Phát huy vai trò của nhân dân trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng
1. Trong công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Kết quả đó tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để đất nước tiếp tục đổi mới và phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn tiếp theo. Tuy nhiên, công cuộc đổi mới đất nước nói chung và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói riêng vẫn đang phải đối diện với nhiều khó khăn, thách thức từ mặt trái của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế; tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp và sự chống phá ngày càng quyết liệt, tinh vi của các thế lực thù địch.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII nhấn mạnh: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ tính chất, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói chưa đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật”(1). Những tiêu cực đó được Đảng ta xác định là “nguy hiểm khôn lường ... làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”(2).
Để xứng đáng với vai trò lãnh đạo, Đảng vừa phải tự mình xây dựng, thường xuyên chỉnh đốn, đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo; vừa phải dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, coi “đây là nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta”(3). Đại hội XIII của Đảng xác định: “Phát huy vai trò, sự tham gia của nhân dân trong xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng”(4).
2. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân; lực lượng của nhân dân là vô cùng to lớn; sức mạnh của nhân dân là vô địch; nhân dân chính là người sáng tạo ra lịch sử. C.Mác viết: “Chủ quyền của nhân dân không phải là cái phát sinh từ chủ quyền của nhà vua, mà ngược lại, chủ quyền của nhà vua dựa trên chủ quyền của nhân dân”(5); “không phải chế độ nhà nước tạo ra nhân dân mà nhân dân tạo ra chế độ nhà nước”(6). V.I.Lênin cho rằng: “Chủ nghĩa xã hội không phải là kết quả của những sắc lệnh từ trên ban xuống...; chủ nghĩa xã hội sinh động, sáng tạo là sự nghiệp của bản thân quần chúng nhân dân”(7).
Người đã cảnh báo những người cộng sản rằng: “một trong những nguy hiểm lớn nhất và đáng sợ nhất là tự cắt đứt liên hệ với quần chúng”(8); “đội tiên phong chỉ làm tròn được sứ mệnh của nó khi nó biết gắn bó với quần chúng mà nó lãnh đạo và thực sự dẫn dắt quần chúng tiến lên. Nếu không liên minh với những người không phải là đảng viên cộng sản trong các lĩnh vực hoạt động hết sức khác nhau, thì không thể nói tới một thành công nào trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa cộng sản cả”(9).
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào. Thành công của Đảng ta là ở nơi Đảng ta đã tổ chức và phát huy lực lượng cách mạng vô tận của nhân dân”(10). Đặc biệt, trong công tác xây dựng Đảng, Người khẳng định: “Xây dựng về tư tưởng, về chính trị, về tổ chức, đó là đường lối xây dựng Đảng. Đó không những là công việc của Đảng và của đảng viên mà cũng là của toàn dân... Đảng viên thì phải dựa vào nhân dân mà xây dựng Đảng”(11). Nhân dân là người thực hiện đường lối của Đảng, đồng thời là tai mắt của Đảng, mọi việc làm của Đảng, của cán bộ, đảng viên đều được nhân dân cảm nhận, đánh giá. Vì vậy, việc phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng là yêu cầu tất yếu khách quan, là vấn đề đặc biệt quan trọng.
Muốn Đảng thật sự là người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân, công tác xây dựng Đảng không chỉ thuần túy là công việc riêng của Đảng, mà phải trở thành công việc của toàn dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Nhân dân giúp xây dựng Đảng bằng cách: hiểu rõ Đảng, ủng hộ Đảng, hưởng ứng những lời kêu gọi của Đảng, ra sức cho Đảng rõ tình hình trong nhân dân, đối với công tác của Đảng thì thật thà phê bình và nêu ý kiến của mình”(12).
Quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của nhân dân, Đảng ta khẳng định: “sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng..., không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đó là truyền thống quý báu và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta”(13).
3. Trong công cuộc đổi mới, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp để phát huy vai trò nhân dân tham gia xây dựng Đảng. Thông qua Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) và các tổ chức chính trị - xã hội, các tầng lớp nhân dân đã tích cực tham gia xây dựng Đảng. MTTQ ở các cấp đã tổ chức nhiều cuộc thảo luận, tọa đàm lấy ý kiến các tầng lớp nhân dân để đóng góp những vấn đề liên quan đến các giai tầng trong xã hội; về phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; về phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nền văn hóa, xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; v.v..
Những ý kiến đóng góp hợp lý, xác đáng của nhân dân đã được các cấp ủy đảng tiếp thu tối đa, góp phần bổ sung, hoàn thiện đường lối, chủ trương của Đảng. MTTQ các cấp đã chủ động tham gia cùng với các cấp ủy, tổ chức đảng trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, như: triển khai thực hiện chủ trương, chính sách về đại đoàn kết toàn dân tộc, cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư; thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, cuộc vận động Vì người nghèo, cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam và những chủ trương, chính sách liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, tự quản, giữ gìn an ninh, trật tự và bảo vệ môi trường...
MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội ở các cấp đã tổ chức nhiều hình thức sinh động để đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành việc làm thường xuyên trong đoàn viên, hội viên, các tầng lớp nhân dân; tích cực vận động nhân dân tham gia đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; đấu tranh phòng, chống những biểu hiện suy thoái “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên.
Bên cạnh đó, MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội và các tầng lớp nhân dân đã rất tích cực trong giám sát việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ, đạo đức, lối sống của cán bộ, công chức, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên ở cơ sở. Nhiều ý kiến, kiến nghị của nhân dân về xử lý cán bộ, đảng viên tham nhũng đã được cơ quan có thẩm quyền ở địa phương, Trung ương xem xét xử lý, giúp cán bộ, đảng viên có ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, tác phong, quan hệ cộng đồng và nâng cao trách nhiệm công vụ, tích cực tham gia các hoạt động ở cơ quan, đơn vị, địa phương. MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp đã phối hợp với cấp ủy đảng, cơ quan chính quyền tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng cho nhân dân, đoàn viên, hội viên.
Qua đó, người dân tham gia ngày càng tích cực vào công tác giám sát việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định của cấp ủy, chính quyền địa phương, góp phần quan trọng trong việc phòng ngừa, phát hiện tiêu cực, tham nhũng; đã phát hiện, tố giác nhiều vụ tham nhũng, tiêu cực, cung cấp nhiều thông tin quan trọng cho các cơ quan chức năng và báo chí để phanh phui, điều tra, xử lý các vụ án tham nhũng, góp phần làm trong sạch bộ máy Đảng, Nhà nước. Đảng ta khẳng định: “nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội đặc biệt quan tâm đã được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật, có tác dụng cảnh báo, răn đe, siết chặt kỷ luật, kỷ cương”(14).
Nhiều người dân đã dũng cảm, thẳng thắn phê bình, nêu ý kiến, cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ cho các cơ quan có trách nhiệm để giải quyết vụ việc tiêu cực kịp thời, hiệu quả. Ở các tỉnh như Tây Ninh, Đồng Tháp, Ninh Bình, Bình Thuận, thành phố Hà Nội... đã thực hiện đặt hòm thư góp ý xây dựng Đảng tại trụ sở làm việc của cơ quan MTTQ, trụ sở của các tổ chức đảng các cấp để nhân dân, cán bộ, đảng viên tham gia góp ý. Ngoài ra, một số địa phương đã lập điện thoại “đường dây nóng”, hộp thư điện tử của tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, tổ chức phòng tiếp công dân... để kịp thời tiếp nhận ý kiến của nhân dân về thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; về ý thức, thái độ, trách nhiệm, thực thi công vụ của cán bộ, đảng viên.
Thực hiện Quy định số 217-QĐ/TW ngày 12.12.2013 của Bộ Chính trị, các hoạt động giám sát, phản biện xã hội của nhân dân thông qua MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội ngày càng có chuyển biến tích cực. MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp đã bám sát chương trình, kế hoạch của cấp ủy, chính quyền các cấp và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng, chính quyền của địa phương, những vấn đề xã hội mà nhân dân quan tâm, bức xúc để giám sát, phản biện xã hội hằng năm. Việc góp ý thường xuyên, định kỳ, đột xuất được quan tâm hơn; gắn giám sát, phản biện xã hội với lắng nghe ý kiến nhân dân, vận động nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật, tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động.
Nhiều kiến nghị sau giám sát, phản biện xã hội ở một số địa phương có chất lượng tốt, được các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tiếp thu, phản hồi, đem lại hiệu quả thiết thực, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân, tổ chức, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, hạn chế vi phạm pháp luật. Các hoạt động giám sát, phản biện xã hội, tham gia góp ý xây dựng Đảng, chính quyền của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội đã giúp các cơ quan có thẩm quyền hoạch định, thực thi có hiệu quả hơn các chính sách, pháp luật, góp phần quan trọng trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, ổn định tình hình nhân dân, thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương và cả nước.
Trong năm năm qua, Ủy ban MTTQ các cấp đã chủ trì phối hợp giám sát được 492.784 cuộc, trong đó cấp tỉnh 4.093 cuộc; cấp huyện 22.679 cuộc; cấp xã 466.679 cuộc; phản biện xã hội 82.865 cuộc, trong đó cấp tỉnh 4.048 cuộc, cấp huyện 15.064 cuộc và cấp xa 63.753 cuộc(15). Nội dung giám sát, phản biện xã hội tập trung vào những việc thiết thực, liên quan đến đời sống của người dân, như: thực hiện chính sách, chế độ bồi thường, giải phóng mặt bằng; bố trí tái định cư và tạm cư cho người dân có nhà, đất bị thu hồi; thực hiện các quy định về an toàn thực phẩm, an toàn giao thông; về công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân v.v..
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tích cực phối hợp tổ chức các cuộc đối thoại trực tiếp với người đứng đầu cấp ủy, cơ quan chính quyền; nhiều ý kiến được giải quyết ngay tại các hội nghị đối thoại, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước; người dân hiểu và chấp hành pháp luật tốt hơn, tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Đến nay đã có 47/63 tỉnh, thành phố ban hành quy chế tiếp xúc, đối thoại trực tiếp của người đứng đầu cấp ủy, cơ quan chính quyền các cấp với nhân dân. Ngoài việc lấy ý kiến đóng góp trực tiếp tại các hội nghị, Ủy ban MTTQ ở các cấp đã tiếp nhận các ý kiến đóng góp bằng văn bản của người dân vào dự thảo báo cáo chính trị đại hội đảng các cấp và các nghị quyết của cấp ủy.
Bên cạnh những kết quả tích, việc phát huy vai trò, trách nhiệm của nhân dân trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Trong nội bộ không ít cấp ủy, tổ chức đảng có những vụ việc được nhân dân nêu lên nhưng chưa được ngăn chặn, xử lý kịp thời hoặc giải quyết không hợp lý, thậm chí còn có hiện tượng bao che. Cũng có nơi, việc giám sát, góp ý kiến của nhân dân thông qua MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội còn mặt hình thức, hiệu quả không cao, như có đặt hòm thư góp ý ở cơ quan, đơn vị, nhưng nhận được rất ít hoặc không nhận được ý kiến đóng góp, kiến nghị của nhân dân. Cũng không ít cấp ủy, tổ chức đảng thuộc khối các cơ quan, đơn vị, việc tổ chức để cán bộ, công chức, viên chức tham gia góp ý kiến cho cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên còn mang tính hình thức, nhận xét góp ý chung chung hoặc chỉ một chiều ca ngợi vì ngại va chạm.
Việc tiếp nhận, xử lý ý kiến, kiến nghị của nhân dân ở một số cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chính quyền chưa nghiêm túc, dẫn đến xảy ra khiếu kiện đông người, vượt cấp và kéo dài, nhất là trong lĩnh vực quản lý đất đai, đền bù giải phóng mặt bằng, thu hồi, sử dụng đất. Bên cạnh đó, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội chưa làm tốt vai trò là chỗ dựa để nhân dân thực hiện phê bình, góp ý và giám sát cán bộ, đảng viên hoặc chưa tuyên truyền, giải thích, đấu tranh để những người khiếu kiện, viết đơn thư tố cáo chưa đúng hiểu rõ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình theo quy định của pháp luật. Những hạn chế này đã được Đảng ta chỉ ra: “Vai trò giám sát của nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội chưa được phát huy, hiệu quả chưa cao”(16); “vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân ở một số nơi chưa thường xuyên, hiệu quả còn thấp, nhất là giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên”(17).
4. Trong thời gian tới, để phát huy tốt vai trò của nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng cần tiến hành đồng bộ một số giải pháp sau:
Một là, các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chính quyền, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội phải làm tốt công tác tư tưởng để nhân dân hiểu rõ mục đích, ý nghĩa của nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.
Một trong những bài học kinh nghiệm của 35 năm đổi mới là: “trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân hưởng thụ”(18). Do đó, cần quát triệt sâu sắc quan điểm: “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân”(19), “tổ chức thực hiện tốt Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền”(20). Thực hiện tốt phương châm “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”, “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”; phát huy dân chủ gắn với kỷ cương, kỷ luật, xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật những vụ tiêu cực, sai phạm của cán bộ, đảng viên.
Hai là, thực hành dân chủ rộng rãi, bảo đảm dân chủ từ trong Đảng đến dân chủ xã hội được thực hiện tốt ở các cấp, các địa bàn, các lĩnh vực.
Đảng, Nhà nước cần đổi mới cơ chế và quy trình ra quyết định lãnh đạo, quản lý theo hướng phát huy dân chủ, phát huy vai trò của nhân dân trong việc tham gia xây dựng chủ trương, chính sách, bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình ra các quyết định liên quan đến quyền và lợi ích thiết thân của nhân dân, từ việc nêu sáng kiến đến tham gia góp ý, thảo luận, tranh luận, phản biện đến việc giám sát quá trình thực hiện, bảo đảm nguyên tắc: mọi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đều phải vì lợi ích của nhân dân. Đẩy mạnh thực hiện các định chế phát huy dân chủ hiện có như: Quy chế dân chủ ở cơ sở; Quy chế giám sát và phản biện xã hội của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội; Quy định về việc MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; v.v.. Đồng thời, cần tập trung nghiên cứu, xây dựng để sớm ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung pháp luật liên quan trực tiếp đến quyền làm chủ của nhân dân, thực hành dân chủ ở cơ sở, về tổ chức và hoạt động hội, đình công.
Ba là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo để MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân phát huy vai trò giám sát các tổ chức đảng, cơ quan chính quyền, cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên giữ các chức vụ lãnh đạo, quản lý ở các cấp.
Hoạt động giám sát góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền cần tập trung vào quá trình xây dựng nghị quyết, chủ trương của Đảng, việc ban hành các quyết định quản lý và các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, chính quyền các cấp, bảo đảm các chủ trương, quyết sách thật sự gắn với thực tiễn, hợp với lòng dân, tạo sự đồng thuận xã hội, sự ủng hộ của người dân.
Cần thực hiện nghiêm túc chế độ cung cấp thông tin cho nhân dân và trách nhiệm tiếp thu, trách nhiệm giải trình của cá nhân, tổ chức trước nhân dân. Cán bộ, đảng viên phải thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương trong giải quyết yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, đồng thời “phê phán, xử lý nghiêm minh những cán bộ, công chức, viên chức thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, nhũng nhiễu dân”(21).
Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội theo hướng phát huy dân chủ, tôn trọng nguyên tắc hiệp thương dân chủ trong tổ chức và hoạt động của MTTQ Việt Nam, bảo đảm để MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội gần dân, sát dân, thật sự là cầu nối giữa Đảng với nhân dân.
Bốn là, tập trung “xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự “tôn trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”(22).
Chú trọng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ phẩm chất và năng lực, thật sự tiên phong, gương mẫu, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân; có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng, ý thức tổ chức kỷ luật cao. Kiên quyết làm trong sạch đội ngũ của Đảng, khắc phục các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; xử lý nghiêm minh, thích đáng những hiện tượng trù dập, ức hiếp quần chúng, tham nhũng, tiêu cực. Cần tiếp tục cụ thể hóa quan điểm Đảng phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về các quyết định của mình. Giải quyết kịp thời, có hiệu quả những bức xúc, những kiến nghị chính đáng của nhân dân.
Năm là, cụ thể hóa cơ chế “Đảng vừa là thành viên, vừa là người lãnh đạo của MTTQ Việt Nam”.
Trong vai trò là tổ chức thành viên của MTTQ, cấp ủy, tổ chức đảng cần thực hiện tính gương mẫu, đi đầu trong việc xây dựng, triển khai có hiệu quả nhiệm vụ của cấp ủy, tổ chức đảng trước các tổ chức thành viên của MTTQ cùng cấp; cử đúng thành phần đại diện lãnh đạo cấp ủy tham gia ủy ban MTTQ cùng cấp như các tổ chức thành viên khác; cử cấp ủy viên có đủ đức và tài để hiệp thương làm người đứng đầu của ủy ban MTTQ cùng cấp; kịp thời thông tin, báo cáo kết quả hoạt động của cấp ủy trong việc thực hiện nghị quyết và chương trình phối hợp, thống nhất hành động của ủy ban MTTQ cùng cấp; thực hiện sự bình đẳng, tôn trọng các ý kiến thảo luận, bàn bạc của các thành viên trong quá trình hiệp thương dân chủ để đi đến thống nhất chương trình hành động hoặc các hoạt động khác của ủy ban MTTQ cùng cấp, không áp đặt ý kiến trong sinh hoạt của ủy ban MTTQ cùng cấp khi thực hiện vai trò thành viên. Các cấp ủy đảng cần làm tốt hơn nữa vai trò lãnh đạo của Đảng đối với MTTQ, đặc biệt là chủ trì điều hòa các mối quan hệ phối hợp giữa MTTQ với chính quyền theo quy định của pháp luật, chỗ nào chưa đúng với yêu cầu, nhiệm vụ thì kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo việc sửa đổi, bổ sung cho phù hợp./.
_________________________________________
(1), (3) ĐCSVN (2021): Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.89,91.
(2) ĐCSVN (2016): Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, tr.23.
(4), (18), (19), (21) ĐCSVN (2021): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, T.I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.191, 96, 96-97, 192.
(5), (6) C.Mác và Ph.Ăngghen (2002): Toàn tập, T.1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.347, 350.
(7) V.I.Lênin (2006): Toàn tập, T.35, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.64.
(8) V.I.Lênin (2006): Toàn tập, T.44, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.426.
(9) V.I.Lênin (2006): Toàn tập, T.45, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.28-29.
(10) Hồ Chí Minh (2021): Toàn tập, T.12, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.672
(11), (12) Hồ Chí Minh (2021): Toàn tập, T.18, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.280-281, 280-281.
(13) ĐCSVN (2011): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.65-66.
(14), (17), (22) ĐCSVN (2021): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, T.II, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.209, 206, 248.
(15) Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2020): Chuyên đề bồi dưỡng cán bộ cấp Vụ, T.2, Hà Nội, tr.73.
(16) ĐCSVN (2012): Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.25.
(20) ĐCSVN (2016): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, tr.170.
Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị điện tử ngày 12.5.2022
Bài liên quan
- Thời cơ và thách thức đối với chính quyền cấp xã sau sáp nhập chính quyền địa phương hai cấp tỉnh Tuyên Quang hiện nay
- Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra của Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy phường Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội
- Công tác sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay: Thực trạng và giải pháp
- Đổi mới tư duy của Nhà nước trong kỷ nguyên số: Từ quản lý sang quản trị, kiến tạo phát triển
- Tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Long trong công tác bình đẳng giới hiện nay
Xem nhiều
-
1
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong truyền hình Việt Nam
-
2
Đổi mới tư duy của Nhà nước trong kỷ nguyên số: Từ quản lý sang quản trị, kiến tạo phát triển
-
3
Giá trị biểu tượng của con ngựa trong văn hóa Việt Nam và ý nghĩa đối với sự phát triển văn hóa đất nước trong kỷ nguyên vươn mình
-
4
Đổi mới sáng tạo thu hẹp khoảng cách giáo dục vùng sâu, vùng xa Việt Nam trong kỷ nguyên mới
-
5
Tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Long trong công tác bình đẳng giới hiện nay
-
6
Công tác sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay: Thực trạng và giải pháp
Liên kết
- Báo điện tử đảng cộng sản việt nam
- Báo nhân dân
- Báo Quân đội nhân dân
- Cổng thông tin điện tử Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia hồ chí minh
- Tạp chí Cộng sản
- Tạp chí Giáo dục lý luận
- Tạp chí Giáo dục và Xã hội
- Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
- Tạp chí Lý luận chính trị
- Tạp chí Nghiên cứu con người
- TẠP CHÍ Nghiên cứu dân tộc
- Tạp chí Người làm báo
- Tạp chí Nội chính
- Tạp chí Quản lý Nhà nước
- Tạp chí Tổ chức Nhà nước
- Tạp chí Tuyên giáo
- Tạp chí Xây Dựng Đảng
- Thư viện số Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Trang thông tin điện tử Hội đồng Lý luận Trung ương
Vai trò của đoàn kết dân tộc trong xây dựng, bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Đoàn kết dân tộc giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc củng cố nền tảng chính trị - xã hội, tạo sự đồng thuận cho quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thông qua việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết, giúp tăng cường niềm tin của Nhân dân, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Đoàn kết dân tộc cũng góp phần bảo vệ vững chắc an ninh, ổn định xã hội trong bối cảnh mới. Bài viết phân tích vai trò và đề xuất giải pháp phát huy vai trò đoàn kết dân tộc trong xây dựng, bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Thời cơ và thách thức đối với chính quyền cấp xã sau sáp nhập chính quyền địa phương hai cấp tỉnh Tuyên Quang hiện nay
Thời cơ và thách thức đối với chính quyền cấp xã sau sáp nhập chính quyền địa phương hai cấp tỉnh Tuyên Quang hiện nay
Sáp nhập chính quyền địa phương hai cấp gắn liền với chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính là một trong những chủ trương lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Bên cạnh những thuận lợi, việc sáp nhập chính quyền hai cấp cũng đặt ra nhiều thách thức đối với chính quyền cấp xã tại tỉnh Tuyên Quang. Trên cơ sở khái quát về chính quyền địa phương ở Việt Nam, bài viết làm rõ thời cơ và thách thức đối với chính quyền cấp xã tại tỉnh Tuyên Quang khi thực hiện chính quyền địa phương hai cấp hiện nay.
Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra của Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy phường Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội
Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra của Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy phường Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội
Công tác kiểm tra có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giữ vững kỷ cương, nâng cao năng lực lãnh đạo, phòng ngừa sai phạm, củng cố niềm tin nhân dân. Qua đó góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị ở cơ sở, phù hợp với tình hình thực tiễn và yêu cầu đổi mới công tác xây dựng Đảng hiện nay. Bài viết làm rõ thực trạng chất lượng công tác kiểm tra của Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy phường Hoàn Kiếm, chỉ rõ một số hạn chế, tồn tại; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác này thời gian tới.
Công tác sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay: Thực trạng và giải pháp
Công tác sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay: Thực trạng và giải pháp
Công tác sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị có vai trò quan trọng góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, bảo đảm quản lý thống nhất, tinh gọn bộ máy, phục vụ tốt hơn người dân và sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và tỉnh Quảng Ninh nói riêng. Bài viết làm rõ một số kết quả đạt được cũng như hạn chế còn tồn tại trong công tác sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị của tỉnh Quảng Ninh; từ đó, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này thời gian tới.
Đổi mới tư duy của Nhà nước trong kỷ nguyên số: Từ quản lý sang quản trị, kiến tạo phát triển
Đổi mới tư duy của Nhà nước trong kỷ nguyên số: Từ quản lý sang quản trị, kiến tạo phát triển
Trong kỷ nguyên số, công nghệ, dữ liệu và các nền tảng số đang định hình không gian vận hành của quyền lực công, đặt ra yêu cầu chuyển dịch tư duy quản trị nhà nước theo hướng hiện đại và kiến tạo phát triển. Từ góc độ chính trị học, bài viết phân tích đổi mới tư duy của Nhà nước như một quá trình tái cấu trúc tư duy quyền lực nhằm thích ứng với môi trường số phi tập trung, xuyên biên giới và biến đổi nhanh chóng, làm rõ sự khác biệt về bản chất quyền lực giữa ba cách tiếp cận: (i) tư duy quản lý; (ii) tư duy quản trị và (iii) tư duy kiến tạo phát triển. Trên cơ sở đó, bài viết luận giải vì sao tư duy quản lý truyền thống không còn phù hợp trong kỷ nguyên số, đồng thời khẳng định, quản trị và kiến tạo phát triển là lựa chọn tất yếu để củng cố tính chính danh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc trong không gian số. Bài viết cũng gợi mở định hướng tiếp cận phương thức quản trị nhà nước phù hợp cho Việt Nam trong kỷ nguyên số dựa trên tham khảo kinh nghiệm tư duy quản trị hiện đại của một số quốc gia trên thế giới.
llcttt1994dientu@gmail.com
024.38348033
Bình luận