Quản lý truyền thông trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0
1. Cơ hội và thách thức từ cách mạng công nghiệp 4.0
Sự phát triển mạnh mẽ chưa từng thấy của khoa học và công nghệ trong thời gian gần đây đã đưa nhân loại bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0). Cụm từ “Cách mạng công nghiệp 4.0” trở thành cụm từ được nhắc đến rộng khắp với tần suất rất cao không chỉ trong các văn kiện, nghị quyết, báo cáo, bài phát biểu, bài báo mà còn trong rất nhiều các cuộc thảo luận, hội nghị, hội thảo, trên giảng đường hay kể cả trên mạng xã hội. Đây không chỉ là chủ để thu hút sự quan tâm của nhà nghiên cứu trong giới học thuật, chuyên môn mà còn là chủ đề được cho là có tính thời sự, thậm chí là thời thượng, đối với đông đảo công chúng trên toàn thế giới.
Sự chú ý đặc biệt đối với cuộc cách mạng này một phần do sự khác biệt so với ba cuộc cách mạng trước (được gọi là Cách mạng công nghiệp 1.0, 2.0 và 3.0), do tốc độ phát triển theo “cấp số nhân”(1[1]), do những tác động được dự báo là có thể ảnh hưởng sâu rộng đến mọi mặt đời sống, và đặc biệt do đây là cuộc cách mạng chưa có tiền lệ, “xét về phạm vi, mức độ và tính phức tạp, sự dịch chuyển này không giống với bất kỳ điều gì mà con người từng trải qua”([1]2).
Năm 2016, tại Diễn đàn kinh tế thế giới lần thứ 46, với chủ đề “Làm chủ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, ông Klaus Schwab - nhà sáng lập, Chủ tịch Diễn đàn kinh tế thế giới đã đưa ra định nghĩa như sau: “Cách mạng công nghiệp lần đầu tiên sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ giới hóa sản xuất. Cuộc Cách mạng lần 2 diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt. Cách mạng lần 3 sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất. Bây giờ, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang nảy nở từ cuộc Cách mạng lần 3, nó kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học”.
Tiếp sau những thành tựu lớn từ CMCN lần thứ ba để lại, cuộc cách mạng này được hình thành trên nền tảng của cuộc cách mạng số, với những đột phá về công nghệ mới như in 3D, robot, trí tuệ nhân tạo (AI - Artificial Intelligence), internet kết nối vạn vật (IoT - Internet of Things), điện toán đám mây (Cloud Computing), dữ liệu lớn (Big Data), sinh học, vật liệu mới...(3[1]).
Cuộc CMCN 4.0 đang tạo ra những tác động sâu sắc và to lớn trên nhiều lĩnh vực không chỉ kinh tế, xã hội và môi trường mà còn lên cả “lối sống, phong cách làm việc và cách thức giao tiếp”(4[1]) của người dân, lên cả “chính phủ các nước, lên an ninh, chính trị và toàn vẹn lãnh thổ của nhiều quốc gia, nhiều vực trên thế giới; đến địa vị của các nước, các quốc gia, các vùng lãnh thổ, các doanh nghiệp,...”([1]5).
Một mặt, các tác động này tạo ra những cơ hội mang tính tích cực, là bước ngoặt cho các quốc gia đặc biệt là đối với quốc gia đang phát triển như Việt Nam, tiến đến để theo kịp với xu hướng phát triển của thế giới. Mặt khác, các tác động này cũng đặt ra không ít thách thức, đòi hỏi các quốc gia phải tiến hành đổi mới và hội nhập mạnh mẽ hơn với thế giới để không bị tụt hậu khỏi xu thế của thời đại.
Về cơ hội, CMCN 4.0 thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn cầu, góp phần cải thiện đáng kể năng lực sản xuất, giảm thiểu chi phí vận chuyển và thông tin liên lạc, giảm nguy cơ lạm phát toàn cầu, tối ưu hóa chuỗi cung ứng toàn cầu, đa dạng hóa thị trường và các kênh giao thương. Cuộc CMCN 4.0 đang tạo ra những tác động hết sức tích cực và bền vững đến môi trường thông qua sự thúc đẩy của công nghệ tiết kiệm năng lượng, nguyên vật liệu và công nghệ thân thiện với môi trường. Các công nghệ giám sát môi trường cũng đang phát triển nhanh do nhận được sự hỗ trợ từ Internet kết nối vạn vật và dữ liệu lớn, giúp thu thập và xử lý thông tin liên tục 24/7 theo thời gian thực. CMCN 4.0 tạo động lực nâng cao chất lượng cuộc sống với việc mở rộng mạng lưới kết nối, tiếp cận các dịch vụ tiện ích cá nhân (đặt vé qua mạng, mua hàng trực tuyến, giải trí đa phương tiện,...) và truy xuất thông tin không giới hạn. Những đột phá của cuộc CMCN 4.0 đang tạo ra một thế giới công nghệ số thông minh, tiết kiệm và hiệu quả hơn, giúp cho mọi hoạt động học tập, trao đổi, lao động và sinh hoạt hàng ngày của con người trở nên đơn giản và dễ dàng hơn rất nhiều.
Về thách thức, CMCN 4.0 đang tạo ra những thách thức rất lớn trên phạm vi toàn cầu trên mọi mặt của đời sống xã hội. Những thách thức có thể kể đến như: nguy cơ gia tăng khoảng cách giàu nghèo, vấn đề việc làm, vấn đề xung đột và an ninh quốc gia...
Trong lĩnh vực kinh tế, những thách thức liên quan đến việc điều chỉnh chi phí do tác động không đồng đều đến các ngành khác nhau có thể thúc đẩy sự tăng trưởng nhanh và mạnh mẽ của nhiều doanh nghiệp tạo ra công nghệ mới, nhưng cũng có thể chứng kiến sự thu hẹp, kể cả đào thải của các doanh nghiệp lạc nhịp về công nghệ([1]6).
Tại Việt Nam, để có thể áp dụng công nghệ mới vào dây chuyền sản xuất, các công ty, tập đoàn cần phải có một nguồn lực kinh tế vững chãi. Đó là lý do tại sao chủ yếu những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mới có khả năng sử dụng robot tự động để phục vụ cho việc sản xuất, và không ít doanh nghiệp vừa và nhỏ phải đóng cửa vì không đủ khả năng cạnh tranh.
Thực trạng này không chỉ xảy ra ở Việt Nam mà trên thế giới, tác động của CMCN 4.0 đã tạo ra những thay đổi lớn đối với nền kinh tế toàn cầu. Nhiều quốc gia phát triển song chủ yếu dựa vào tài nguyên như Na Uy, Úc, Ả Rập,... đang phải trải qua một quá trình đầy khó khăn trong việc tái cơ cấu nền kinh tế. Trong khi đó, nước Mỹ - quốc gia tiên phong về công nghệ đang muốn khôi phục vị thế hàng đầu của mình trên bản đồ kinh tế thế giới. Theo sau là các quốc gia châu Âu tích cực thay đổi trong bối cảnh CMCN 4.0 như Đức, Anh,... Các nước châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc đang tham gia mạnh mẽ vào quá trình này, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp chế tạo. Đối với các doanh nghiệp, những tập đoàn từng thống lĩnh thị trường trong một thời gian dài đang bị các doanh nghiệp khởi nghiệp trẻ vượt mặt. Ví dụ như IBM, Microsoft,... đang để mất vị thế của mình trước các công ty như Google, Facebook...
Đối với xã hội, CMCN 4.0 đang tạo ra nguy cơ gia tăng khoảng cách giàu nghèo, sự phân cấp sâu sắc giữa lao động trình độ cao (lương cao) với lao động trình độ thấp. Vấn đề việc làmđang là điều đáng quan ngại nhất hiện nay trong cuộc CMCN 4.0. Với việc sử dụng người máy và các công nghệ tự động hóa, quá trình sản xuất trở nên hiệu quả và nhanh chóng hơn rất nhiều. Điều này khiến cho hàng nghìn người lao động, đặc biệt là nhóm lao động giản đơn đối mặt với tình trạng thất nghiệp.
2. Tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0 tới công tác quản lý truyền thông
Trong lĩnh vực truyền thông, CMCN 4.0 tác động đến công tác quản lý và thực thi các hoạt động truyền thông ở cả chiều rộng lẫn chiều sâu, từ các cơ quan quản lý, cơ quan chức năng của Đảng, Nhà nước tới các doanh nghiệp, tổ chức, từ cấp lãnh đạo, quản lý đến các cấp thực thi trên rất nhiều lĩnh vực khác nhau.
Công nghệ và thiết bị tiên tiến trong CMCN 4.0 sẽ ngày càng cho phép người dân tiếp cận gần hơn với Chính phủ và các cơ quan chức năng để nêu ý kiến và cùng phối hợp hoạt động. Mặt khác, Chính phủ và các cơ quan chức năng cũng ngày càng phải đối mặt với sự tham gia của công chúng vào quy trình đưa ra quyết định khi vai trò trung tâm của họ trong việc thực thi chính sách suy giảm trước sự xuất hiện của các nguồn cạnh tranh mới, sự phân phối lại và phân bổ quyền lực dưới sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ. Chính phủ và các cơ quan chức năng phải đối mặt với trách nhiệm giải trình trước công chúng trong việc ra quyết sách, cũng như đảm bảo luồng thông tin chính thống có thể đến đúng lúc và tạo ra những ảnh hưởng tích cực, hạn chế các xung đột, mâu thuẫn, góp phần đảm bảo an ninh xã hội(7[1]).
Cuộc CMCN 4.0 gây ra ảnh hưởng mạnh mẽ đến tất cả các yếu tố của chu trình truyền thông, bao gồm chủ thể truyền thông, nội dung thông điệp, kênh truyền thông và đối tượng tiếp nhận và đến toàn bộ quá trình quản lý truyền thông:
Thứ nhất, các phương tiện truyền thông truyền thống đang đối mặt với cuộc chiến sinh tồn. Xu hướng hội tụ truyền thông buộc lãnh đạo phải thay đổi cách thức quản lý, vận hành và tổ chức quy trình làm báo tại tòa soạn, cơ quan báo chí hay tổ chức truyền thông theo hướng đồng bộ, tinh gọn và hiệu quả. Những người làm truyền thông cũng cần nắm bắt những xu hướng mới trong quá trình tác nghiệp. Cách mạng công nghệ số cũng đòi hỏi các phóng viên, nhà báo, các chuyên gia trong lĩnh vực truyền thông phải có các kỹ năng tổng hợp (biết viết, biết quay phim, chụp ảnh hay biết cả đồ họa, dựng hình và lập trình). Sự phát triển của mạng xã hội cũng đòi hỏi những người làm báo và truyền thông phải có sự linh hoạt và nhạy bén để phân tích và xử lý dữ liệu, thông tin một cách nhanh chóng và chính xác đồng thời phải có kỹ năng chọn lọc và tìm ra được các góc độ tiếp cận mang tính thời sự thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội.
Thứ hai, các công nghệ được sử dụng trong truyền thông không ngừng biến đổi dẫn đến sự thay đổi trong hành vi tiếp nhận các sản phẩm truyền thông của công chúng. Khác với việc tiếp nhận thông tin thụ động như trước đây, hiện nay công chúng không chỉ chủ động lựa chọn thông tin, quyết định thông tin mình muốn tiếp nhận mà còn chủ động tham gia vào quá trình truyền thông và góp phần tạo nên thông điệp cho quá trình truyền thông đó.
Đặc biệt, trong thời đại CMCN 4.0, truyền thông mang đậm dấu ấn của mạng xã hội đã tạo ra thế hệ công chúng 4.0. Mạng xã hội với đặc điểm kết nối và giao lưu giữa người dùng, nên nhanh chóng trở thành “quốc gia” đông dân cư nhất. Theo thống kê của Cục dân số thế giới vào tháng 4-2017 thì dân số toàn cầu đạt 7,5 tỷ người. Như vậy tính trung bình cứ 4 người thì lại có 1 người dùng Facebook. Với sự phát triển, xâm lấn mạnh mẽ của mạng xã hội, đã thay đổi cách chúng ta giao tiếp và cách làm truyền thông với công chúng trong kỷ nguyên số. Mạng xã hội thúc đẩy tạo ra một xã hội thông tin ở đó mỗi công chúng hay khách hàng trở thành một kênh thông tin mang thương hiệu cá nhân. Mỗi công chúng thế hệ 4.0 giờ đây đều có thể trở thành kênh truyền thông. Nguồn phát thông tin không chỉ độc quyền từ phía thương hiệu hay báo chí, mà mỗi cá nhân đều có thể trở thành nguồn cung cấp. Công chúng đã vượt ra khỏi phạm vi bị động trong chu trình chiến dịch truyền thông mà trở thành người làm chủ, và có sức ảnh hưởng mạnh mẽ. Vì vậy, những mô hình chiến dịch truyền thông phải thay đổi, hình thức và nội dung thông điệp trong các chiến dịch cũng phải biến đổi để phù hợp với cách vận hành trên mạng xã hội.
Thứ ba, cùng với sự phát triển của các nền tảng truyền thông, công tác chỉ đạo, quản lý truyền thông đang gặp không ít khó khăn. Sự bùng nổ của mạng xã hội như Facebook, Youtube,... khiến cho các cơ quan chức năng khó lòng kiểm soát thông tin. Công tác quản lý truyền thông phải đối mặt với các vấn đề quản lý thông tin trên một không gian “mở” nhưng “ảo”, những vấn đề về an ninh truyền thông, hacker tin tặc, các loại tội phạm thông tin đặc biệt nguy hiểm. Do vậy, việc đưa ra biện pháp hợp lý để hạn chế ảnh hưởng xấu của các thông tin sai lệch trên mạng đối với dư luận xã hội là điều vô cùng cấp thiết.
Một mặt, CMCN 4.0 có thể có tác động tích cực, tạo ra sự đồng đều về cơ hội cho tất cả các đối tượng trong xã hội đặc biệt là các nhóm yếu thế và các nhóm thiểu số, nhưng đồng thời cũng tạo cơ hội cho những đối tượng ở bên lề xã hội như những thành phần phản động, chống đối chính phủ trong phạm vi quốc gia hay thậm chí là lực lượng cực đoan, khủng bố ở phạm vi thế giới. Trên mạng xã hội, các đối tượng này thường ẩn dưới những cái tên giả hay nick ảo. Điều này khiến cho việc điều tra và truy lùng tung tích trở nên phức tạp và khó khăn hơn bao giờ hết. Mặt khác, trong thời đại CMCN 4.0, trong khi đã vươn lên 4.0, thì nơi khác có thể mới trải qua giai đoạn 3.0, 2.0, 1.0 hoặc thậm chí chưa trải qua cuộc cách mạng nào. Song họ vẫn đang đồng thời tham gia vào xã hội với những nền tảng nhận thức không đồng đều, nên dễ dẫn đến sự xung đột về sở thích, nhận thức, văn hóa...
3. Những vấn đề đặt ra đối với công tác quản lý truyền thông tại Việt Nam
Trước những tác động mạnh mẽ của CMCN 4.0, Chính phủ nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang có những chính sách và chiến lược để đón đầu cơ hội và hạn chế thách thức tạo ra từ cuộc CMCN 4.0. Mặc dù vậy, ở Việt Nam, thực tế còn nhiều cơ quan, doanh nghiệp chưa quan tâm, thiếu đầu tư, thiếu sự chuẩn bị để đón đầu và bắt kịp làn sóng mới này. Số liệu khảo sát của Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ công nghệ thông tin Việt Nam (VINASA) cho thấy, tại 275 cơ quan, đơn vị được khảo sát chỉ có 35,2% tổ chức đã chuẩn bị và sẵn sàng cho CMCN 4.0; 58,7% đã tìm hiểu nhưng chưa biết chuẩn bị gì; 6,1% chưa tìm hiểu gì và chưa biết chuẩn bị như thế nào cho những cơ hội và tác động của CMCN 4.0. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam còn có suy nghĩ là không thể bắt kịp được cuộc CMCN 4.0, bởi vậy không quan tâm các mô hình kinh doanh kiểu mới.
Những thách thức nêu trên đang đòi hỏi đối với những nhà quản lý nói chung và nhà quản lý truyền thông nói riêng phải xác định rõ các vấn đề cần đặt ra cũng nhưng bàn bạc để đề xuất các giải pháp, các chính sách nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý truyền thông trong giai đoạn mới, đồng thời có những bước đi phù hợp với xu thế chung của thế giới. Có thể chỉ rõ những vấn đề cần đặt ra cụ thể như sau:
Thứ nhất, CMCN 4.0 đặt ra vấn đề về đổi mới quan điểm, tư duy và cách thức quản lý từ truyền thống sang hiện đại
CMCN 4.0 đã tạo ra một xã hội thông tin, một không gian mạng hoàn toàn khác biệt so với không gian địa lý truyền thống, dẫn đến môi trường truyền thông, cách thức truyền thông và cách thức tiếp nhận sản phẩm truyền thông cũng có nhiều khác biệt so với trước kia. Tuy vậy, cách thức quản lý thông tin và truyền thông của nước ta vẫn đi theo quan điểm quản lý báo chí truyền thống. Trong khi, mạng xã hội đang tạo ra một không gian bình đẳng, dân chủ, linh hoạt và cởi mở, thì tư duy quản lý vẫn theo hướng tuyên truyền một chiều, cứng nhắc và thiếu linh hoạt. Hiện tượng biểu tình hay các ý kiến trái chiều phản đối Luật Đặc khu và Luật An ninh mạng xảy ra thời gian qua là một ví dụ cho thấy công tác quản lý thông tin và truyền thông còn phản ứng chậm chạp và chưa đạt hiệu quả(8[1]).
Nhiều quốc gia trên thế giới đã thay đổi không chỉ trong hoạt động truyền thông, mà còn tăng cường đổi mới tư duy quản lý truyền thông để thích ứng với cuộc CMCN 4.0. Ở nước ta, cũng cần có sự đổi mới tư duy và cách thức trong quản lý truyền thông nói chung và quản lý không gian mạng nói riêng để vừa đảm bảo sự phát triển truyền thông mạnh mẽ và đúng hướng, phù hợp với sự phát triển xã hội trong xu thế hội nhập, vừa phải đảm bảo an ninh xã hội, đảm bảo chủ quyền quốc gia. Việc Quốc hội thông qua Luật An ninh mạng là cần thiết nhằm đảm bảo hoạt động trên không gian mạng không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và cá nhân.
Thứ hai, cần học hỏi kinh nghiệm của các nước về quản lý truyền thông với điều kiện và xu thế phát triển 4.0 như hiện nay
Các quốc gia như Mỹ, Anh, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc,... có ngành truyền thông phát triển nhất trên thế giới. Họ liên tục nghiên cứu, sáng tạo và cập nhật những phương pháp mới, ứng dụng mới để áp dụng vào truyền thông và quản lý truyền thông rất bài bản, chặt chẽ, hiệu quả.
Mặc dù vẫn còn nhiều vấn đề phải bàn nhưng phải khẳng định Trung Quốc có cách quản lý truyền thông rất chặt chẽ. Nhà chức trách Trung Quốc đã thực thi rất nhiều chính sách để quản lý, trong đó cơ quan chức năng đã ban hành các quy định mới nhằm ngăn chặn tình trạng lan truyền lời đồn thông tin sai sự thật trên Internet. Văn bản của Tòa án Nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao Trung Quốc (có hiệu lực từ ngày 10-9-2013) đã quy định một bài viết trên mạng có tính bôi nhọ được chuyển tiếp hơn 500 lần hoặc hơn có thể khiến tác giả ngồi tù 3 năm([1]9). Những quy định quản lý này đã giúp nền kinh tế, chính trị và an ninh xã hội Trung Quốc giữ ổn định và trở thành một siêu cường quốc.
Tại Singapore, Chính phủ cũng đưa ra nhiều biện pháp xử lý nghiêm khắc thông tin mạng ảnh hưởng đến trật tự xã hội. Các công ty cung cấp các dịch vụ mạng xã hội trên lãnh thổ Singapore phải thực hiện các quy định chặt chẽ, bao gồm từ việc xin giấy phép hoạt động đến việc cung cấp thông số, thông tin tài khoản mạng xã hội của người dùng theo yêu cầu của chính quyền để phục vụ các cuộc điều tra tội phạm; phải chịu trách nhiệm về các nội dung đã công bố trên các phương tiện truyền thông, mạng xã hội, phải chịu các hình phạt tài chính, bị thu hồi giấy phép, đình chỉ hoạt động tùy theo mức độ vi phạm. Tại Mỹ, mới đây tháng 4-2018, người sáng lập ra Facebook Mark Zuckerberg đã phải ra điều trần trước Quốc hội về bê bối dữ liệu người dùng và làm ảnh hưởng đến kết quả cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 2016.
Như vậy, trong cuộc CMCN 4.0, các quốc gia đã và đang tham gia rất mạnh mẽ và chủ động và đang tiến hành các biện pháp quản lý truyền thông và quản lý thông tin trên mạng xã hội một cách bài bản và có tính hệ thống. Việt Nam cũng cần rút kinh nghiệm từ các nước đi trước để việc đẩy mạnh quản lý theo hướng bài bản, chặt chẽ và hiệu quả. Luật An ninh mạng mới được ban hành chính là thử thách nhưng cũng là cơ hội để Việt Nam trải nghiệm công tác quản lý truyền thông theo lối tư duy và cách thức mới.
Thứ ba, cần phải xác định rõ thực trạng phát triển truyền thông và quản lý truyền thông ở Việt Nam hiện nay
Trong bối cảnh chung, có thể nhận định đặc điểm lớn nhất của sự phát triển truyền thông, quản lý truyền thông trong điều kiện hiện nay đó là quản lý các dữ liệu, khai thác các dữ liệu, sự kết nối mang tính tương tác, kết nối sản xuất các chương trình... Việc quản lý thông tin và dữ liệu ngày càng trở nên phức tạp và khó khăn trước sự phát triển như vũ bão của các nền tảng mạng xã hội. Ở nước ta hiện nay có hơn 360 mạng xã hội khác nhau. Theo tổ chức We are social, chỉ tính riêng Facebook, số người sử dụng mạng xã hội này tại Việt Nam đứng thứ 7 thế giới với hơn 64 triệu tài khoản (tính đến tháng 7-2017). Hằng ngày, lượng thông tin trên Facebook đạt tới một con số khổng lồ. Việc ngăn chặn các thông tin sai lệch, có hành vi chống phá Đảng và Nhà nước, gây hoang mang dư luận ngày càng trở nên khó khăn. Do vậy, các cơ quan chức năng, những nhà quản lý truyền thông hiện nay rất cần phải tìm ra được giải pháp để một mặt vừa có thể quản lý thông tin, một mặt lại không kìm hãm sự phát triển của truyền thông.
Cần xác định rõ, một trong những khó khăn lớn của hoạt động truyền thông và quản lý truyền thông ở nước ta đang gặp phải đó chính là cơ sở vật chất, kỹ thuật và công nghệ thông tin. Mặc dù những lý thuyết và phương pháp mới ứng dụng trong truyền thông đều được nghiên cứu nhưng việc áp dụng vẫn còn hạn chế. Công nghệ thông tin và truyền thông phát triển vượt bậc khiến nhận thức của cơ quan quản lý thậm chí trở nên lạc hậu. Có không ít những người làm truyền thông không theo kịp tốc độ thay đổi của công nghệ. Đây là bài toán đặt ra cho những nhà lãnh đạo, những người quản lý truyền thông. Làm cách nào để đảm bảo cơ sở hạ tầng, công nghệ cho truyền thông phát triển? làm sao để có thể đào tạo được nguồn nhân lực vừa có bản lĩnh chính trị, vừa có chuyên môn, kỹ thuật cao?
Một đặc điểm của công nghệ truyền thông hiện nay là ranh giới giữa nhà báo chuyên nghiệp và không chuyên, tức là các công dân mạng, cư dân mạng là rất gần, thậm chí công dân mạng đang trở thành những nhà báo tự do, nhà báo xã hội. Câu hỏi đặt ra là: cần phải đổi mới, nâng cao năng lực, trình độ của người làm báo, của người quản lý báo chí như thế nào? Nâng cao việc quản lý cấp vĩ mô, quy hoạch lại các cơ quan báo chí ra sao? Đây là những câu hỏi rất cần những nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách giải đáp.
Thứ tư, cần phải đề xuất phương hướng, giải pháp cấp bách và lâu dài nhằm phát triển ngành truyền thông và nâng cao hiệu quả quản lý truyền thông
Từ những vấn đề đặt ra đối với công tác truyền thông và quản lý truyền thông tại Việt Nam hiện nay, cần phải phân tích kỹ lưỡng và đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành truyền thông trong bối cảnh CMCN 4.0.
Các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, các chuyên gia, những người làm công tác giảng dạy và đào tạo, những người làm nghề truyền thông cần hệ thống các kiến thức lý luận và thực tiễn về truyền thông và quản lý truyền thông, từ đó giúp hình thành nhân sinh quan, thế giới quan chung khi tiếp cận và giải quyết vấn đề quản lý truyền thông trong bối cảnh CMCN 4.0. Bên cạnh việc cập nhật những lý thuyết mới, mô hình mới về truyền thông, cần phải biết vận dụng phù hợp với thực trạng tình hình trong nước và với cơ quan, tổ chức của mình,cần đúc rút các kinh nghiệm, bài học về quản lý để xây dựng chính sách và hoạch định chiến lược.
Cần đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng về công nghệ, áp dụng các phương pháp mới trong thực hành báo chí, truyền thông để những người làm báo chí, truyền thông có thể phát triển tối đa khả năng của mình trong việc truyền tải thông tin đến với công chúng. Ở một số cơ quan báo chí, mô hình tòa soạn hội tụ đó được triển khai. Mặc dù vậy, mô hình này vẫn chưa ổn định và thống nhất. Để có thể xây dựng được tòa soạn hội tụ phải có sự vào cuộc đồng bộ, trước hết là về mặt nhận thức, sau đó là các cơ chế chính sách. Những người làm báo trong thời đại mới phải có bản lĩnh chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp; trong đó cần chú trọng kỹ năng tác nghiệp với các phương tiện khác nhau và các kỹ năng viết tin, bài cho tòa soạn hội tụ. Các nhà quản lý, lãnh đạo cần phải có các cơ chế, chính sách mới để tạo điều kiện cho mô hình tòa soạn hội tụ phát triển.
Cần đổi mới tư duy và cách thức đào tạo báo chí để nâng cao chất lượng và hiệu quả. Có thể thấy rằng, cách đào tạo báo chí như hiện nay đang bất cập với xu thế 4.0. Cần thiết kế xây dựng chương trình có tích hợp các nội dung về công nghệ thông tin với các chương trình đào tạo báo chí. Cần thúc đẩy việc trang bị cơ sở hạ tầng về công nghệ phục vụ các công tác đào tạo trực tuyến và đào tạo thực hành. Cần xây dựng chuẩn đầu ra cho sinh viên ra trường vừa nắm kiến thức, kỹ năng làm báo, vừa giỏi ngoại ngữ vừa có khả năng làm việc đa ngành, vừa nắm vững các kỹ năng về công nghệ truyền thông, vừa có kỹ năng truy cập, chọn lọc và xử lý thông tin từ dữ liệu lớn... Cần tăng cường nghiên cứu, trao đổi học thuật, liên kết đào tạo truyền thông đối với các cơ sở đào tạo, các trường đại học uy tín về báo chí, truyền thông trên thế giới. Cần xác định đào tạo báo chí và truyền thông là hoạt động mũi nhọn giúp cung cấp nguồn nhân sự truyền thông, đội ngũ làm báo chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của giai đoạn hiện nay.
________________________
Bài đăng trên Tạp chí Lý luân chính trị số 7.2018
(1), (4) Nguồn: “Diễn đàn Kinh tế thế giới, 2016, “Tương lai của công việc: việc làm, kỹ năng và chiến lược phát triển lực lượng lao động phục vụ cho cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4”. (World Economic Forum. 2016. “The Future of Jobs: Employment, Skills, and Workforce Strategy for the Fourth Industrial Revolution”).
(2), (3), (5), (7) TSKH Phan Xuân Dũng: Cách mạng công nghiệp lần thứ tư: Cuộc Cách mạng của sự hội tụ và tiết kiệm, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 2018.
(6) Theo báo cáo tổng hợp “Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư: Một số đặc trưng, tác động và hàm ý chính sách đối với Việt Nam” của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam năm 2017.
(8) Tổng hợp các ý kiến của các nhà nghiên cứu về truyền thông chia sẻ tại Hội thảo khoa học quốc gia do Học viện Báo chí và Tuyên truyền và Cục Phát thanh Truyền hình và Thông tin điện tử, Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp, tổ chức ngày 19-6-2018, tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
(9) Nguyễn Chiến, mic.gov.vn truy cập link http://antoanthongtin.vn
PGS, TS Trương Ngọc Nam
Nguồn: http://lyluanchinhtri.vn/
Bài liên quan
- Xu hướng nghiên cứu về tài sản thương hiệu bệnh viện tư và ảnh hưởng của các công cụ truyền thông tiếp thị tích hợp
- Hiện tượng “Di cư niềm tin” truyền thông của sinh viên và đề xuất mô hình “Truyền thông xác thực” cho các trường đại học
- Ảnh hưởng của văn hóa Việt Nam đến tính minh bạch trí tuệ nhân tạo trong quan hệ công chúng
- Truyền thông nội bộ và hình ảnh nữ viên chức Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên số
- Ứng dụng trí tuệ nhân tạo AI trong lĩnh vực phát thanh ở khu vực Tây Nam Bộ: Thực trạng và khuyến nghị
Xem nhiều
-
1
Đổi mới tư duy của Nhà nước trong kỷ nguyên số: Từ quản lý sang quản trị, kiến tạo phát triển
-
2
Giá trị biểu tượng của con ngựa trong văn hóa Việt Nam và ý nghĩa đối với sự phát triển văn hóa đất nước trong kỷ nguyên vươn mình
-
3
Đổi mới sáng tạo thu hẹp khoảng cách giáo dục vùng sâu, vùng xa Việt Nam trong kỷ nguyên mới
-
4
Thời cơ và thách thức đối với chính quyền cấp xã sau sáp nhập chính quyền địa phương hai cấp tỉnh Tuyên Quang hiện nay
-
5
Công tác sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay: Thực trạng và giải pháp
-
6
Tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Long trong công tác bình đẳng giới hiện nay
Liên kết
- Báo điện tử đảng cộng sản việt nam
- Báo nhân dân
- Báo Quân đội nhân dân
- Cổng thông tin điện tử Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia hồ chí minh
- Tạp chí Cộng sản
- Tạp chí Giáo dục lý luận
- Tạp chí Giáo dục và Xã hội
- Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
- Tạp chí Lý luận chính trị
- Tạp chí Nghiên cứu con người
- TẠP CHÍ Nghiên cứu dân tộc
- Tạp chí Người làm báo
- Tạp chí Nội chính
- Tạp chí Quản lý Nhà nước
- Tạp chí Tổ chức Nhà nước
- Tạp chí Tuyên giáo
- Tạp chí Xây Dựng Đảng
- Thư viện số Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Trang thông tin điện tử Hội đồng Lý luận Trung ương
Ứng dụng storytelling trong truyền thông y tế về tình trạng dị tật khe hở môi - vòm miệng
Nghiên cứu này khảo sát tiềm năng của Phương pháp kể chuyện (Storytelling) như một công cụ hiệu quả trong truyền thông y tế về tình trạng dị tật khe hở môi - vòm miệng (KHM - VM), dựa trên nền tảng “khung lý thuyết kể chuyện như Hero's Journey” (Campbell, 1949) và “StoryBrand Framework” (Miller, 2017) để xây dựng thông điệp và định hình sản phẩm truyền thông thử nghiệm. Trẻ em mắc KHM - VM được xem là trung tâm của câu chuyện và hệ thống y tế là người dẫn dắt đáng tin cậy. Thông qua phỏng vấn nhóm với chuyên gia, phụ huynh và công chúng, nghiên cứu đánh giá chất lượng thông tin/câu chuyện (cấu trúc câu chuyện, tính chân thực, tính liền mạch) và hiệu quả tác động của câu chuyện (niềm tin, thiện cảm và ý định hành vi), qua đó khẳng định phương pháp kể chuyện được đánh giá cao về khả năng truyền tải thông điệp nhân văn, củng cố niềm tin vào hành trình điều trị và gia tăng thiện cảm của công chúng.
Xu hướng nghiên cứu về tài sản thương hiệu bệnh viện tư và ảnh hưởng của các công cụ truyền thông tiếp thị tích hợp
Xu hướng nghiên cứu về tài sản thương hiệu bệnh viện tư và ảnh hưởng của các công cụ truyền thông tiếp thị tích hợp
Xu hướng nghiên cứu về tài sản thương hiệu bệnh viện tư và ảnh hưởng của các công cụ truyền thông tiếp thị tích hợp đến việc nâng cao tài sản thương hiệu bệnh viện dựa trên tổng hợp từ các nghiên cứu trước đây, phản ánh một quá trình phát triển liên tục cùng với sự lớn mạnh của thị trường y tế tư nhân và sự thay đổi trong hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người dân. Từ chỗ chỉ tập trung vào quảng bá đơn lẻ nhằm nâng cao mức độ nhận biết, các công trình nghiên cứu dần mở rộng theo hướng xem truyền thông tiếp thị tích hợp (IMC) như một triết lý quản trị truyền thông lấy người bệnh làm trung tâm, trong đó, từng công cụ đều có vai trò liên kết và bổ trợ cho nhau để tạo nên giá trị thương hiệu bền vững. Nhìn lại chặng đường này cho thấy các nhà nghiên cứu đã ngày càng chú trọng tới mối quan hệ giữa quảng cáo, quan hệ công chúng, truyền thông số, hoạt động cộng đồng và chăm sóc khách hàng trong việc nâng cao sự tin cậy, cảm nhận chất lượng và lòng trung thành của người bệnh đối với các bệnh viện tư. Chính sự chuyển dịch đó tạo nền tảng quan trọng cho việc tiếp tục hoàn thiện lý luận và thực tiễn về quản trị truyền thông thương hiệu trong lĩnh vực y tế hiện nay.
Hiện tượng “Di cư niềm tin” truyền thông của sinh viên và đề xuất mô hình “Truyền thông xác thực” cho các trường đại học
Hiện tượng “Di cư niềm tin” truyền thông của sinh viên và đề xuất mô hình “Truyền thông xác thực” cho các trường đại học
Bài viết phân tích hiện tượng “Di cư niềm tin” truyền thông của sinh viên thông qua sử dụng phương pháp khảo sát định lượng sinh viên với cỡ mẫu N = 572 và phỏng vấn sâu nhà quản trị. Kết quả cho thấy một nghịch lý quản trị đáng chú ý: việc ưu tiên tối ưu hóa các chỉ số tương tác bề nổi như lượt thích, lượt xem hay các kỹ thuật seeding không những không gia tăng niềm tin mà còn tạo ra phản ứng ngược. Thực trạng này thúc đẩy hành vi “di cư số” khi người học chuyển sang các kênh phi chính thức để tìm kiếm và kiểm chứng thông tin. Phân tích nhân tố khám phá (EFA) và kiểm định Cronbach’s Alpha khẳng định tính minh bạch và sự chân thực của nội dung là những yếu tố có tác động đến cấu trúc niềm tin thương hiệu. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất đề xuất áp dụng mô hình “truyền thông xác thực” nhằm khắc phục bẩy “chỉ số hư danh” và tái thiết niềm tin thương hiệu bền vững trong giáo dục đại học.
Ảnh hưởng của văn hóa Việt Nam đến tính minh bạch trí tuệ nhân tạo trong quan hệ công chúng
Ảnh hưởng của văn hóa Việt Nam đến tính minh bạch trí tuệ nhân tạo trong quan hệ công chúng
Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI), đặc biệt là AI sinh tạo, đã tối ưu hóa hiệu suất hoạt động quan hệ công chúng (PR) nhưng đặt ra thách thức về tính minh bạch thuật toán. Nghiên cứu này thực hiện tổng quan lý thuyết có hệ thống nhằm phân tích ảnh hưởng của văn hóa Việt Nam đến tính minh bạch AI trong lĩnh vực PR. Kết quả cho thấy minh bạch AI trong PR tập trung vào ba trụ cột: sự tiết lộ, khả năng giải thích và trách nhiệm giải trình. Các giá trị Nho giáo như khoảng cách quyền lực, thể diện (Mianzi) và sự hòa hợp đóng vai trò "bộ lọc" văn hóa, định hình xu hướng tiết lộ có chọn lọc việc sử dụng AI nhằm bảo vệ uy tín chuyên môn. Nghiên cứu đề xuất năm khuyến nghị cho người thực hành PR: thiết lập chính sách quản trị AI nội bộ, áp dụng mô hình minh bạch phân tầng, định vị AI như "trợ lý kỹ thuật số", thiết lập cơ chế kiểm chứng độc lập và xây dựng văn hóa học tập liên tục về đạo đức số.
Truyền thông nội bộ và hình ảnh nữ viên chức Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên số
Truyền thông nội bộ và hình ảnh nữ viên chức Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên số
Trong kỷ nguyên chuyển đổi số, truyền thông nội bộ đóng vai trò chiến lược trong việc kiến tạo và lan tỏa hình ảnh nữ viên chức tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Trên cơ sở tiếp cận truyền thông như một công cụ quản trị và phát triển tổ chức, bài viết chỉ ra sự cần thiết phải chuyển dịch trọng tâm truyền thông nội bộ từ việc chủ yếu tôn vinh các phẩm chất truyền thống sang chủ động xây dựng, khẳng định năng lực trí tuệ, tính chuyên nghiệp và những đóng góp thực chất của nữ viên chức vào sứ mệnh của Học viện. Từ đó, tác giả đề xuất một hệ thống giải pháp đồng bộ, khẳng định truyền thông nội bộ không chỉ góp phần kiến tạo một môi trường làm việc công bằng, bình đẳng, phát huy tối đa tiềm năng của đội ngũ nữ viên chức, mà còn là một đòn bẩy quan trọng thúc đẩy sự phát triển bền vững và nâng cao uy tín của Học viện trong bối cảnh mới.
llcttt1994dientu@gmail.com
024.38348033
Bình luận