Rút ngắn thời lượng thể loại phóng sự thời sự - xu thế tất yếu của phát thanh hiện đại
- Tại sao lại cần những phóng sự thời sự ngắn?
Mỗi loại hình báo chí có những đặc trưng khác nhau, do đó quy định tâm lý tiếp nhận khác nhau ở mỗi đối tượng công chúng. Báo in tác động đến người đọc thông qua hệ thống văn bản viết, cho nên độc giả có thể tiếp nhận thông tin tuỳ thuộc vào sở thích, thói quen, phù hợp với thời gian, không gian riêng có của mỗi người. Họ có thể chủ động khai thác thông tin cũng như lưu giữ thông tin mà không có sự tác động quá lớn của ngoại cảnh. Vì thế, trên báo in người ta chấp nhận cả những phóng sự dài, thậm chí là phóng sự dài kỳ. Truyền hình, với những lợi thế về hình ảnh sinh động, chân thực, khiến khán giả thường xuyên bị "đánh cắp thời gian" khi ngồi trước máy thu hình. Tuy nhiên, không quá "lợi dụng" ưu thế đó, các nhà báo truyền hình hiện nay đang cố gắng đáp ứng nhu cầu thông tin của khán giả bằng cách đổi mới nội dung và hình thức các thể loại báo chí, trong đó, cố gắng sử dụng càng nhiều phóng sự ngắn càng tốt, đặc biệt là phóng sự thời sự.
Khi đến với báo phát thanh, người nghe hoàn toàn bị động trong việc tiếp nhận thông tin, bởi vì báo phát thanh tuân theo quy luật thời gian tuyến tính, có tính thoảng qua, người nghe chỉ nghe được một lần. Mặt khác, do có thói quen vừa làm việc vừa nghe đài nên thính giả thường bị phân tán tư tưởng, thông tin dễ bị trượt đi. Họ không có khả năng tiếp nhận những bài viết, những phóng sự đầy ắp dữ liệu, chi tiết, con số với thời lượng hàng chục phút. Chính vì vậy, thói quen sử dụng các phóng sự dài tất yếu sẽ bị thay thế để phù hợp với nhu cầu tiếp nhận thông tin của thính giả và sự phát triển của phát thanh hiện đại.
- Phóng sự ở Đài Tiếng nói Việt Nam hiện nay
Bên cạnh tin, ghi nhanh, phóng sự được coi là thể loại xung kích của báo phát thanh, đặc biệt là với chương trình thời sự. Theo thống kê của chúng tôi, chỉ tính riêng năm 2002, với hơn 1500 buổi phát sóng của chương trình Thời sự, phóng viên ban Thời sự đã sử dụng khoảng gần 400 tác phẩm phóng sự. Được sử dụng nhiều nhất là ở chương trình thời sự trưa 12 giờ đến 12.30 giờ hàng ngày. Sáu tháng đầu năm 2003, phóng sự có tần số xuất hiện khá dày đặc do không những được sử dụng như một thể loại độc lập trên sóng, mà nó còn được sử dụng xen kẽ với các hình thức thông tin khác như: toạ đàm, cầu phát thanh, khách mời phòng thu... Chương trình thời sự mỗi ngày trung bình sử dụng 4 phóng sự. Thể loại này cho phép nhà báo phát thanh đi vào từng ngõ ngách của cuộc sống để phản ánh và đem đến cho người nghe những trang viết sinh động, có chiều sâu. Phóng sự thời sự thường có phạm vi rộng, phản ánh mọi mặt của đời sống: kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục... Hàng trăm bài đã tham gia tích cực vào quá trình phát hiện, cổ vũ các nhân tố mới. Không ít tác phẩm có chất lượng tốt và đoạt giải trong các cuộc thi viết phóng sự.
Các tác phẩm phóng sự thời sự hiện nay đã chứng tỏ kỹ năng nghề nghiệp của phóng viên được nâng lên rõ rệt: mang tính thòi sự; ngôn ngữ được chọn lọc, chau chuốt hơn; có nhiều chi tiết; chất lượng âm thanh chuẩn. Tuy nhiên, qua khảo sát của chúng tôi, về mặt hình thức, phóng sự thời sự còn tồn tại những hạn chế như:
- Hầu hết các tác phẩm phóng sự thường có thời lượng tương đối dài, từ 5 đến 10 phút (khoảng 900 đến 1800 âm tiết). Nếu tính trên báo in thì tương đương một phần hai trang hoặc hơn;
- Nhiều phóng sự sử dụng lời nói nhân vật quá dài (đôi khi, một lời phát biểu của nhân vật dài tới 2 phút);
- Tham quá nhiều chi tiết, số liệu, dữ kiện.
Như chúng tôi đã phân tích ở trên, thời lượng phóng sự dài là trái với tâm lý cũng như khả năng thu nhận thông tin của người nghe. Để bài phóng sự phát huy được thế mạnh của nó, người viết báo phải từ góc độ tâm lý cũng như nhu cầu tiếp nhận thông tin của công chúng để suy ra cách thức viết bài. Nên nhớ là phải viết những cái người nghe cần chứ không phải viết những gì chúng ta có. Một bài phóng sự ngồn ngộn chi tiết, ngôn ngữ sinh động, ý kiến nhân vật rất "đắt", nhưng dài tới gần chục phút thì nhiều khi lại phản tác dụng. Vậy, phải làm sao để tác phẩm đó "thuận" theo ý người đọc, làm người ta tiếp nhận dễ dàng nhất?
- Những biện pháp đổi mới thể loại phóng sự
Chúng ta hãy nhìn sang phóng sự thời sự truyền hình. Mặc dù truyền hình vẫn là phương tiện truyền thông "số một" hiện nay, nhưng các phóng viên, biên tập viên cũng không muốn để khán giả phải tốn hàng chục, vài chục phút để chỉ nghe được một vấn đề duy nhất. Cũng thời lượng ấy, ngày nay, chương trình thời sự truyền hình đã đem đến cho người xem gấp đôi, gấp ba số lượng thông tin.
Có người cho rằng, nếu yêu cầu phóng sự chỉ dài 2 -3 phút thì khác gì một cái tin dài. Làm thế thì dễ quá. Nhưng đó chính là một sự nhầm lẫn. Một phóng sự không phải là phép cộng lạnh lùng của vài cái tin. Một phóng sự tuy rất ngắn cũng phải có những đặc trưng riêng của nó: phải có vấn đề (một mâu thuẫn nào đó cần giải quyết), có bối cảnh, có sự thẩm định của "cái tôi" tác giả, sử dụng ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ giàu tính biểu cảm...
Nhà báo phát thanh phải dũng cảm thực hiện những phóng sự ngắn - đó là những phóng sự thời sự với thời lượng 2 - 4 phút. Để đạt được mức độ ngắn lý tưởng cho một phóng sự mà không làm giảm lượng thông tin, phóng viên nên tuân thủ những nguyên tắc sau đây:
- Sử dụng lối kết cấu đơn tuyến, mô tả sự việc theo trình tự thời gian để người nghe dễ hình dung diễn biến của sự kiện, sự việc.
- Cố gắng lựa chọn những chi tiết tiêu biểu nhất. Tránh đưa nhiều chi tiết rườm rà làm bài viết dài thêm.
- Viết câu ngắn. Tuyệt đối tránh những câu có nhiều chủ vị, câu đảo trật tự thành phần câu.
- Sử dụng từ ngữ đơn giản, thuận với tai người nghe. Nên chọn lựa những từ ngữ giàu hình ảnh, sinh động để làm tăng sức hấp dẫn cho bài phóng sự.
- Trích dẫn một cách chọn lọc tiếng động và lời nói nhân vật. Chỉ nên sử dụng 2 - 3 tiếng động và lời nhân vật, thời lượng 20 - 30 giây/ mỗi tiếng động, lời nhân vật là hợp lý.
Để thực hiện các nguyên tắc trên một cách dễ dàng, tốt nhất, khi đứng trước một sự kiện, vấn đề có thể là chủ đề cho một bài phóng sự, nhà báo nên tự đặt cho mình câu hỏi: Chuyện gì? Công chúng muốn được biết chi tiết nào nhất?, từ đó bố trí sắp xếp hợp lý các chi tiết, lựa chọn tiếng động, chau chuốt từ ngữ... phù hợp với thời lượng tối đa là 4 phút.
Khi đưa ra nguyên tắc viết giản dị, kết cấu đơn tuyến, câu ngắn, sinh động... là yêu cầu nhà báo phải nắm vững được đặc trưng và những nguyên tắc viết cho phát thanh. Điều này mỗi phóng viên phải tự ý thức để rèn nghề, phong cách viết của mình nếu muốn có được những bài phóng sự đạt chất lượng. Ở đây, chúng tôi xin đi sâu về cách phóng viên thu thập và sử dụng lời nói nhân vật, tiếng động trong phóng sự, bởi vì trên thực tế, hầu hết các phóng sự còn vấp phải tình trạng trích lời nói nhân vật, tiếng động ... dài tràn lan, tuỳ hứng, tuỳ tiện, làm người nghe khó hiểu, khó nhớ.
Khi trích dẫn lời nói nhân vật, tiếng động, nên chú ý:
- Thứ nhất, không lạm dụng quá nhiều lời nói nhân vật, bởi vì không phải lúc nào chúng ta cũng gặp được những nhân chứng am hiểu vấn đề và có "duyên" nói trước máy.
- Thứ hai, sử dụng lời nói của quần chúng nhằm tăng tính dân chủ, khách quan của vấn đề; tuyệt đối tránh tình trạng khi đi xuống cơ sở chỉ chăm chăm lấy ý kiến của lãnh đạo.
- Thứ ba, để có những lời phát biểu ngắn gọn, trúng vấn đề, khi đưa máy ghi âm ra, bạn nên chủ động yêu cầu đối tượng "nói có trọng tâm, nói ngắn để phát sóng được". Trường hợp không thể thực hiện được ý định đó, hãy dũng cảm gạt bỏ tất cả những lời nói bạn cho là "cũng quan trọng" để nhặt lấy lời nói "quan trọng nhất".
Trong đời sống báo chí hiện đại, việc đổi mới về nội dung và hình thức thể loại là một yêu cầu có tính bắt buộc. Với cách nhìn nhận mới đó, rút ngắn thời lượng phóng sự là một yêu cầu cần thiết. Nó không hề làm giảm tầm quan trọng của thể loại phóng sự, mà ngược lại, còn làm tăng giá trị thể loại, làm cho nó có thể trở thành thể loại "xung kích" của báo phát thanh hiện đại./.
____________________________
Bài đăng trên Tạp chí Báo chí và Tuyên truyền số 1 (tháng 1+2)/2005
Trương Thị Kiên
Bài liên quan
- Ứng dụng storytelling trong truyền thông y tế về tình trạng dị tật khe hở môi - vòm miệng
- Chiến dịch truyền thông về phòng chống bạo lực trẻ em tại Việt Nam: hiệu quả, thách thức và bài học kinh nghiệm
- Thực trạng và một số giải pháp nâng cao chất lượng thông tin về sức khỏe tâm thần trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay
- Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong truyền hình Việt Nam
- Thực trạng chuyển đổi số cơ quan báo chí và một số giải pháp (Nghiên cứu trường hợp Báo Đại đoàn kết)
Xem nhiều
-
1
Thời cơ và thách thức đối với chính quyền cấp xã sau sáp nhập chính quyền địa phương hai cấp tỉnh Tuyên Quang hiện nay
-
2
Công tác sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay: Thực trạng và giải pháp
-
3
Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên lý luận chính trị ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền hiện nay
-
4
Chiến lược Tăng trưởng xanh ở của một số nước trên thế giới và gợi mở cho Việt Nam nói chung, Nghệ An nói riêng - Tiếp cận từ góc nhìn Truyền thông quốc tế
-
5
Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra của Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy phường Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội
-
6
Vai trò của đoàn kết dân tộc trong xây dựng, bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Liên kết
- Báo điện tử đảng cộng sản việt nam
- Báo nhân dân
- Báo Quân đội nhân dân
- Cổng thông tin điện tử Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia hồ chí minh
- Tạp chí Cộng sản
- Tạp chí Giáo dục lý luận
- Tạp chí Giáo dục và Xã hội
- Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
- Tạp chí Lý luận chính trị
- Tạp chí Nghiên cứu con người
- TẠP CHÍ Nghiên cứu dân tộc
- Tạp chí Người làm báo
- Tạp chí Nội chính
- Tạp chí Quản lý Nhà nước
- Tạp chí Tổ chức Nhà nước
- Tạp chí Tuyên giáo
- Tạp chí Xây Dựng Đảng
- Thư viện số Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Trang thông tin điện tử Hội đồng Lý luận Trung ương
Quy định về cấu trúc, thể thức trình bày, trích dẫn và tài liệu tham khảo của các bài viết trên Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông bản tiếng Anh
Ban Biên tập Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông trân trọng thông báo tới quý độc giả và tác giả về việc áp dụng Quy định về cấu trúc, thể thức trình bày, trích dẫn và tài liệu tham khảo đối với các bài viết đăng tải trên Tạp chí. Quy định này được xây dựng trên cơ sở Thông tư số 27/2025/TT-BKHCN ngày 31 tháng 10 năm 2025 của Bộ Khoa học và Công nghệ về bài báo khoa học và đánh giá, xếp loại tạp chí khoa học Việt Nam, đồng thời tuân thủ các quy định tại Nghị định số 262/2025/NĐ-CP của Chính phủ về liêm chính khoa học và đạo đức nghiên cứu trong hoạt động khoa học và công nghệ. Theo đó, Ban Biên tập đề nghị các tác giả khi gửi bài viết về Tạp chí thực hiện nghiêm túc và thống nhất các yêu cầu về cấu trúc, thể thức trình bày, trích dẫn và tài liệu tham khảo theo Quy định và hướng dẫn kèm theo.
Ứng dụng storytelling trong truyền thông y tế về tình trạng dị tật khe hở môi - vòm miệng
Ứng dụng storytelling trong truyền thông y tế về tình trạng dị tật khe hở môi - vòm miệng
Nghiên cứu này khảo sát tiềm năng của Phương pháp kể chuyện (Storytelling) như một công cụ hiệu quả trong truyền thông y tế về tình trạng dị tật khe hở môi - vòm miệng (KHM - VM), dựa trên nền tảng “khung lý thuyết kể chuyện như Hero's Journey” (Campbell, 1949) và “StoryBrand Framework” (Miller, 2017) để xây dựng thông điệp và định hình sản phẩm truyền thông thử nghiệm. Trẻ em mắc KHM - VM được xem là trung tâm của câu chuyện và hệ thống y tế là người dẫn dắt đáng tin cậy. Thông qua phỏng vấn nhóm với chuyên gia, phụ huynh và công chúng, nghiên cứu đánh giá chất lượng thông tin/câu chuyện (cấu trúc câu chuyện, tính chân thực, tính liền mạch) và hiệu quả tác động của câu chuyện (niềm tin, thiện cảm và ý định hành vi), qua đó khẳng định phương pháp kể chuyện được đánh giá cao về khả năng truyền tải thông điệp nhân văn, củng cố niềm tin vào hành trình điều trị và gia tăng thiện cảm của công chúng.
Chiến dịch truyền thông về phòng chống bạo lực trẻ em tại Việt Nam: hiệu quả, thách thức và bài học kinh nghiệm
Chiến dịch truyền thông về phòng chống bạo lực trẻ em tại Việt Nam: hiệu quả, thách thức và bài học kinh nghiệm
Bạo lực trẻ em là một trong những vấn đề xã hội nghiêm trọng toàn cầu, trong đó có Việt Nam. Truyền thông giữ vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa và nâng cao nhận thức cộng đồng. Nghiên cứu này phân tích hai chiến dịch tiêu biểu: “Cái ôm ấm áp” của ChildFund (trong các năm 2022, 2023) và “Trái tim xanh” của UNICEF (trong các năm 2020, 2022), nhằm đánh giá hiệu quả truyền thông, xác định giá trị thông điệp, cách thức triển khai, đồng thời rút ra bài học và khuyến nghị cho các chiến dịch tương lai. Nghiên cứu kết hợp giữa phương pháp phân tích nội dung, thống kê dữ liệu và khảo sát xã hội học với 221 mẫu tại Hà Nội. Kết quả cho thấy, cả hai chiến dịch đều tạo được hiệu quả tích cực trong truyền tải thông điệp, song vẫn tồn tại hạn chế về phạm vi tiếp cận và tính bền vững trong thay đổi hành vi. Nghiên cứu đề xuất cần đa dạng hóa kênh truyền thông, thiết kế thông điệp rõ ràng và tăng cường hợp tác liên ngành để đạt hiệu quả lâu dài.
Thực trạng và một số giải pháp nâng cao chất lượng thông tin về sức khỏe tâm thần trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay
Thực trạng và một số giải pháp nâng cao chất lượng thông tin về sức khỏe tâm thần trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay
Đề tài tập trung nghiên cứu vai trò của thông tin về sức khỏe tâm thần trên báo mạng điện tử, đồng thời, khảo sát thực tiễn trên các báo điện tử tiêu biểu như Sức khỏe & Đời sống, VTCNews, Dân trí. Nghiên cứu làm rõ vai trò của báo mạng điện tử trong việc nâng cao hiểu biết của cộng đồng về sức khỏe tâm thần, giảm kỳ thị đối với người mắc rối loạn tâm lý và thúc đẩy các hành vi chăm sóc sức khỏe tinh thần tích cực. Qua khảo sát thực tiễn, đề tài chỉ ra nhiều kết quả tích cực như số lượng bài viết tăng, tính nhân văn cao và khả năng lan tỏa rộng rãi, nhưng cũng tồn tại những hạn chế như thiếu chuyên sâu về kiến thức y học, còn thiên về khai thác khía cạnh giật gân hoặc thiếu góc nhìn khoa học. Từ đó, tác giả đề xuất các giải pháp như tăng cường hợp tác giữa cơ quan báo chí với chuyên gia tâm lý, y tế; nâng cao kỹ năng truyền thông khoa học cho phóng viên; đa dạng hóa hình thức thể hiện bằng video, podcast, infographic và xây dựng chuyên mục chuyên sâu nhằm nâng cao chất lượng, tính chính xác và sức thuyết phục của thông tin về sức khỏe tâm thần.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong truyền hình Việt Nam
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong truyền hình Việt Nam
Trong bối cảnh chuyển đổi số và sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI), truyền hình đang trải qua những biến đổi căn bản về quy trình sản xuất nội dung, quản trị dữ liệu và phương thức tiếp cận công chúng. Bài viết tập trung phân tích quá trình ứng dụng AI trong truyền hình, trên cơ sở kết hợp tiếp cận từ góc độ lý luận kết hợp khảo sát thực tiễn, nhằm làm rõ xu hướng, mức độ triển khai và những vấn đề đặt ra đối với truyền hình Việt Nam hiện nay. Từ việc khái quát kinh nghiệm và xu hướng ứng dụng AI trong truyền hình quốc tế, bài viết chỉ ra vai trò của AI như một công nghệ nền tảng, tác động toàn diện đến chuỗi giá trị truyền hình, từ tự động hóa sản xuất, phân tích dữ liệu khán giả đến cá nhân hóa nội dung và quản trị kho tư liệu số. Trên cơ sở đó, phân tích thực trạng ứng dụng AI trong truyền hình Việt Nam, đặc biệt tại Đài Truyền hình Việt Nam (VTV), với những mô hình thử nghiệm và định hướng phát triển bước đầu.
llcttt1994dientu@gmail.com
024.38348033
Bình luận