng, nhiệm vụ năm 2022, tr.4.
(6) Báo cáo số 2524/BC-BQP ngày 16/7/2020 của Bộ Quốc phòng về Tổng kết công tác cải cách hành chính giai đoạn 2011 - 2020; phương hướng, nhiệm vụ giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030, tr.9.
(7) ĐCSVN (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H., T.1, tr.136.
(8) Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW, ngày 20/12/2022 của Quân ủy Trung ương về đổi mới công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong tình hình mới, tr.7.
(9) Tổng cục Chính trị (2020), Tài liệu nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020-2025, Nxb. Quân đội nhân dân, H., tr.56, 59.
(10) Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 của Chính phủ, ban hành kèm theo Quyết định số 749/QĐ-TTg, ngày 30/6/2020, tr.15.
Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị điện tử ngày 11/12/2023
Bài liên quan
- Phát huy vai trò của tổ chức đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh trong quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
- Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao – Nhân tố then chốt trong quá trình xây dựng lực lượng sản xuất mới ở Việt Nam hiện nay
- Quản lý đối với hội ở Việt Nam: Khung pháp lý và yếu tố tác động đến hoạt động của hội
- Bảo đảm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng nhằm phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia trong kỷ nguyên mới
- Phát huy vai trò của người có uy tín ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”
Xem nhiều
-
1
[Video] Dấu ấn Cách mạng Tháng Tám qua những hiện vật lịch sử
-
2
Tổng thống Vladimir Putin: Bốn nhiệm kỳ và hành trình phục hưng nước Nga
-
3
Những yêu cầu và nguyên tắc phát triển báo chí – truyền thông trong kỷ nguyên mới
-
4
Truyền thông đại chúng trong kỷ nguyên số: động lực đổi mới mô hình phát triển xã hội Việt Nam hiện nay
-
5
Tác động của quảng cáo sản phẩm trên mạng xã hội đến hành vi mua sắm của học sinh trung học phổ thông Hà Nội
-
6
Thực trạng nội dung thông tin về chính sách y tế trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay
Liên kết
- Báo điện tử đảng cộng sản việt nam
- Báo nhân dân
- Báo Quân đội nhân dân
- Cổng thông tin điện tử Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia hồ chí minh
- Tạp chí Cộng sản
- Tạp chí Giáo dục lý luận
- Tạp chí Giáo dục và Xã hội
- Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
- Tạp chí Lý luận chính trị
- Tạp chí Nghiên cứu con người
- TẠP CHÍ Nghiên cứu dân tộc
- Tạp chí Người làm báo
- Tạp chí Nội chính
- Tạp chí Quản lý Nhà nước
- Tạp chí Tổ chức Nhà nước
- Tạp chí Tuyên giáo
- Tạp chí Xây Dựng Đảng
- Thư viện số Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Trang thông tin điện tử Hội đồng Lý luận Trung ương
Đại hội đại biểu Đảng bộ Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh lần thứ XV, nhiệm kỳ 2025-2030 (Phiên thứ nhất)
Thực hiện Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 14-4-2025 của Bộ Chính trị, các văn bản chỉ đạo của Trung ương về đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Kế hoạch số 59-KH/ĐU ngày 22-4-2025 của Đảng ủy Học viện, chiều 10/8/2025, Đảng bộ Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trang trọng tổ chức Đại hội đại biểu Đảng bộ Học viện lần thứ XV, nhiệm kỳ 2025-2030 (phiên thứ nhất).
Phát huy vai trò của tổ chức đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh trong quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
Phát huy vai trò của tổ chức đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh trong quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
Tỉnh Lạng Sơn, nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, giữ vị trí chiến lược trong công tác bảo tồn và phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số. Trong thời gian qua, tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh Lạng Sơn đã có những đóng góp tích cực vào quá trình quản lý nhà nước về văn hóa DTTS thông qua các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, phong trào thanh niên và tham gia giám sát chính sách. Những kết quả đạt được bước đầu thể hiện vai trò nhất định của Đoàn trong việc kết nối giữa chính quyền và thanh niên DTTS. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy nhiều hạn chế như thiếu cơ chế phối hợp, chưa được thể chế hóa vai trò, năng lực cán bộ còn bất cập và thiếu nguồn lực bảo đảm hoạt động bền vững. Trên cơ sở phân tích thực trạng, bài viết tập trung làm rõ vai trò của tổ chức Đoàn trong quản lý nhà nước về văn hóa DTTS tại Lạng Sơn, đồng thời đề xuất một số giải pháp có tính khả thi nhằm phát huy hiệu quả hơn nữa vai trò này trong bối cảnh chuyển đổi mô hình quản trị hiện nay, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững văn hóa vùng dân tộc.
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao – Nhân tố then chốt trong quá trình xây dựng lực lượng sản xuất mới ở Việt Nam hiện nay
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao – Nhân tố then chốt trong quá trình xây dựng lực lượng sản xuất mới ở Việt Nam hiện nay
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứTư và quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức diễn ra mạnh mẽ, việc xây dựng lực lượng sản xuất mới trở thành yêu cầu tất yếu đối với sự phát triển bền vững của Việt Nam. Trong đó, nguồn nhân lực chất lượng cao có vai trò then chốt, quyết định khả năng tiếp thu, ứng dụng và sáng tạo khoa học – công nghệ, thúc đẩy năng suất lao động, đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Bài viết tập trung làm rõ vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao hiện nay - nhân tố then chốt trong quá trình xây dựng lực lượng sản xuất mới ở nước ta.
Quản lý đối với hội ở Việt Nam: Khung pháp lý và yếu tố tác động đến hoạt động của hội
Quản lý đối với hội ở Việt Nam: Khung pháp lý và yếu tố tác động đến hoạt động của hội
Sự hình thành và phát triển của các hội là một phương thức cần thiết để các cá nhân và nhóm xã hội khác nhau có thể bày tỏ tiếng nói, ý kiến của mình trước cộng đồng xã hội, tạo sự hiểu biết, hiệp thương và đồng thuận nhằm giữ gìn sự ổn định xã hội. Ở Việt Nam, quyền lập hội của công dân đã được Hiến pháp quy định và trong thực tế Nhà nước đã tạo điều kiện cho hội hoạt động, phát triển qua việc ban hành nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh việc tổ chức và hoạt động của các hội. Bài viết đề cập đến khung pháp lý và yếu tố tác động đến hoạt động của các hội trong bối cảnh phát triển ở Việt Nam hiện nay.
Bảo đảm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng nhằm phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia trong kỷ nguyên mới
Bảo đảm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng nhằm phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia trong kỷ nguyên mới
Bảo đảm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng nhằm phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia có ý nghĩa to lớn, là yếu tố then chốt để thúc đẩy sự phát triển đất nước. Việc xây dựng và duy trì không gian mạng an toàn, ổn định và tự chủ sẽ là nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững, cho sự vươn mình của dân tộc Việt Nam trong thời đại ngày nay.
Bình luận