Một số suy nghĩ bước đầu về đột phá chiến lược trong thời kỳ mới
Đại hội XIII của Đảng xác định ba khâu đột phá chiến lược: 1- Thể chế phát triển, theo đó thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang dần được hoàn thiện theo hướng hiện đại, đồng bộ và hội nhập; 2- Nguồn nhân lực, theo đó quy mô nguồn nhân lực tăng lên, nhất là nhân lực chất lượng cao trong các ngành, lĩnh vực đột phá; các thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại được ứng dụng nhanh chóng, rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia bắt đầu hình thành; 3- Tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ với một số công trình hiện đại, nhất là hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn.
Sau hơn nửa nhiệm kỳ thực hiện ba đột phá chiến lược, được Nhà nước thể chế hóa, cụ thể hóa thành nhiều văn bản pháp luật, nhiều chương trình, đề án, dự án trọng điểm, các cấp ủy đã tập trung lãnh đạo, tổ chức thực hiện đạt nhiều kết quả quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và đối ngoại của đất nước. Tuy nhiên, việc thực hiện ba đột phá chiến lược có mặt chưa đáp ứng yêu cầu; do đó, cần thực hiện đồng bộ với quyết tâm chính trị cao để tạo bứt phá, sự phát triển nhanh hơn nữa trong thời gian tới.
Hiện nay, thế giới đang chứng kiến những diễn biến phức tạp, khó lường, như cuộc xung đột Nga - U-crai-na, I-xra-en - Ha-mát..., đã tác động mạnh mẽ đến tình hình của nhiều nước và khu vực, trong đó có Việt Nam. Ở trong nước, sau gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nhất là sau Đại hội XIII của Đảng, thế và lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế, niềm tin của nhân dân ngày càng được nâng lên, tạo ra những tiền đề quan trọng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Các đột phá chiến lược do các Đại hội Đảng xác định vẫn còn nguyên giá trị, có ý nghĩa lâu dài, cần tiếp tục cụ thể hóa trong từng giai đoạn phát triển của đất nước.
Lựa chọn, bố trí đúng đội ngũ cán bộ thực sự có đức, có tài đứng đầu các cấp, các ngành trong hệ thống chính trị
Đảng ta lựa chọn nội dung đột phá này, bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn, chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(1), “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”(2); do đó, việc lựa chọn, bố trí đúng đội ngũ cán bộ thực sự có đức, có tài đứng đầu các cấp, các ngành - nguồn nhân lực chất lượng cao trong hệ thống chính trị - là rất quan trọng, bởi đây là nhân tố sẽ quyết định đến thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Ngày 19-5-2018, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW, về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, xác định rõ mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược, là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành thường xuyên, thận trọng, khoa học, chặt chẽ và hiệu quả. Như vậy, vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, cán bộ đứng đầu các cấp, các ngành có vai trò rất quan trọng và mang tính cấp thiết, ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của đất nước.
Công tác phát triển nguồn nhân lực của Đảng, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, đòi hỏi thực hiện nhất quán, thường xuyên trong nhiều năm, nhiều nhiệm kỳ, có liên quan đến chính sách, quyết sách, nguồn lực... Văn kiện Đại hội X của Đảng nhấn mạnh: “Cụ thể hóa và thể chế hóa nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của tổ chức và người đứng đầu của tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ”(3).
Kế thừa tinh thần đó, Văn kiện Đại hội XII của Đảng chỉ rõ quyền và trách nhiệm của người đứng đầu về công tác cán bộ: “Quán triệt và nghiêm túc thực hiện quan điểm Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy quyền và trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ”(4).
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định rõ vị trí, vai trò và tiêu chuẩn của người đứng đầu các cấp trong công tác cán bộ: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết. Xây dựng quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ”(5). Đặc biệt, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Quy định rõ trách nhiệm người đứng đầu trong kiểm tra, phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí và bảo vệ người tích cực đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí”(6).
Việc đánh giá đội ngũ cán bộ là khâu quan trọng, được cấp ủy các cấp chú trọng thực hiện thông qua việc kiểm điểm hằng năm, kết hợp với việc bỏ phiếu tín nhiệm với các chức danh. Tuy nhiên, cá biệt có nơi làm chưa tốt, chưa đúng khi ngay từ đầu đã bổ nhiệm, bố trí người đứng đầu không xứng đáng, có người sớm lộ rõ phẩm chất, năng lực yếu kém. Mặc dù Văn kiện Đại hội XI của Đảng ghi rõ: “Đánh giá và sử dụng đúng cán bộ trên cơ sở những tiêu chuẩn, quy trình đã được quy định, lấy hiệu quả công tác và sự tín nhiệm của nhân dân làm thước đo chủ yếu”(7), Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên”(8); tuy nhiên, qua từng nhiệm kỳ, từng năm, rất ít cấp ủy, chính quyền đánh giá công khai, minh bạch đối với cá nhân cán bộ đứng đầu các cấp, các ngành và công bố rộng rãi kết quả cho nhân dân biết. Việc ban hành cơ chế để “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” trong công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ chưa được tổ chức thực hiện hiệu quả.
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, việc chọn khâu đột phá để lựa chọn, bố trí đúng đội ngũ cán bộ thực sự có đức, có tài đứng đầu các cấp, các ngành trong hệ thống chính trị là nhiệm vụ rất cần thiết và đặc biệt quan trọng. Với số lượng đội ngũ cán bộ là người đứng đầu không nhiều, nên việc kiểm tra, giám sát, đánh giá đội ngũ này có thể thực hiện chặt chẽ, đầy đủ, kịp thời trong từng nhiệm kỳ; bên cạnh đó, để người đứng đầu phát huy tốt vai trò, trách nhiệm trong công tác cán bộ, lãnh đạo, chỉ đạo nhiệm vụ chính trị được giao, thiết nghĩ cần có chính sách tiền lương bảo đảm để họ yên tâm công tác, làm việc hết trách nhiệm của mình, quan tâm bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm, dám quyết định đúng vì lợi ích chung của đất nước. Nếu đội ngũ cán bộ đứng đầu các cấp, các ngành đều thực sự có đức, có tài thì họ sẽ đóng góp xứng đáng, tạo bước chuyển biến mới, góp phần xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, phát triển nhanh và bền vững hơn.
Tập trung phát triển khoa học - công nghệ hiện đại, tạo động lực phát triển đất nước nhanh, bền vững
Phát triển khoa học - công nghệ là chiến lược lớn, quan trọng của mỗi quốc gia, dân tộc. Bài học kinh nghiệm thực tiễn từ những đất nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế - xã hội nhanh, bền vững trên thế giới cho thấy, họ đều tập trung đầu tư cho khoa học - công nghệ. Với Việt Nam, thực hiện tốt nhiệm vụ này vừa góp phần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, vừa nâng cao chất lượng kết cấu hạ tầng... Văn kiện đại hội của Đảng qua các nhiệm kỳ gần đây đều nhấn mạnh tới lĩnh vực này: “Tăng cường tiềm lực và đổi mới cơ chế quản lý để khoa học và công nghệ thực sự trở thành động lực phát triển đất nước”(9); “Nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của khoa học và công nghệ”(10); “Phát triển mạnh khoa học, công nghệ làm động lực đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế tri thức”(11); “Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ. Tăng cường tiềm lực khoa học, công nghệ và xây dựng hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, phát huy năng lực sáng tạo của mọi cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức”(12); “Thúc đẩy phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”(13).
Đặc biệt, Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 1-11-2012, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, “Về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” khẳng định quan điểm: Phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc, là một nội dung cần được ưu tiên tập trung đầu tư trước một bước trong hoạt động của các ngành, các cấp. Sự lãnh đạo của Đảng, năng lực quản lý của Nhà nước và tài năng, tâm huyết của đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ đóng vai trò quyết định đến thành công của sự nghiệp phát triển khoa học và công nghệ. Nghị quyết đã đưa ra mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể và 6 nhóm nhiệm vụ, giải pháp để tổ chức thực hiện.
Sau 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW, Ban Bí thư đã chỉ đạo sơ kết và ban hành Kết luận số 50-KL/TW, ngày 30-5-2019, “Về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”; trong đó, đánh giá tiềm lực khoa học quốc gia được tăng cường, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp sáng tạo được thúc đẩy, lan tỏa trong xã hội, thị trường khoa học - công nghệ bước đầu phát triển. Hợp tác quốc tế có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần hỗ trợ nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Khoa học - công nghệ đã góp phần quan trọng cho tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh, góp phần phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.
Tuy nhiên, so với mục tiêu nghị quyết đề ra, kết quả đạt được còn hạn chế; nhiều nội dung của nghị quyết chưa được quán triệt và thực hiện đầy đủ; hệ thống pháp luật, cơ chế quản lý tài chính đối với khoa học - công nghệ tuy có đổi mới, song còn bất cập, chưa đồng bộ, phân bổ ngân sách chưa hợp lý; hiệu quả nghiên cứu khoa học - công nghệ và ứng dụng nghiên cứu chưa cao. Một trong những hạn chế, yếu kém đó là việc thể chế hóa và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước còn chậm, chưa quyết liệt, chưa tạo được môi trường minh bạch trong hoạt động khoa học - công nghệ, nguồn lực đầu tư còn hạn chế,...
Quyết định số 569/QĐ-TTg, ngày 11-5-2022, của Thủ tướng Chính phủ, “Ban hành Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030”, thể hiện sự quan tâm đặc biệt đến lĩnh vực này. Hiện nay, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo càng đóng vai trò quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế và cải thiện chất lượng cuộc sống; đồng thời, giải quyết các vấn đề cấp thiết nảy sinh trong đời sống xã hội. Một số công nghệ chính góp phần tạo nên thành công của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, như trí tuệ nhân tạo, rô-bốt, điện toán đám mây, mạng 5G, ứng dụng chuỗi khối (blockchain),... Trong bối cảnh mới, Đại hội XIII của Đảng xác định: “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực gắn với đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, ứng dụng và phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ”(14) là một trong những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, góp phần quan trọng định hướng chiến lược phát triển đất nước nhanh, bền vững.
Để khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ hơn nữa, cần tiếp tục chuyển biến nhận thức cho mỗi cán bộ, đảng viên, nhân dân về vấn đề này; bổ sung, hoàn thiện chính sách, pháp luật về đầu tư, tài chính doanh nghiệp, chính sách trọng dụng, đãi ngộ và tôn vinh trí thức, đầu tư đúng mức cho nghiên cứu khoa học, xây dựng tiềm lực khoa học đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới đất nước; thúc đẩy phát triển mạnh thị trường khoa học - công nghệ; đa dạng hóa đối tác và đẩy mạnh hợp tác quốc tế về khoa học - công nghệ có trọng tâm, trọng điểm.
Cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh
Môi trường đầu tư, kinh doanh là tập hợp yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp, tổ chức kinh tế trong và ngoài nước với hộ kinh doanh. Môi trường đầu tư bao gồm các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tự nhiên, công nghệ,... trong đó, chính sách của Nhà nước, các điều kiện, đặc điểm về địa lý, quy mô thị trường là rất quan trọng. Môi trường đầu tư, kinh doanh tốt sẽ khuyến khích doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư, khuyến khích các thành phần kinh tế trong nước tăng cường sản xuất, kinh doanh, giảm thấp chi phí và rủi ro. Một môi trường đầu tư, kinh doanh tốt không chỉ mang lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác..., mà còn góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức này trên phạm vi toàn xã hội.
Thực tế hiện nay cho thấy, quốc gia nào, địa phương nào có môi trường đầu tư, kinh doanh tốt thì hiệu quả thu hút đầu tư, kinh doanh cao làm cho kinh tế tăng trưởng nhanh, thu ngân sách lớn, giải quyết được nhiều việc làm cho người lao động... Nếu có cơ chế, chính sách thu hút được doanh nghiệp đầu tư vào khu vực nông nghiệp, nông thôn, nhất là ở vùng sâu, vùng xa thì sẽ góp phần xóa đói, giảm nghèo nhanh và bền vững hơn; phân bố lao động hợp lý, khắc phục được tình trạng ly nông, ly hương, gây áp lực tăng nhanh dân số cơ học cho khu vực đô thị.
Gần đây nhất, Nghị quyết số 41-NQ/TW, ngày 10-10-2023, của Bộ Chính trị, “Về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ mới”, đã khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng, đội ngũ doanh nhân có vị trí, vai trò quan trọng, là một trong những lực lượng nòng cốt, góp phần thúc đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Nghị quyết đã làm nức lòng giới doanh nhân Việt Nam, khơi dậy khát vọng phát triển phồn vinh, định hướng phát triển doanh nghiệp, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trước đó, ngày 17-6-2020, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật Đầu tư số 61/2020/QH14, nhằm tiếp tục tạo dựng môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, minh bạch, bình đẳng, an toàn và thân thiện cho mọi người dân, doanh nghiệp; đồng thời, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư, kinh doanh.
Để có một môi trường đầu tư, kinh doanh thực sự lành mạnh, hấp dẫn, có sức cạnh tranh với các quốc gia khác, không chỉ phải giữ vững ổn định chính trị, kiểm soát lạm phát, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, mà còn phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng cường xây dựng kết cấu hạ tầng, xóa bỏ rào cản về đầu tư, kinh doanh, nhất là cải cách thủ tục hành chính; giảm thiểu, đi đến khắc phục triệt để tình trạng chi phí “bôi trơn”, đặc biệt là cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách đầu tư, kinh doanh minh bạch, nhất quán. Thực tế những năm vừa qua cho thấy, chính quyền địa phương nào giải quyết được những khó khăn lớn đối với nhà đầu tư, kinh doanh về tiếp cận đất đai, tài chính,... thì ở nơi đó sẽ thực hiện thu hút đầu tư, kinh doanh tốt hơn.
Hiện nay, ở một số đô thị, khu công nghiệp, tình trạng ô nhiễm môi trường rất nghiêm trọng (khí thải, rác thải, nước thải...) đã ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống và sức khỏe nhân dân; đồng thời, cũng là “rào cản” trực tiếp với các nhà đầu tư, kinh doanh, vì thế phải từng bước giải quyết, khắc phục triệt để tình trạng này. Trong điều kiện tiềm lực tài chính của đất nước còn rất khó khăn, cần thiết lựa chọn nhà đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, trước hết là có chính sách ưu đãi đặc thù cho những dự án chất lượng, sản phẩm có giá trị gia tăng và tính cạnh tranh cao. Việt Nam là đất nước có tiềm năng, lợi thế về nông nghiệp và du lịch so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới; do đó, rất thuận lợi cho các nhà đầu tư tìm đến để đầu tư, kinh doanh. Một đất nước được thiên nhiên ưu đãi có thể phát triển nhiều loại cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu, cây lâm nghiệp, có điều kiện nuôi trồng thủy sản, gia súc, gia cầm...
Là nước có nhiều danh lam, thắng cảnh đẹp, có bờ biển dài quanh năm chan hòa ánh nắng, nhưng du lịch Việt Nam phát triển chưa thực sự xứng tầm với tiềm năng và lợi thế của mình. Nếu hai lĩnh vực này được ưu tiên phát triển thì sẽ góp phần phát triển nhanh nền kinh tế, cải thiện tốt chính sách an sinh xã hội, nâng cao đời sống cho người dân ở khu vực nông thôn, giảm thiểu khó khăn ở khu vực đô thị, nhất là tình trạng tăng dân số cơ học quá nhanh như hiện nay.
Doanh nghiệp trong, ngoài nước và nhân dân đều mong muốn chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước sớm đi vào cuộc sống và có hiệu lực, hiệu quả. Phát triển kết cấu hạ tầng, chất lượng quy hoạch, cải cách thủ tục hành chính, ưu đãi về thuế, chuyển đổi số, giải quyết ô nhiễm môi trường, kiểm soát lạm phát, cân đối nguồn lực tài chính, nâng hạng các chỉ số môi trường đầu tư, kinh doanh, cùng với nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị - tất cả nhiệm vụ ấy đều đòi hỏi chú trọng, quan tâm đúng mức đến nhân tố con người.
Như đã phân tích, việc lựa chọn, bố trí đúng cán bộ thực sự có đức, có tài đứng đầu các cấp, các ngành trong hệ thống chính trị; phát triển khoa học - công nghệ hiện đại và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh có mối quan hệ biện chứng, gắn bó mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Vì thế, việc lựa chọn, xác định đột phá nào để có tính khả thi cao, tác động mạnh mẽ, tạo ra sự bứt phá, góp phần quan trọng trong thực hiện các mục tiêu chiến lược là nhiệm vụ rất cần thiết, cấp bách hiện nay; trong đó, việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh vẫn phải được coi là khâu đột phá chiến lược trong thời kỳ phát triển mới./.
----------------------------
(1), (2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 5, tr. 309, 313
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 137
(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 206
(5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 187
(6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. II, tr. 252
(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 59
(8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 192
(9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 205
(10) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Sđd, tr. 98
(11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr. 218
(12) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr. 297
(13) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. II, tr. 130
(14) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. II, tr. 127
Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Cộng sản điện tử ngày 27/01/2024
Bài liên quan
- Thời cơ và thách thức đối với chính quyền cấp xã sau sáp nhập chính quyền địa phương hai cấp tỉnh Tuyên Quang hiện nay
- Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra của Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy phường Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội
- Công tác sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay: Thực trạng và giải pháp
- Đổi mới tư duy của Nhà nước trong kỷ nguyên số: Từ quản lý sang quản trị, kiến tạo phát triển
- Tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Long trong công tác bình đẳng giới hiện nay
Xem nhiều
-
1
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong truyền hình Việt Nam
-
2
Đổi mới tư duy của Nhà nước trong kỷ nguyên số: Từ quản lý sang quản trị, kiến tạo phát triển
-
3
Giá trị biểu tượng của con ngựa trong văn hóa Việt Nam và ý nghĩa đối với sự phát triển văn hóa đất nước trong kỷ nguyên vươn mình
-
4
Đổi mới sáng tạo thu hẹp khoảng cách giáo dục vùng sâu, vùng xa Việt Nam trong kỷ nguyên mới
-
5
Tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Long trong công tác bình đẳng giới hiện nay
-
6
Công tác sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay: Thực trạng và giải pháp
Liên kết
- Báo điện tử đảng cộng sản việt nam
- Báo nhân dân
- Báo Quân đội nhân dân
- Cổng thông tin điện tử Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia hồ chí minh
- Tạp chí Cộng sản
- Tạp chí Giáo dục lý luận
- Tạp chí Giáo dục và Xã hội
- Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
- Tạp chí Lý luận chính trị
- Tạp chí Nghiên cứu con người
- TẠP CHÍ Nghiên cứu dân tộc
- Tạp chí Người làm báo
- Tạp chí Nội chính
- Tạp chí Quản lý Nhà nước
- Tạp chí Tổ chức Nhà nước
- Tạp chí Tuyên giáo
- Tạp chí Xây Dựng Đảng
- Thư viện số Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Trang thông tin điện tử Hội đồng Lý luận Trung ương
Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra của Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy phường Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội
Công tác kiểm tra có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giữ vững kỷ cương, nâng cao năng lực lãnh đạo, phòng ngừa sai phạm, củng cố niềm tin nhân dân. Qua đó góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị ở cơ sở, phù hợp với tình hình thực tiễn và yêu cầu đổi mới công tác xây dựng Đảng hiện nay. Bài viết làm rõ thực trạng chất lượng công tác kiểm tra của Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy phường Hoàn Kiếm, chỉ rõ một số hạn chế, tồn tại; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác này thời gian tới.
Thời cơ và thách thức đối với chính quyền cấp xã sau sáp nhập chính quyền địa phương hai cấp tỉnh Tuyên Quang hiện nay
Thời cơ và thách thức đối với chính quyền cấp xã sau sáp nhập chính quyền địa phương hai cấp tỉnh Tuyên Quang hiện nay
Sáp nhập chính quyền địa phương hai cấp gắn liền với chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính là một trong những chủ trương lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Bên cạnh những thuận lợi, việc sáp nhập chính quyền hai cấp cũng đặt ra nhiều thách thức đối với chính quyền cấp xã tại tỉnh Tuyên Quang. Trên cơ sở khái quát về chính quyền địa phương ở Việt Nam, bài viết làm rõ thời cơ và thách thức đối với chính quyền cấp xã tại tỉnh Tuyên Quang khi thực hiện chính quyền địa phương hai cấp hiện nay.
Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra của Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy phường Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội
Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra của Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy phường Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội
Công tác kiểm tra có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giữ vững kỷ cương, nâng cao năng lực lãnh đạo, phòng ngừa sai phạm, củng cố niềm tin nhân dân. Qua đó góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị ở cơ sở, phù hợp với tình hình thực tiễn và yêu cầu đổi mới công tác xây dựng Đảng hiện nay. Bài viết làm rõ thực trạng chất lượng công tác kiểm tra của Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy phường Hoàn Kiếm, chỉ rõ một số hạn chế, tồn tại; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác này thời gian tới.
Công tác sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay: Thực trạng và giải pháp
Công tác sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay: Thực trạng và giải pháp
Công tác sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị có vai trò quan trọng góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, bảo đảm quản lý thống nhất, tinh gọn bộ máy, phục vụ tốt hơn người dân và sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và tỉnh Quảng Ninh nói riêng. Bài viết làm rõ một số kết quả đạt được cũng như hạn chế còn tồn tại trong công tác sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị của tỉnh Quảng Ninh; từ đó, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này thời gian tới.
Đổi mới tư duy của Nhà nước trong kỷ nguyên số: Từ quản lý sang quản trị, kiến tạo phát triển
Đổi mới tư duy của Nhà nước trong kỷ nguyên số: Từ quản lý sang quản trị, kiến tạo phát triển
Trong kỷ nguyên số, công nghệ, dữ liệu và các nền tảng số đang định hình không gian vận hành của quyền lực công, đặt ra yêu cầu chuyển dịch tư duy quản trị nhà nước theo hướng hiện đại và kiến tạo phát triển. Từ góc độ chính trị học, bài viết phân tích đổi mới tư duy của Nhà nước như một quá trình tái cấu trúc tư duy quyền lực nhằm thích ứng với môi trường số phi tập trung, xuyên biên giới và biến đổi nhanh chóng, làm rõ sự khác biệt về bản chất quyền lực giữa ba cách tiếp cận: (i) tư duy quản lý; (ii) tư duy quản trị và (iii) tư duy kiến tạo phát triển. Trên cơ sở đó, bài viết luận giải vì sao tư duy quản lý truyền thống không còn phù hợp trong kỷ nguyên số, đồng thời khẳng định, quản trị và kiến tạo phát triển là lựa chọn tất yếu để củng cố tính chính danh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc trong không gian số. Bài viết cũng gợi mở định hướng tiếp cận phương thức quản trị nhà nước phù hợp cho Việt Nam trong kỷ nguyên số dựa trên tham khảo kinh nghiệm tư duy quản trị hiện đại của một số quốc gia trên thế giới.
llcttt1994dientu@gmail.com
024.38348033
Bình luận