Đẩy mạnh công tác tuyên truyền của Đảng bộ các xã vùng cao ở tỉnh Lào Cai hiện nay
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh đẩy mạnh xây dựng Đảng, phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện chủ trương sáp nhập đơn vị hành chính, công tác tuyên truyền ở các xã vùng cao tỉnh Lào Cai giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Đây là địa bàn có vị trí chiến lược về an ninh - quốc phòng, đồng thời tập trung đông đồng bào dân tộc thiểu số với đặc thù về ngôn ngữ, phong tục, điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn. Những đặc điểm này đặt ra yêu cầu cao đối với việc truyền tải chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước sao cho kịp thời, dễ hiểu, phù hợp với đời sống và trình độ dân trí của nhân dân.
Giai đoạn 2020 - 2025, Đảng bộ các xã vùng cao Lào Cai đã nỗ lực đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức tuyên truyền, đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần củng cố niềm tin, tăng cường đồng thuận và thúc đẩy phát triển bền vững. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy vẫn còn những hạn chế về năng lực cán bộ, cơ sở vật chất, ứng dụng công nghệ và khả năng tiếp nhận thông tin của người dân. Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền ở các xã vùng cao Lào Cai hiện nay là yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
2. Thực trạng công tác tuyên truyền của Đảng bộ các xã vùng cao tỉnh Lào Cai hiện nay
Giai đoạn 2020 - 2025, Đảng bộ các xã vùng cao tỉnh Lào Cai đã có nhiều nỗ lực nhằm đẩy mạnh công tác tuyên truyền. Trước hết, các cấp ủy chi bộ ở các xã vùng cao tỉnh Lào Cai chủ động, kịp thời trong lãnh đạo công tác tuyên truyền, quán triệt nhanh các chủ trương, chính sách của Trung ương, Tỉnh ủy, Huyện ủy, nhất là trong giai đoạn khó khăn như dịch Covid-19 năm 2021(1). Nhiều xã như Phong Dụ Thượng, A Mú Sung triển khai tuyên truyền phòng, chống dịch đến từng thôn, bản qua loa truyền thanh và đội ngũ tuyên truyền viên, giúp người dân nắm bắt kịp thời thông tin(2). Nội dung tuyên truyền được xác định trọng tâm, gắn với thực tiễn như xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo, bảo vệ biên giới, giữ gìn văn hóa dân tộc. Tiêu biểu, xã Nậm Chày và Phong Dụ Thượng giai đoạn 2020 - 2022 tập trung tuyên truyền xây dựng nông thôn mới gắn với du lịch sinh thái, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 34,2% năm 2020 xuống 24,1% năm 2023(3). Các hoạt động được lồng ghép trong dịp lễ lớn và huy động các đoàn thể như Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ tham gia, với nhiều hình thức linh hoạt như sân khấu hóa, phát tờ rơi bằng tiếng dân tộc, đối thoại cùng già làng(4). Nhờ đó, chủ trương của Đảng được truyền đạt gần gũi, dễ hiểu, tạo sự đồng thuận cao trong nhân dân.
Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên làm công tác tuyên truyền ở các xã vùng cao Lào Cai có lập trường chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng, gắn bó với nhân dân, là “cầu nối” giữa Đảng và đồng bào dân tộc, góp phần nâng cao ý thức chính trị, phát triển kinh tế - xã hội. Trong dịch Covid-19, cán bộ các xã như Phong Dụ Thượng, Phong Dụ Hạ trực tiếp xuống bản, dùng tiếng dân tộc để tuyên truyền biện pháp phòng dịch, giúp người dân chấp hành nghiêm túc(5). Những năm gần đây, đội ngũ này được đào tạo bài bản hơn, tỷ lệ có trình độ trung cấp lý luận trở lên tăng từ 45,3% (2020) lên 74,5% (2025), nhiều người biết tiếng dân tộc, giúp tuyên truyền hiệu quả hơn(6). Các hình thức tuyên truyền cũng được đổi mới, kết hợp sinh hoạt chi bộ, văn nghệ, loa truyền thanh, mạng xã hội; như mô hình “Ngày thứ 7 vì dân”, tuyên truyền song ngữ ở Bắc Hà… Nhờ đó, tỷ lệ hộ dân tiếp cận thông tin tăng từ 68,3% lên 91,2%, mức độ hài lòng đạt 93,6%, thể hiện hiệu quả rõ rệt của công tác tuyên truyền vùng cao.
Nhờ đa dạng hình thức như họp thôn, loa truyền thanh, tài liệu song ngữ và cán bộ cơ sở trực tiếp tuyên truyền, tỷ lệ người dân đồng thuận với chính sách tăng từ 52,2% năm 2020 lên 85,1% năm 2025(7). Ở Châu Quế, sự tham gia xây dựng nông thôn mới tăng từ 35% lên 82%, góp phần xóa bỏ hủ tục và phát triển kinh tế. Tại Sín Chéng, cử tri dự họp tăng gần ba lần, ý thức dân chủ được nâng cao; nhiều phong trào tự quản được hưởng ứng mạnh mẽ. Trong dịch Covid-19, tuyên truyền giúp Mậu A đạt trên 98% tiêm vaccine(8). Đặc biệt, việc sử dụng ngôn ngữ dân tộc trong tuyên truyền ở Phong Dụ Thượng giúp người dân dễ tiếp cận chính sách, tỷ lệ hiểu đúng chủ trương đạt 90,4%. Nhìn chung, tuyên truyền chính trị vùng cao Lào Cai đã đi vào chiều sâu, tăng cường nhận thức, trách nhiệm và khối đoàn kết trong nhân dân.
Công tác tuyên truyền ở các xã vùng cao Lào Cai cũng được triển khai đa dạng, từ tuyên truyền miệng, sinh hoạt chi bộ đến hoạt động đoàn thể, giúp nâng cao rõ rệt nhận thức chính trị - xã hội của người dân. Tỷ lệ tham gia họp thôn tăng từ 62,5% lên 89,8%, cử tri đi bầu đạt 98,3%, người dân tích cực tham gia phong trào cộng đồng và tin tưởng hơn vào chính quyền(9). Các chính sách giảm nghèo, phát triển sản xuất được phổ biến rộng rãi, số hộ tham gia mô hình kinh tế tăng gấp đôi, mức độ hài lòng với chính quyền đạt 90,5%, giảm khiếu nại vượt cấp. Đặc biệt, mê tín dị đoan giảm mạnh (từ 85 vụ xuống còn 10 vụ), nhiều địa phương xử lý hiệu quả nhờ tuyên truyền kết hợp đối thoại. Công tác tuyên truyền đã chuyển từ “cán bộ nói” sang lan tỏa trong cộng đồng, hình thành sức đề kháng trước thông tin xấu độc.
Thông qua tuyên truyền miệng, sinh hoạt chi bộ, họp thôn, nội dung chính trị - xã hội được truyền đạt gần gũi, giúp tỷ lệ tham gia họp thôn tăng từ 62,5% lên 89,8%, cử tri đi bầu đạt 98,3%, mức độ hài lòng với chính quyền tăng từ 70,3% lên 90,5%. Tuyên truyền cũng góp phần giảm mê tín, sai lệch nhận thức: tại Nậm Chảy, hộ cúng bái mê tín giảm từ 30 xuống 5 hộ; ở Sán Chải, 10 người bỏ “Hội Đức Chúa Trời”; số vụ mê tín toàn tỉnh giảm từ 85 xuống 10 vụ(10). Nhiều người có uy tín như ông Giàng Seo Phủ (Pa Cheo) tích cực vận động dân bản từ bỏ hủ tục. Ngoài ra, tuyên truyền còn thúc đẩy thay đổi trong sản xuất, bảo vệ môi trường và giữ gìn văn hóa: nhiều hộ chuyển sang trồng dược liệu, chăn nuôi an toàn, tăng thu nhập từ 20 lên 60 triệu đồng/năm; tỷ lệ hộ cam kết trồng rừng thay thế tăng từ 30% lên 75%. Nhờ đó, công tác tuyên truyền đã góp phần củng cố niềm tin, nâng cao nhận thức và thúc đẩy phát triển bền vững vùng cao.
Mặc dù công tác tuyên truyền của Đảng bộ các xã vùng cao tỉnh Lào Cai đã có nhiều cố gắng, nhưng giai đoạn từ năm 2021 đến nay vẫn bộc lộ nhiều hạn chế cả về nội dung, hình thức và tổ chức thực hiện. Những hạn chế này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả tiếp nhận thông tin của người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở các thôn bản xa trung tâm. Trước hết, công tác lãnh đạo, chỉ đạo tuyên truyền trong các tình huống khẩn cấp còn chậm và thiếu đồng bộ(11). Thực tế qua các đợt thiên tai, dịch bệnh đã cho thấy rõ điều này. Ví dụ, đợt mưa lũ cuối tháng 7/2021 tại xã A Mú Sung gây sạt lở nghiêm trọng, làm 3 người chết, 7 hộ phải di dời khẩn cấp; tuy nhiên, theo báo cáo của UBND xã Bát Xát, thông tin cảnh báo đến người dân “chưa kịp thời, thiếu thống nhất giữa các kênh”, nhiều hộ dân “không nhận được thông tin trước từ loa truyền thanh hoặc chính quyền xã”(12).
Tương tự, trong đợt bùng phát dịch Covid-19 năm 2021 tại hai xã Tả Phìn và Tả Van, nhiều thôn vẫn để xảy ra tình trạng tụ tập, tiếp xúc gần do “không nắm được thông tin dịch bệnh và các biện pháp phòng dịch mới”(13). Báo cáo chuyên đề của Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy Lào Cai năm 2022 chỉ rõ: “Nhiều địa phương vùng cao triển khai chậm các tài liệu tuyên truyền chống dịch của tỉnh, dẫn tới việc người dân tiếp cận thông tin sau 24-48 giờ so với yêu cầu”(14). Một hạn chế lớn khác là nhiều chi bộ xã, thôn còn sao chép, lặp lại nội dung tuyên truyền của cấp trên, chưa bám sát tình hình thực tiễn địa phương. Các bản tin, nghị quyết, tài liệu tuyên truyền phần lớn theo dạng “văn bản hóa”, thiếu ví dụ minh họa, thiếu giải thích theo ngôn ngữ, phong tục dân tộc(15). Các báo cáo kiểm tra năm 2022-2023 của Đảng bộ xã Bắc Hà, Bát Xát và Đảng bộ phường Sa Pa cho thấy khoảng 40-55% chi bộ khi kiểm tra “chỉ đọc lại văn bản cấp trên, không có thuyết minh, phân tích cụ thể”, kiểm tra - giám sát “mang tính hình thức”, ít đánh giá mức độ chuyển biến nhận thức của người dân(16), (17), (18).
Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền còn mỏng, phần lớn kiêm nhiệm, ít được đào tạo bài bản về kỹ năng dân vận, truyền thông số. Theo thống kê của Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy Lào Cai năm 2023, có tới 62% cán bộ tuyên vận xã là kiêm nhiệm, trong đó nhiều người “chưa thành thạo công nghệ thông tin, không biết sử dụng phần mềm dựng video, đồ họa, infographics”, dẫn đến nội dung tuyên truyền còn khô cứng, ít hấp dẫn(19). Không ít xã vẫn sử dụng hình thức tuyên truyền truyền thống như đọc loa, họp thôn, treo pa-nô, nhưng thiếu hình ảnh trực quan, thiếu bản dịch sang tiếng Mông, Dao, Nùng, gây khó khăn cho nhóm dân cư lớn tuổi hoặc ít sử dụng tiếng Việt.
Hạn chế về cơ sở vật chất và tài liệu tuyên truyền cũng là vấn đề đáng lưu ý. Nhiều xã vùng sâu của Si Ma Cai, Bắc Hà, Mường Khương đến nay chưa có hệ thống loa truyền thanh thông minh hoặc internet ổn định; một số thôn xa trung tâm, như thôn Sín Chải (xã A Mú Sung), Nàn Sán (Si Ma Cai), loa truyền thanh hoạt động chập chờn, nhất là mùa mưa(20). Tài liệu tuyên truyền về chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước còn thiếu bản dịch sang tiếng dân tộc, trong khi theo Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lào Cai, người dân dân tộc thiểu số chiếm hơn 66% dân số toàn tỉnh. Việc thiếu tài liệu phù hợp làm giảm đáng kể hiệu quả truyền đạt(21).
Ngoài ra, sự phối hợp giữa Ban Tuyên giáo các cấp vẫn chưa thật chặt chẽ. Một số chương trình tuyên truyền còn trùng lặp về nội dung, trong khi có những nhóm đối tượng - đặc biệt là thanh niên dân tộc thiểu số làm việc xa quê - lại chưa được tiếp cận đầy đủ. Báo cáo giám sát của Ủy ban MTTQ tỉnh năm 2023 cho thấy: “Nhiều xã vùng cao vẫn lúng túng trong phân nhóm đối tượng tuyên truyền, dẫn đến bỏ sót nhóm thanh niên trong độ tuổi di cư lao động” (22).
Một khó khăn quan trọng là rào cản ngôn ngữ, trình độ học vấn và điều kiện kinh tế khiến nhiều người dân tiếp cận thông tin một cách thụ động. Theo Niên giám Thống kê Lào Cai 2023, tỷ lệ người dân tộc thiểu số không sử dụng thành thạo tiếng Việt còn khoảng 23-28% ở một số xã vùng sâu(23). Điều này tạo môi trường thuận lợi cho tin giả, mê tín dị đoan, luận điệu xuyên tạc lan rộng. Báo cáo của Công an tỉnh Lào Cai năm 2022 ghi nhận trên địa bàn các xã Mường Hum, Tả Van, Bản Xéo vẫn có hiện tượng “người dân nghe theo tin đồn trên mạng về thuốc chữa Covid-19 hoặc các luận điệu xuyên tạc về chính sách đất đai”(24). Trong khi đó, kỹ năng dân vận của một bộ phận cán bộ cấp cơ sở còn hạn chế, nhiều người chưa am hiểu sâu phong tục, ngôn ngữ dân tộc. Tinh thần “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin” chưa được thể hiện đầy đủ. Một số cuộc tuyên truyền theo kiểu “nói một chiều”, không đối thoại, không giải thích cặn kẽ dẫn đến hiệu quả thay đổi nhận thức chưa cao. Báo cáo năm 2023 của Đảng ủy xã Bắc Hà chỉ ra: “Khoảng 30% cán bộ được khảo sát cho biết chưa từng tham gia lớp bồi dưỡng kỹ năng tuyên truyền dân tộc thiểu số”(25).
Việc người dân vùng cao, đặc biệt nhóm người lớn tuổi hoặc sống cách xa trung tâm xã, ít được tiếp cận thông tin chính thống khiến họ dễ hoài nghi chính sách mới hoặc dễ bị tác động bởi các video, bài đăng sai lệch trên mạng xã hội(26). Lực lượng tuyên truyền chưa bám sát địa bàn; công tác tuyên truyền miệng - vốn là thế mạnh ở vùng dân tộc - chưa được đầu tư khôi phục và chuẩn hóa.
Nhìn chung, công tác tuyên truyền của Đảng bộ các xã vùng cao Lào Cai vẫn còn hình thức, thiếu chiều sâu, thiếu tính lan tỏa, chưa tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và niềm tin của người dân. Tính bền vững của hoạt động tuyên truyền chưa cao: sau mỗi đợt cao điểm hoặc phong trào, mức độ quan tâm và tin tưởng của người dân có xu hướng giảm sút.
3. Giải pháp đẩy mạnh công tác tuyên truyền của Đảng bộ các xã vùng cao ở tỉnh Lào Cai
Thời gian tới, để công tác tuyên truyền đạt hiệu quả cao, Đảng bộ các xã vùng cao ở tỉnh Lào Cai cần chú trọng một số nội dung sau:
Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm và tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng đối với công tác tuyên truyền.
Trong bối cảnh sáp nhập đơn vị hành chính, việc nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy, đặc biệt là Bí thư Đảng ủy xã, đối với công tác tuyên truyền là nhiệm vụ cấp thiết. Tuyên truyền không chỉ phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng mà còn là cầu nối củng cố niềm tin, tạo sự đồng thuận trong nhân dân. Ở các xã vùng cao Lào Cai, đặc biệt là sau sáp nhập, cấp ủy cần chỉ đạo tuyên truyền thường xuyên, trực tiếp và phù hợp với đặc thù văn hóa, dân cư. Cấp ủy xã phải ban hành nghị quyết chuyên đề, phân công rõ trách nhiệm trong Ban Thường vụ, Ban Chấp hành, gắn trách nhiệm cá nhân với kết quả tuyên truyền. Đồng thời, củng cố chi bộ thôn, bản - lực lượng nòng cốt trong phổ biến chủ trương - bằng cách lựa chọn bí thư chi bộ có uy tín, biết tiếng dân tộc, có kỹ năng vận động và được bồi dưỡng nghiệp vụ tuyên truyền, đặc biệt về xử lý thông tin sai lệch và chính sách sáp nhập, phát triển kinh tế - xã hội. Bí thư Đảng ủy xã phải chịu trách nhiệm chính về hiệu quả tuyên truyền; cấp huyện và tỉnh cần có cơ chế đánh giá định kỳ để khen thưởng hoặc chấn chỉnh kịp thời. Công tác tuyên truyền cần gắn với cải cách hành chính, chuyển đổi số và các nhiệm vụ phát triển mới, đảm bảo thông tin đến người dân kịp thời, dễ hiểu, sát thực tế.
Các xã nên kết hợp hình thức tuyên truyền truyền thống (họp dân, loa phát thanh, sinh hoạt chi bộ) với công cụ hiện đại (Zalo, Facebook, bảng điện tử, đài truyền hình địa phương), đồng thời đào tạo kỹ năng tuyên truyền số cho cán bộ trẻ. Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy Lào Cai cần ban hành tài liệu hướng dẫn thống nhất, thành lập tổ hỗ trợ tuyên truyền tại cơ sở và duy trì cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, đảm bảo nội dung, thời gian và hình thức truyền tải đồng bộ, hiệu quả - góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng cao.
Hai là, đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức công tác tuyên truyền.
Ban Xây dựng Đảng ủy các xã vùng cao cần phối hợp với Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy, cơ quan báo chí và ngành thông tin truyền thông để rà soát, điều chỉnh nội dung tuyên truyền phù hợp với tình hình sau sáp nhập hành chính. Nội dung tập trung tuyên truyền chủ trương tinh gọn bộ máy, sáp nhập xã, bỏ cấp huyện; quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của người dân trong hệ thống mới; tránh tuyên truyền hình thức, xa thực tế. Các tổ chức cơ sở Đảng cần đổi mới phương pháp tuyên truyền theo hướng gần dân, đối thoại trực tiếp, lắng nghe và giải đáp kịp thời. Cán bộ tuyên truyền nên sử dụng tiếng dân tộc, ví dụ thực tế; phát huy vai trò bí thư chi bộ, trưởng thôn, già làng, người uy tín làm lực lượng nòng cốt.
Trước xu thế chuyển đổi số, cần đẩy mạnh tuyên truyền qua mạng xã hội, loa truyền thanh thông minh, nhóm Zalo cộng đồng, video tiếng dân tộc; triển khai các mô hình “Câu chuyện truyền thanh”, “Hỏi nhanh - đáp gọn”, “Cán bộ hỏi - dân trả lời”; khuyến khích sử dụng Cổng Dịch vụ công, sổ tay đảng viên điện tử. Ban Xây dựng Đảng ủy xã phối hợp các đoàn thể lồng ghép nội dung tuyên truyền vào lễ hội, ngày hội, hoạt động văn hóa dân gian để tăng hiệu quả và gắn kết cộng đồng. Đảng bộ xã cần phối hợp với Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị tập huấn kỹ năng truyền thông đa phương tiện, vận động nhân dân, ứng dụng CNTT cho cán bộ tuyên truyền; ưu tiên cán bộ trẻ, biết tiếng dân tộc, tư duy đổi mới. Ban Thường vụ Đảng ủy xã chỉ đạo kiểm tra, đánh giá định kỳ công tác tuyên truyền, khảo sát mức độ tiếp nhận thông tin của dân và coi đây là tiêu chí đánh giá thi đua hằng năm của cán bộ, đảng viên và các đoàn thể.
Ba là, xây dựng, kiện toàn đội ngũ báo cáo viên; đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng báo cáo viên.
Trước yêu cầu tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính, Đảng bộ tỉnh Lào Cai chỉ đạo Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy phối hợp các cấp ủy rà soát, đánh giá và kiện toàn đội ngũ báo cáo viên theo hướng tinh gọn, nâng cao chất lượng, ưu tiên người có năng lực tuyên truyền, am hiểu địa phương và thành thạo công nghệ thông tin. Việc lựa chọn thực hiện dân chủ, công khai, lấy hiệu quả thực tế làm tiêu chí.
Trước đặc thù địa bàn mở rộng, Tỉnh ủy chỉ đạo xây dựng quy chế hoạt động linh hoạt, phân công báo cáo viên theo vùng, cụm xã, gắn với các chức danh kiêm nhiệm trong hệ thống chính trị cơ sở. Đồng thời, thành lập tổ tuyên truyền lưu động ở vùng sâu, vùng xa với sự tham gia của báo cáo viên các cấp và người uy tín trong cộng đồng. Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy phối hợp Trường Chính trị tỉnh và các trung tâm chính trị tổ chức bồi dưỡng, cập nhật kiến thức lý luận, kỹ năng tuyên truyền theo hình thức kết hợp trực tiếp – trực tuyến, sử dụng các nền tảng số phù hợp vùng miền núi. Nội dung đào tạo tập trung vào kỹ năng nắm bắt dư luận, sử dụng truyền thông mới, kể chuyện chính trị và xử lý thông tin sai lệch. UBND tỉnh phối hợp Sở Nội vụ, Sở Tài chính xây dựng cơ chế hỗ trợ kinh phí, phương tiện, phụ cấp và khen thưởng cho báo cáo viên vùng cao, đồng thời ban hành bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động tuyên truyền; thay thế những người không đạt yêu cầu. Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy cùng Sở Khoa học và Công nghệ xây dựng cơ sở dữ liệu số về báo cáo viên, tổ chức nhóm Zalo, Facebook nội bộ để chia sẻ tài liệu, thông tin tuyên truyền và khuyến khích mỗi báo cáo viên xây dựng kênh tuyên truyền cá nhân, góp phần lan tỏa thông tin chính thống trên không gian mạng.
Bốn là, tăng cường sự phối hợp giữa các lực lượng trong công tác tuyên truyền, tăng cường nắm bắt tình hình diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên và tầng lớp nhân dân.
Đảng ủy xã cần chủ trì xây dựng quy chế phối hợp giữa các lực lượng tuyên truyền như Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, công an, quân sự xã, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên… Quy chế phải rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, linh hoạt phù hợp với địa bàn rộng, dân cư phân tán, giúp tránh chồng chéo, tiết kiệm nhân lực và thống nhất nội dung tuyên truyền.
Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy và Trung tâm Chính trị tỉnh cần tăng cường hỗ trợ chuyên môn cho cơ sở, nhất là xã vùng cao, biên giới, thông qua tập huấn, cung cấp tài liệu, sản phẩm truyền thông phù hợp ngôn ngữ, văn hóa dân tộc; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội, truyền thanh thông minh để định hướng tư tưởng, phản bác thông tin xấu độc.
Lực lượng Công an xã chính quy cần nắm bắt, dự báo tình hình tư tưởng, dư luận xã hội, phối hợp với chi bộ, người uy tín để tham mưu giải pháp tuyên truyền, đồng thời chủ động đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc về sáp nhập hành chính.
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể phải phát huy vai trò “tai mắt” của Đảng, nắm bắt tâm tư, phản ánh kịp thời, định hướng dư luận, tuyên truyền phù hợp, tránh hình thức.
Đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên xã cần được củng cố, hỗ trợ, tăng cường bám cơ sở, tuyên truyền miệng, giải thích chính sách bằng hình thức gần gũi, dễ hiểu, phù hợp với đặc điểm vùng cao, dân tộc thiểu số.
Năm là, tăng cường đầu tư, sử dụng hợp lý cơ sở vật chất, phương tiện và các điều kiện đảm bảo cho công tác tuyên truyền.
UBND tỉnh Lào Cai cần chỉ đạo Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tài chính phối hợp với các huyện, xã vùng cao rà soát cơ sở vật chất, thiết bị tuyên truyền (loa, hệ thống truyền thanh, phòng truyền thông…) để ưu tiên đầu tư tập trung, tránh dàn trải, nhất là tại các xã trọng điểm về chính trị, an ninh, quốc phòng và vùng dân tộc thiểu số. Việc đầu tư cần gắn với chuyển đổi số, sử dụng thiết bị thông minh, phù hợp địa hình vùng cao.
Sau sáp nhập đơn vị hành chính, các Đảng bộ và UBND xã cần bố trí, sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất hiện có; quy hoạch lại điểm tuyên truyền, hệ thống truyền thanh, truyền hình để tránh lãng phí. Các xã cần huy động nguồn lực xã hội hóa, phát huy vai trò tổ chức, doanh nghiệp, già làng, trưởng bản; triển khai mô hình “Tổ tuyên truyền lưu động”, “Tổ công nghệ số cộng đồng” với sự hỗ trợ của doanh nghiệp viễn thông. Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy nên xây dựng cơ chế phối hợp Nhà nước - doanh nghiệp - cộng đồng nhằm huy động tối đa nguồn lực.
Trong điều kiện tinh gọn bộ máy, hệ thống thông tin tuyên truyền cần kết nối trực tuyến, đồng bộ từ tỉnh đến xã. Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy xây dựng phần mềm quản lý, điều phối nội dung tuyên truyền theo thời gian thực; nâng cấp cơ sở vật chất tại xã để tiếp nhận thông tin số, ứng dụng AI, dịch đa ngữ phục vụ vùng dân tộc thiểu số.
Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Sở Nội vụ và Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy cần bồi dưỡng kỹ năng công nghệ thông tin, sử dụng thiết bị số cho tuyên truyền viên cơ sở, đồng thời trang bị điện thoại, máy tính bảng và phần mềm tuyên truyền số hóa, giúp nâng cao hiệu quả truyền đạt chủ trương của Đảng đến người dân.
Sáu là, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.
Trong bối cảnh Lào Cai sáp nhập các đơn vị hành chính cấp xã và hướng tới bỏ cấp huyện, các Đảng bộ xã vùng cao cần xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội phù hợp thực tiễn, phối hợp chặt chẽ với UBND, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Trọng tâm là phát triển nông nghiệp công nghệ cao, trồng và chế biến dược liệu, du lịch sinh thái - cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa dân tộc; đồng thời khuyến khích mô hình kinh tế hợp tác, liên kết sản xuất - tiêu thụ để nâng cao đời sống nhân dân.
Song song, cần tăng cường giữ vững an ninh - quốc phòng, trật tự xã hội. Ban Chỉ huy quân sự và Công an xã phối hợp với chi bộ thôn, già làng, trưởng họ nắm bắt tình hình, phòng ngừa chia rẽ dân tộc, tuyên truyền sai lệch. Các hoạt động tuyên truyền, sinh hoạt chính trị, phổ biến pháp luật phải tập trung tại các khu vực nhạy cảm, giúp nâng cao nhận thức, bảo đảm ổn định xã hội.
Công tác thông tin - truyền thông cũng cần được chú trọng. Các xã vùng cao nên được hỗ trợ hạ tầng viễn thông, internet, triển khai wifi công cộng và hệ thống loa thông minh để tuyên truyền chính sách, pháp luật, thúc đẩy sự đồng thuận và tham gia của người dân vào phát triển kinh tế - xã hội.
Đảng bộ xã sau sáp nhập cần huy động các đoàn thể như Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân… tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân gắn với các chương trình nông thôn mới, sinh kế và phúc lợi xã hội.
Cán bộ Ban Xây dựng Đảng ủy xã cần được đào tạo kỹ năng truyền thông, ứng dụng công nghệ số để đáp ứng yêu cầu tinh gọn bộ máy và nâng cao hiệu quả tuyên truyền. Đồng thời, cần kiện toàn đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên có uy tín, biết tiếng dân tộc, am hiểu phong tục để tăng sức thuyết phục. Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy nên triển khai đào tạo trực tuyến, hướng dẫn sử dụng công cụ số phục vụ tuyên truyền linh hoạt.
4. Kết luận
Công tác tuyên truyền của Đảng bộ các xã vùng cao tỉnh Lào Cai giai đoạn 2020-2025 đã đạt nhiều kết quả quan trọng, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân, nâng cao nhận thức chính trị và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Sự đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức tuyên truyền gắn với đặc thù văn hóa, ngôn ngữ các dân tộc đã giúp chủ trương, đường lối của Đảng đến với người dân một cách gần gũi, hiệu quả. Đội ngũ cán bộ tuyên truyền ngày càng được kiện toàn, trình độ chuyên môn nâng cao, các mô hình truyền thông sáng tạo bước đầu phát huy tác dụng rõ rệt. Tuy nhiên, trước yêu cầu mới của quá trình sáp nhập đơn vị hành chính, chuyển đổi số và đấu tranh với thông tin sai lệch, công tác tuyên truyền vẫn còn những hạn chế về tốc độ, tính kịp thời, cơ sở vật chất và kỹ năng của cán bộ cơ sở. Do đó, thời gian tới cần tiếp tục tăng cường lãnh đạo của cấp ủy, đổi mới nội dung và phương pháp tuyên truyền, đầu tư hạ tầng thông tin, nâng cao chất lượng đội ngũ và phát huy vai trò các lực lượng trong hệ thống chính trị. Thực hiện đồng bộ các giải pháp sẽ giúp công tác tuyên truyền vùng cao Lào Cai đáp ứng yêu cầu mới, góp phần xây dựng địa phương phát triển bền vững, đoàn kết và giàu bản sắc./.
__________________________________________________
(1) Tỉnh ủy Lào Cai (2022), Báo cáo sơ kết giữa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lào Cai lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2020 - 2025.
(2), (10), (11) Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lào Cai (2024), Báo cáo tổng kết hoạt động báo cáo viên, tuyên truyền viên nhiệm kỳ (2021 - 2024) và phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ (2025-2030).
(3) Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lào Cai (2023), Báo cáo kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2020 - 2023 trên địa bàn tỉnh Lào Cai.
(4) Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy Lào Cai (2022), Báo cáo tổng kết công tác dân vận năm 2022 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2023.
(5), (13) UBND tỉnh Lào Cai (2023), Báo cáo tình hình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Lào Cai năm 2023.
(6), (14), (26) Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy Lào Cai (2020, 2022, 2025), Báo cáo tổng kết công tác tuyên truyền năm 2020, 2022, 2025.
(7), (15), (19) Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy Lào Cai (2024), Báo cáo tổng kết công tác tuyên truyền chính trị, tư tưởng vùng cao giai đoạn 2020 - 2024.
(8) Sở Y tế Lào Cai (2022), Báo cáo công tác tuyên truyền và triển khai tiêm vaccine phòng Covid-19 tại các huyện vùng cao tỉnh Lào Cai
(9), (22) Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Lào Cai (2023, 2024), Báo cáo kết quả thực hiện các phong trào tự quản, dân vận khéo vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Lào Cai năm 2023, 2024.
(12), (20) UBND tỉnh Lào Cai (2021–2023), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội, phòng chống thiên tai và dịch bệnh.
(16) Đảng ủy xã Bát Xát (2021-2023), Báo cáo kiểm tra, giám sát công tác tuyên truyền tại các xã vùng cao.
(17), (25) Đảng ủy xã Bắc Hà (2021-2023), Báo cáo kiểm tra, giám sát công tác tuyên truyền tại các xã vùng cao.
(18) Đảng ủy phường Sa Pa (2021-2023), Báo cáo kiểm tra, giám sát công tác tuyên truyền tại các xã vùng cao.
(21), (23) Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lào Cai (2023), Niên giám Thống kê và Báo cáo thông tin truyền thông cơ sở.
(24) Công an tỉnh Lào Cai (2022–2023), Báo cáo tình hình an ninh tư tưởng, thông tin xấu độc trên địa bàn.
Nguồn: Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông điện tử
Bài liên quan
- Đổi mới tư duy của Nhà nước trong kỷ nguyên số: Từ quản lý sang quản trị, kiến tạo phát triển
- Tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Long trong công tác bình đẳng giới hiện nay
- Nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay
- Vai trò của nông dân trong phát triển nông nghiệp bền vững - qua thực tiễn ở tỉnh Cao Bằng
- Nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ cấp xã ở tỉnh Khánh Hòa hiện nay
Xem nhiều
-
1
Phiên bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng
-
2
Vai trò của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Lào trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay
-
3
Bế mạc Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam
-
4
Đổi mới tư duy của Nhà nước trong kỷ nguyên số: Từ quản lý sang quản trị, kiến tạo phát triển
-
5
Tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Long trong công tác bình đẳng giới hiện nay
-
6
Đổi mới sáng tạo thu hẹp khoảng cách giáo dục vùng sâu, vùng xa Việt Nam trong kỷ nguyên mới
Liên kết
- Báo điện tử đảng cộng sản việt nam
- Báo nhân dân
- Báo Quân đội nhân dân
- Cổng thông tin điện tử Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia hồ chí minh
- Tạp chí Cộng sản
- Tạp chí Giáo dục lý luận
- Tạp chí Giáo dục và Xã hội
- Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
- Tạp chí Lý luận chính trị
- Tạp chí Nghiên cứu con người
- TẠP CHÍ Nghiên cứu dân tộc
- Tạp chí Người làm báo
- Tạp chí Nội chính
- Tạp chí Quản lý Nhà nước
- Tạp chí Tổ chức Nhà nước
- Tạp chí Tuyên giáo
- Tạp chí Xây Dựng Đảng
- Thư viện số Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Trang thông tin điện tử Hội đồng Lý luận Trung ương
Giá trị biểu tượng của con ngựa trong văn hóa Việt Nam và ý nghĩa đối với sự phát triển văn hóa đất nước trong kỷ nguyên vươn mình
Trong văn hóa Việt Nam, từ đời sống văn hóa vật chất đến văn hóa tinh thần, con ngựa có vai trò, vị trí quan trọng và trở thành giá trị biểu tượng với nhiều chiều cạnh đa dạng. Từ đời sống sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu chống giặc ngoại xâm, đến đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, các hoạt động lễ hội, văn học, nghệ thuật, ngôn ngữ dân gian…, biểu tượng con ngựa đã “phi nước đại” từ quá khứ đến hiện tại để góp phần làm nên giá trị văn hóa Việt Nam đặc trưng, giàu bản sắc, thể hiện rõ sức mạnh mềm của văn hóa trong bối cảnh hội nhập ở kỷ nguyên vươn mình, cũng như cho thấy sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với văn hóa. Hiểu và tiếp nối, trao truyền, sáng tạo không ngừng giá trị biểu tượng của con ngựa trong văn hóa Việt Nam cũng chính là góp phần gìn giữ, phát huy và làm rạng danh các giá trị văn hóa truyền thống trong xã hội đương đại, nhằm thúc đẩy văn hóa, con người, đất nước ta phát triển bền vững trong thời đại mới.
Đổi mới tư duy của Nhà nước trong kỷ nguyên số: Từ quản lý sang quản trị, kiến tạo phát triển
Đổi mới tư duy của Nhà nước trong kỷ nguyên số: Từ quản lý sang quản trị, kiến tạo phát triển
Trong kỷ nguyên số, công nghệ, dữ liệu và các nền tảng số đang định hình không gian vận hành của quyền lực công, đặt ra yêu cầu chuyển dịch tư duy quản trị nhà nước theo hướng hiện đại và kiến tạo phát triển. Từ góc độ chính trị học, bài viết phân tích đổi mới tư duy của Nhà nước như một quá trình tái cấu trúc tư duy quyền lực nhằm thích ứng với môi trường số phi tập trung, xuyên biên giới và biến đổi nhanh chóng, làm rõ sự khác biệt về bản chất quyền lực giữa ba cách tiếp cận: (i) tư duy quản lý; (ii) tư duy quản trị và (iii) tư duy kiến tạo phát triển. Trên cơ sở đó, bài viết luận giải vì sao tư duy quản lý truyền thống không còn phù hợp trong kỷ nguyên số, đồng thời khẳng định, quản trị và kiến tạo phát triển là lựa chọn tất yếu để củng cố tính chính danh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc trong không gian số. Bài viết cũng gợi mở định hướng tiếp cận phương thức quản trị nhà nước phù hợp cho Việt Nam trong kỷ nguyên số dựa trên tham khảo kinh nghiệm tư duy quản trị hiện đại của một số quốc gia trên thế giới.
Tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Long trong công tác bình đẳng giới hiện nay
Tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Long trong công tác bình đẳng giới hiện nay
Bình đẳng giới là nguyên tắc và mục tiêu xã hội, trong đó nam, nữ và các giới khác có vị thế, quyền, nghĩa vụ và cơ hội ngang nhau trong mọi lĩnh vực của đời sống như giáo dục, lao động, chính trị, kinh tế, văn hóa và gia đình… Thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Long công tác này đã đạt được những kết quả ấn tượng, góp phần nâng cao vai trò, vị thế của phụ nữ; thu hẹp dần khoảng cách giới; tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội; tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của tỉnh. Trên tinh thần đó, bài viết làm rõ thực trạng Tỉnh ủy Vĩnh Long trong công tác bình đẳng giới hiện nay, chỉ rõ một số hạn chế, tồn tại; từ đó, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác này thời gian tới.
Nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay
Nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay
Kinh tế tập thể, hợp tác xã đang ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của các địa phương. Với tiềm năng, lợi thế về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tỉnh Thanh Hóa có nhiều thuận lợi để phát triển hợp tác xã nông nghiệp. Bài viết phân tích làm rõ thực trạng hoạt động và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa hiện nay.
Vai trò của nông dân trong phát triển nông nghiệp bền vững - qua thực tiễn ở tỉnh Cao Bằng
Vai trò của nông dân trong phát triển nông nghiệp bền vững - qua thực tiễn ở tỉnh Cao Bằng
Phát triển nông nghiệp bền vững là định hướng lớn của Đảng nhằm bảo đảm an ninh lương thực, bảo vệ môi trường và nâng cao đời sống nông dân, đặc biệt ở các tỉnh miền núi như Cao Bằng. Bài viết phân tích vai trò chủ thể của nông dân trong tiến trình này, dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn địa phương. Qua số liệu về cơ cấu kinh tế, mô hình sản xuất và liên kết chuỗi giá trị, bài viết làm rõ những đóng góp nổi bật của nông dân trong chuyển đổi nông nghiệp theo hướng bền vững, đồng thời chỉ ra hạn chế và đề xuất giải pháp nhằm phát huy vai trò của nông dân tỉnh Cao Bằng hướng tới nền nông nghiệp hiệu quả, sinh thái và gắn kết cộng đồng.
llcttt1994dientu@gmail.com
024.38348033
Bình luận