Tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Long trong công tác bình đẳng giới hiện nay
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập hiện nay, bình đẳng giới không chỉ là mục tiêu nhân văn mà còn là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển bền vững. Thực hiện chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác bình đẳng giới tại tỉnh Vĩnh Long thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần nâng cao vị thế, vai trò của phụ nữ và từng bước thu hẹp khoảng cách giới trên các lĩnh vực. Tuy nhiên, trước những yêu cầu mới của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và những tác động đa chiều của kinh tế thị trường, công tác bình đẳng giới vẫn còn những hạn chế, thách thức cần được quan tâm giải quyết. Vì vậy, việc tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Long đối với công tác bình đẳng giới hiện nay có ý nghĩa quan trọng, nhằm bảo đảm thực hiện hiệu quả các mục tiêu bình đẳng giới, phát huy nguồn lực con người, góp phần xây dựng tỉnh Vĩnh Long phát triển bền vững.
2. Thực trạng Tỉnh ủy Vĩnh Long lãnh đạo công tác bình đẳng giới hiện nay
2.1. Thành công
Thứ nhất, Tỉnh uỷ Vĩnh Long đã bám sát văn bản, nghị quyết của Trung ương để lãnh đạo công tác bình đẳng giới.
Trên cơ sở Luật Bình đẳng giới năm 2006, Nghị quyết 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về công tác nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 20/1/2018 của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới; Nghị quyết 28/NQ‑CP ngày 03/03/2021 của Chính phủ về Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021‑2030…, Tỉnh ủy Vĩnh Long đã ban hành Chương trình hành động số 12-CTr/TU ngày 01/11/2007 về thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về công tác nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Kế hoạch số 04-KH/TU ngày 11/7/2025 của Tỉnh ủy Vĩnh Long về thực hiện Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 14/4/2025 của Bộ Chính trị, quy định trong nhiệm kỳ 2025-2030 phấn đấu đạt tỷ lệ cấp ủy viên nữ từ 15% trở lên và có cán bộ nữ trong ban thường vụ cấp ủy... Các văn bản thể hiện sự bám sát, cụ thể hóa kịp thời và nghiêm túc các chủ trương, định hướng của Trung ương về công tác phụ nữ và bình đẳng giới. Tỉnh ủy Vĩnh Long đã chủ động lãnh đạo, ban hành chương trình, kế hoạch hành động phù hợp với thực tiễn địa phương, bảo đảm sự đồng bộ trong toàn hệ thống chính trị. Các mục tiêu về tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy, ban thường vụ được xác định rõ, có lộ trình cụ thể, gắn với công tác quy hoạch, đào tạo và sử dụng cán bộ nữ, thể hiện quyết tâm chính trị cao của cấp ủy.
Thứ hai, Tỉnh ủy Vĩnh Long đã đặc biệt quan tâm, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách về bình đẳng giới.
Các cấp ủy, chính quyền và đoàn thể trong tỉnh chủ động xây dựng và triển khai nhiều chương trình, kế hoạch hành động cụ thể, phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương. Công tác tuyên truyền về bình đẳng giới được đẩy mạnh ở nhiều hình thức, góp phần nâng cao nhận thức, thay đổi tư duy và dần xóa bỏ những định kiến giới trong cộng đồng. Công tác tuyên truyền được thực hiện thông qua hội nghị, lớp tập huấn, sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt đoàn thể, các phương tiện thông tin đại chúng, hệ thống truyền thanh cơ sở và mạng xã hội. Nội dung tuyên truyền được triển khai thường xuyên, tập trung vào các đợt cao điểm như Tháng hành động vì bình đẳng giới, ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10 tại cơ quan, trường học, khu dân cư trên địa bàn tỉnh. Nhờ đó, nhận thức về bình đẳng giới trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân ngày càng được nâng lên, đóng góp tích cực vào thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của tỉnh.
Tỉnh ủy Vĩnh Long khẳng định tiếp tục coi công tác bình đẳng giới là một trong những nhiệm vụ chiến lược, lâu dài trong tiến trình phát triển chung của địa phương… Trong Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025-2030, Đảng bộ tỉnh đã đề ra nhiệm vụ: “Tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, kỹ năng lãnh đạo quản lý cho cán bộ nữ; phát hiện, quy hoạch, sử dụng cán bộ nữ có năng lực, phẩm chất, uy tín, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới” (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tỉnh ủy Vĩnh Long, 2025, p.153).
Bên cạnh đó, Hội Phụ nữ tỉnh đã tổ chức hàng nghìn ý kiến đối thoại trực tiếp giữa hội viên, phụ nữ với cấp ủy, chính quyền các cấp, tập trung vào các nội dung như bình đẳng giới, công tác quy hoạch và đào tạo cán bộ nữ, hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp và chuyển đổi số. Trên cơ sở các ý kiến đối thoại này, Hội đã chủ động tham mưu, đề xuất các nội dung liên quan đến phụ nữ để đưa vào Văn kiện Đại hội Đảng các cấp. Đồng thời, Hội tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền, tập huấn nhằm nâng cao nhận thức và năng lực chuyển đổi số cho phụ nữ. Vai trò của Hội Phụ nữ trong giám sát, phản biện xã hội đối với việc xây dựng Đảng và chính quyền tiếp tục được quan tâm đổi mới, qua đó từng bước nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động (Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Vĩnh Long, 2025).
Thứ ba, công tác tổ chức triển khai các văn bản quy phạm pháp luật và chính sách liên quan đến bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của Tỉnh ủy.
Công tác tổ chức triển khai các văn bản quy phạm pháp luật và chính sách liên quan đến bình đẳng giới là quá trình đưa các quy định của pháp luật và chính sách về bình đẳng giới vào thực tế đời sống, bảo đảm các quy định đó được hiểu đúng, thực hiện đúng và có hiệu quả. Nội dung này được thực hiện một cách đồng bộ nhằm bảo đảm tính kế thừa, phát triển và phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
Theo đó, các cấp ủy đảng, chính quyền, cơ quan, đơn vị trong toàn tỉnh đã chủ động rà soát, đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ nữ, từ đó kịp thời bổ sung, điều chỉnh quy hoạch theo hướng mở rộng nguồn, chú trọng phát hiện, bồi dưỡng những cán bộ nữ có năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh chính trị vững vàng và tinh thần trách nhiệm cao. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ được quan tâm cả về trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng quản lý, lãnh đạo, tạo điều kiện thuận lợi để cán bộ nữ phát huy khả năng, sở trường trong thực tiễn công tác. Nhờ vậy, tỷ lệ phụ nữ tham gia giữ các vị trí lãnh đạo, quản lý từng bước được nâng lên, vai trò và vị thế của cán bộ nữ ngày càng được khẳng định.
Những kết quả đạt được đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng đội ngũ cán bộ tỉnh Vĩnh Long ngày càng vững mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của địa phương trong giai đoạn mới. Theo số liệu thống kê, “số học viên nữ tham gia các lớp đào tạo trung cấp lý luận chính trị ngày càng tăng qua mỗi năm và tỷ lệ trung bình chung khoảng hơn 40% số lượng học viên hàng năm. Đặc biệt, học viên nữ thường tham gia học tập với tinh thần nghiêm túc, chịu khó, kết quả học tập và rèn luyện cao, trong tổng số học viên được khen thưởng thì tỷ lệ học viên nữ chiếm hơn 50%. Trong nhiệm kỳ đã phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tỉnh tổ chức 04 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công tác hội cho cán bộ Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cấp cơ sở với sự tham dự của 618 học viên” (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tỉnh ủy Vĩnh Long, 2025, p.152-153).
Thứ tư, Tỉnh ủy Vĩnh Long đã chú trọng lãnh đạo lồng ghép nội dung bình đẳng giới và quyền của phụ nữ vào công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật.
Tỉnh ban hành kế hoạch, chương trình truyền thông về bình đẳng giới giai đoạn 2026–2030, nhằm đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến các chính sách và pháp luật về bình đẳng giới trên các phương tiện thông tin đại chúng, nâng cao hiệu quả truyền thông và pháp luật về bình đẳng giới trong cộng đồng (Phương Thư, 2025). Các hoạt động tuyên truyền được thực hiện bằng nhiều hình thức phù hợp, giúp cán bộ và người dân dễ tiếp cận, dễ hiểu, từ đó nâng cao nhận thức và ý thức thực hiện bình đẳng giới trong đời sống hằng ngày. Điển hình như tổ chức hội nghị, tập huấn, truyền thông trực quan và trên phương tiện thông tin đại chúng tại cơ sở, giúp cán bộ và người dân dễ tiếp cận, dễ hiểu, từ đó nâng cao nhận thức và ý thức thực hiện bình đẳng giới trong đời sống hằng ngày. Nội dung về giới và sự tiến bộ của phụ nữ được đưa vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, gắn với các chương trình mục tiêu, dự án cụ thể của từng ngành, từng địa phương. Đồng thời, Tỉnh ủy Vĩnh Long đã quan tâm bố trí nguồn ngân sách phù hợp nhằm bảo đảm việc thực hiện các mục tiêu về bình đẳng giới đạt hiệu quả thiết thực. Trên cơ sở đó, phụ nữ ngày càng có thêm điều kiện để phát huy vai trò, năng lực, tích cực tham gia vào các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, góp phần vào sự phát triển chung và bền vững của tỉnh Vĩnh Long.
Thứ năm, xác định thúc đẩy bình đẳng giới là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo.
Theo đó, Tỉnh ủy Vĩnh Long đã chủ động lãnh đạo các cơ quan, đơn vị liên quan xây dựng các chính sách, chương trình về đẩy mạnh bình đẳng giới nhằm tạo cơ hội bình đẳng cho phụ nữ trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là trong công tác cán bộ và quản lý, lãnh đạo. Việc nâng cao tỷ lệ nữ phù hợp tham gia vào các cấp ủy Đảng không chỉ góp phần đảm bảo quyền lợi, cơ hội công bằng mà còn giúp phát huy năng lực, kinh nghiệm và sáng kiến của phụ nữ trong quá trình tham gia quản lý, điều hành. Những nỗ lực này thể hiện sự quan tâm liên tục của cấp ủy các cấp trong việc lồng ghép yếu tố giới vào cơ chế, chính sách, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ nữ ngày càng vững mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển chính trị - xã hội của tỉnh. Cụ thể, tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy Đảng các cấp qua các nhiệm kỳ đã có xu hướng tăng đều. Trong nhiệm kỳ 2020–2025, tỷ lệ nữ tiếp tục có sự thay đổi rõ rệt ở từng cấp: Cấp tỉnh đạt 16,32% (8/49 người), cấp xã là 23,78% (381/1.602 người) (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tỉnh ủy Vĩnh Long, 2025, p.160). Đáng chú ý, tỷ lệ nữ cấp ủy cấp xã đã vượt ngưỡng 20%, phản ánh nỗ lực mở rộng không gian lãnh đạo chính trị cho phụ nữ tại cơ sở (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tỉnh ủy Vĩnh Long, 2025, p.160). Sự gia tăng tỷ lệ nữ trong cấp ủy các cấp qua từng nhiệm kỳ là kết quả của quá trình thúc đẩy chính sách lồng ghép giới trong công tác cán bộ.
Thứ sáu, Tỉnh ủy Vĩnh Long đặc biệt chú trọng các chính sách an sinh xã hội dành cho phụ nữ và trẻ em gái, hỗ trợ chăm sóc sức khỏe, giáo dục, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần.
Tỉnh ủy Vĩnh Long đặc biệt chú trọng lãnh đạo thực hiện các chính sách an sinh xã hội dành cho phụ nữ và trẻ em gái, bao gồm các chính sách về chăm sóc sức khỏe sinh sản, bảo hiểm y tế, hỗ trợ phụ nữ mang thai và nuôi con nhỏ; chính sách giáo dục, đào tạo nghề, tạo việc làm; hỗ trợ phụ nữ nghèo, phụ nữ yếu thế, phụ nữ khởi nghiệp; chăm lo đời sống văn hóa, tinh thần và bảo vệ phụ nữ, trẻ em trước các nguy cơ bạo lực, xâm hại. Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia phát triển kinh tế, tiếp cận các nguồn lực, học nghề, giải quyết việc làm, phát triển sản xuất, kinh doanh. Qua đó, giúp phụ nữ có việc làm ổn định, nâng cao thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống, đóng góp tích cực vào sự phát triển bền vững của tỉnh Vĩnh Long. Tỉnh ủy Vĩnh Long đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị xây dựng và triển khai chương trình, kế hoạch về bình đẳng giới phù hợp thực tiễn địa phương; thực hiện đồng bộ, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, bảo đảm thiết thực, hiệu quả. Nhờ vậy, tư duy về giới có nhiều chuyển biến tích cực, các định kiến, quan niệm lạc hậu dần được xóa bỏ, tạo môi trường thuận lợi để phụ nữ phát huy năng lực, tham gia ngày càng tích cực vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần xây dựng tỉnh Vĩnh Long phát triển bền vững. Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Vĩnh Long đã tổng kết Dự án 8 “Thực hiện bình đẳng giới và giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với phụ nữ và trẻ em”, giai đoạn 2021-2025. Theo đó, có 6/9 chỉ tiêu hoàn thành vượt mức, trong đó các tổ truyền thông cộng đồng đã tổ chức truyền thông các nội dung như: Xóa bỏ định kiến, khuôn mẫu giới, bình đẳng giới, phòng chống bạo lực gia đình trên cơ sở giới. Đồng thời, 24 địa chỉ tin cậy tại cộng đồng cũng đã được thành lập và củng cố tại các xã (Trúc Mai, 2025).
Bên cạnh đó, trên cơ sở các định hướng đã đề ra, Tỉnh ủy Vĩnh Long đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trong việc lựa chọn cán bộ tham gia các chương trình đào tạo, bồi dưỡng về bình đẳng giới, bảo đảm hợp lý cả về số lượng, chất lượng và sự cân bằng giới. Trong đó, tỉnh đã chú trọng tạo điều kiện cho cán bộ nữ và đội ngũ cán bộ làm công tác phụ nữ được tham gia học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng công tác và năng lực quản lý. Các lớp tập huấn chuyên môn, hội thảo, tọa đàm được tổ chức thường xuyên với nội dung thiết thực, tạo môi trường thuận lợi để cán bộ trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau, từ đó nâng cao tinh thần phối hợp, hợp tác trong thực hiện nhiệm vụ. Thông qua các hoạt động này, năng lực cá nhân của cán bộ từng bước được nâng cao, đáp ứng tốt hơn yêu cầu công tác trong tình hình mới. Thời gian qua, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Vĩnh Long đã tích cực triển khai nhiều hoạt động cụ thể, thiết thực nhằm nâng cao kỹ năng tuyên truyền, phòng, chống bạo lực gia đình, đồng thời thúc đẩy bình đẳng giới trong cộng đồng, góp phần xây dựng môi trường sống an toàn, tiến bộ và văn minh. Ngoài ra, các cấp hội đã tổ chức 18 lớp tập huấn nâng cao năng lực thực hiện lồng ghép giới, thu hút 842 người tham gia, đa phần là nam giới (Trúc Mai, 2025). Tỉnh ủy xác định thúc đẩy bình đẳng giới là nhiệm vụ quan trọng; giao trách nhiệm cụ thể cho chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng, triển khai và giám sát các kế hoạch về bình đẳng giới. Các tổ chức này phát huy vai trò tuyên truyền, nâng cao nhận thức, giám sát thực hiện chính sách, đồng thời phối hợp tổ chức tập huấn, hội thảo, tọa đàm nhằm nâng cao năng lực cho cán bộ và cộng đồng.
2.2. Hạn chế
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác lãnh đạo thực hiện bình đẳng giới của Tỉnh ủy Vĩnh Long còn tồn tại một số hạn chế, bất cập.
Thứ nhất, rào cản, thách thức từ nhận thức xã hội và định kiến giới. Tại tỉnh Vĩnh Long, dù đã có nhiều chuyển biến tích cực về nhận thức bình đẳng giới, song tư tưởng “trọng nam, khinh nữ” vẫn còn ảnh hưởng sâu sắc ở nhiều khu vực nông thôn – nơi chiếm hơn 70% dân số toàn tỉnh. Ở nhiều xã, đặc biệt tại các vùng sâu, vùng xa, phụ nữ vẫn thường được kỳ vọng là người “giữ lửa gia đình” hơn là đảm nhận vai trò lãnh đạo xã hội (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tỉnh ủy Vĩnh Long, 2025, p.514).
Thứ hai, hạn chế trong công tác quán triệt, triển khai chủ trương, nghị quyết. Việc quán triệt, triển khai một số văn bản, nghị quyết của Trung ương và Tỉnh ủy về bình đẳng giới tại một số cơ quan, đơn vị còn chậm, thiếu đồng bộ, làm giảm tính chủ động và chưa tạo được sự lan tỏa sâu rộng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và cộng đồng. Dù Tỉnh ủy Vĩnh Long đã ban hành các chương trình, kế hoạch hành động về bình đẳng giới và vì sự tiến bộ phụ nữ, nhưng việc triển khai ở một số địa phương, đơn vị còn mang tính hình thức (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tỉnh ủy Vĩnh Long, 2025, p.515).
Thứ ba, hạn chế trong lồng ghép bình đẳng giới vào xây dựng chính sách và chương trình phát triển. Việc lồng ghép nội dung giới và bình đẳng giới trong quá trình xây dựng chính sách, chương trình phát triển kinh tế – xã hội của địa phương còn hạn chế; các chương trình bình đẳng giới chủ yếu tập trung vào tuyên truyền, đào tạo nâng cao nhận thức và hỗ trợ phụ nữ, trong khi các chính sách, chỉ tiêu mang tính ràng buộc về tuyển chọn, quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ nữ vào vị trí lãnh đạo chưa được quan tâm đúng mức (Ngọc Minh, 2025). Điều này làm cho tiến trình cải thiện bình đẳng giới trong bộ máy lãnh đạo còn chậm và chưa toàn diện.
Thứ tư, hạn chế về năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới. Một bộ phận cán bộ phụ trách công tác bình đẳng giới còn hạn chế về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và kinh nghiệm thực tiễn, ảnh hưởng đến chất lượng tham mưu và hiệu quả tổ chức thực hiện các chính sách, chương trình về bình đẳng giới.
Thứ năm, hạn chế trong công tác kiểm tra, giám sát. Công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện bình đẳng giới và hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ ở một số nơi còn mang tính hình thức, chưa thường xuyên; việc phát hiện, xử lý vi phạm và kiến nghị giải pháp khắc phục có lúc, có nơi chưa kịp thời. Thứ sáu, hạn chế trong hợp tác và học hỏi kinh nghiệm quốc tế. Hoạt động hợp tác quốc tế trong thực hiện các mục tiêu bình đẳng giới còn hạn chế, chưa được mở rộng và duy trì thường xuyên; việc trao đổi, tiếp thu kinh nghiệm, mô hình, sáng kiến quốc tế còn ít, làm giảm hiệu quả áp dụng các giải pháp tiên tiến trong thực tiễn địa phương.
3. Giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Long đối với thực hiện bình đẳng giới thời gian tới
Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy các cấp, người đứng đầu trong việc thực hiện bình đẳng giới.
Thực tế cho thấy, nâng cao nhận thức, trách nhiệm về công tác bình đẳng giới là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, có tính then chốt để nâng cao hiệu quả hoạt động trên mọi lĩnh vực. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, cấp ủy và người đứng đầu tỉnh Vĩnh Long cần nhận thức đầy đủ rằng bình đẳng giới không chỉ là vấn đề xã hội mà còn là yêu cầu quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành. Bình đẳng giới vừa là quyền cơ bản của con người, vừa là yếu tố quyết định cho sự phát triển bền vững của xã hội, giúp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội và xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ.
Bên cạnh đó, việc tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bình đẳng giới cần được gắn kết chặt chẽ với các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước cũng như của Tỉnh ủy. Các cấp ủy và người đứng đầu cần nghiên cứu, xây dựng kế hoạch cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và Tỉnh ủy Vĩnh Long thành các hành động thiết thực, như phân công nhiệm vụ rõ ràng và ban hành các chính sách hỗ trợ, nhằm tạo điều kiện để phụ nữ phát huy năng lực, vai trò trong hoàn thành công vụ nói chung và công tác quản lý, lãnh đạo nói riêng. Mặt khác, cần phát huy vai trò nêu gương của người đứng đầu nhằm lan tỏa các giá trị bình đẳng giới trong tổ chức, cơ quan và cộng đồng. Trong đó, bám sát nhiệm vụ: “Tăng cường sự lãnh đạo, chi đạo của các cấp ủy đảng, trách nhiệm quản lý của chính quyền các cấp trong việc nâng cao nhận thức, triển khai thực hiện và hoàn thiện thể chế về bình đẳng giới. Đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong việc thực hiện các quy định về bình đẳng giới” (Chính phủ, 2021).
Hai là, chú trọng xây dựng, lồng ghép nội dung về bình đẳng giới gắn với chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Để nâng cao hiệu quả công tác bình đẳng giới, Tỉnh ủy Vĩnh Long cần lãnh đạo các cơ quan, đơn vị liên quan xây dựng và lồng ghép các nội dung về giới một cách đồng bộ, có hệ thống trong tất cả các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Trong quá trình xây dựng chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, cần tích hợp các mục tiêu và chỉ tiêu về bình đẳng giới vào từng nội dung, lĩnh vực. Việc phân tích tác động về giới giúp đảm bảo mọi chính sách, dự án, tạo cơ hội bình đẳng cho phụ nữ và nam giới trong tiếp cận nguồn lực, tham gia vào các hoạt động kinh tế, quản lý và lãnh đạo. Đồng thời, cần xác định các tiêu chí đánh giá khả năng thực hiện và kết quả đạt được về bình đẳng giới, từ đó làm cơ sở để giám sát, điều chỉnh chương trình, kế hoạch sao cho đạt hiệu quả thực chất. Bám sát quan điểm chỉ đạo của Đảng tại Đại hội XIII, đó là: “Hoàn thiện và thực hiện tốt luật pháp, chính sách liên quan đến phụ nữ, trẻ em và bình đẳng giới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, p.169).
Bên cạnh đó, Tỉnh ủy Vĩnh Long cần yêu cầu các cấp, ngành phân tích tác động của chính sách đối với nam và nữ, nhằm đảm bảo cả hai giới đều được hưởng lợi công bằng từ các hoạt động phát triển. Nội dung lồng ghép giới cần được cụ thể hóa thông qua việc phân tích tác động giới trong quá trình xây dựng kế hoạch hằng năm và trung hạn của tỉnh, áp dụng cho từng ngành, lĩnh vực. Đặc biệt chú trọng lồng ghép các mục tiêu và chỉ tiêu bình đẳng giới vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, chương trình xây dựng nông thôn mới, cải cách hành chính và các lĩnh vực có tỷ lệ nữ thấp như nông nghiệp, tài chính, công nghệ. Đặc biệt, cần đưa tiêu chí tỷ lệ nữ giữ vị trí lãnh đạo, quản lý vào hệ thống tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ hằng năm của cơ quan, đơn vị và người đứng đầu (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tỉnh ủy Vĩnh Long, 2025, p.167-168). Trong các chương trình giảm nghèo, dạy nghề, giải quyết việc làm, phát triển nông nghiệp - nông thôn, cần xác định rõ tỷ lệ và vai trò tham gia của phụ nữ, đồng thời bảo đảm họ có cơ hội tiếp cận các nguồn lực quan trọng như đất đai, tín dụng, thông tin thị trường và các khóa đào tạo nâng cao kỹ năng. Phấn đấu đến năm 2030, nhận thức về bình đẳng giới của các nhóm đối tượng trong cộng đồng tăng từ 10-15% so với năm 2025. Phấn đấu đến năm 2030 đạt 90% cơ quan truyền thông áp dụng Bộ chỉ số về giới trong truyền thông. Đến năm 2030 đạt 100% các hương ước, quy ước của cộng đồng đã được thông qua không có sự phân biệt đối xử về giới” (Phương Thư, 2025).
Ba là, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới.
Theo đó, Tỉnh ủy Vĩnh Long cần tập trung xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đồng bộ, bài bản nhằm trang bị cho đội ngũ cán bộ những kiến thức cơ bản và nâng cao về giới, bình đẳng giới, luật pháp liên quan, cũng như các kỹ năng triển khai, tham mưu, giám sát và đánh giá các chương trình, chính sách liên quan đến giới. Điều này đặt ra yêu cầu đòi hỏi Tỉnh ủy cần triển khai các lớp tập huấn, hội thảo chuyên sâu về bình đẳng giới, quản lý chương trình dự án, lồng ghép giới trong chính sách và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Các lớp học này cần được tổ chức định kỳ, kết hợp với việc mời chuyên gia, cán bộ có kinh nghiệm ở Trung ương hoặc các địa phương khác chia sẻ thực tiễn. Đồng thời, việc đào tạo nên gắn với nghiên cứu các văn bản pháp luật, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách của Nhà nước và kế hoạch hành động của tỉnh để cán bộ hiểu rõ cơ chế, quyền hạn và trách nhiệm trong việc triển khai các nhiệm vụ về bình đẳng giới.
Bên cạnh đào tạo chính quy, cần tổ chức các khóa bồi dưỡng ngắn hạn, tập trung vào kỹ năng mềm như kỹ năng truyền thông, tuyên truyền, phối hợp liên ngành, tham mưu và giám sát thực hiện các chương trình, dự án về giới. Đồng thời, cần tạo điều kiện cho cán bộ đi thực tế tại cơ sở, học hỏi kinh nghiệm từ các mô hình, dự án thành công, từ đó nâng cao khả năng áp dụng lý thuyết vào thực tiễn. Ngoài ra, cần xây dựng cơ chế đánh giá, khen thưởng cán bộ có năng lực, nhiệt huyết và sáng tạo trong thực hiện công tác bình đẳng giới, đồng thời có chính sách thu hút, giữ chân đội ngũ cán bộ chuyên trách có trình độ cao. Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Vĩnh Long và Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ các cấp cần chủ động chuyển vai trò từ “vận động, tuyên truyền” sang “tham mưu chiến lược” trong nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới từ cơ sở đến tỉnh đạt hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát về bình đẳng giới và hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ.
Để nâng cao hiệu quả công tác bình đẳng giới và thúc đẩy hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ, Tỉnh ủy Vĩnh Long cần tập trung củng cố, kiện toàn công tác kiểm tra, giám sát tại các cấp, các ngành. Nhiệm vụ này đòi hỏi cấp ủy các cấp cần xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát định kỳ về việc thực hiện các chính sách, nghị quyết, chỉ thị của Trung ương và Tỉnh ủy liên quan đến bình đẳng giới và phụ nữ. Việc này giúp kịp thời phát hiện các hạn chế, bất cập trong triển khai, đồng thời đưa ra các biện pháp khắc phục cụ thể, đảm bảo quyền lợi, cơ hội bình đẳng cho phụ nữ trong mọi lĩnh vực. Công tác kiểm tra, giám sát cần được triển khai toàn diện, kết hợp cả kiểm tra chuyên đề và kiểm tra định kỳ, tập trung vào các lĩnh vực trọng tâm như phát triển nguồn nhân lực nữ, nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý, lãnh đạo, tiếp cận cơ hội việc làm, đào tạo nghề và nguồn lực phát triển kinh tế.
Theo đó, Tỉnh ủy Vĩnh Long cần lãnh đạo các cấp bám sát Nghị quyết 28/NQ‑CP ngày 03/03/2021 của Chính phủ, đó là: “tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra liên ngành việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới” (Chính Phủ, 2021). Nội dung công tác kiểm tra cần đánh giá rõ: 1) Mức độ lồng ghép về bình đẳng giới trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; 2) Kết quả thực hiện các chỉ tiêu quốc gia về bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ; 3) Bố trí ngân sách cho các hoạt động giới; 4) Phát hiện những rào cản, định kiến giới vẫn còn tồn tại trong thực tiễn triển khai. Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và Liên hiệp Phụ nữ tỉnh trong việc giám sát, phản biện xã hội, đồng thời phối hợp với cơ quan chuyên môn để tổng hợp kết quả, báo cáo kịp thời với cấp ủy, Ủy ban nhân dân các cấp về kết quả thực hiện. Một mặt công tác kiểm tra, giám sát cũng cần đi kèm với cơ chế khen thưởng, biểu dương các tập thể, cá nhân thực hiện; mặt khác, xử lý nghiêm các trường hợp triển khai chậm, thiếu hiệu quả.
Năm là, tăng cường hợp tác quốc tế trong thực hiện các mục tiêu bình đẳng giới.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc tăng cường hợp tác quốc tế đóng vai trò quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả và tính bền vững của công tác bình đẳng giới. Thời gian tới, Tỉnh ủy Vĩnh Long cần lãnh đạo chính quyền các cấp, đặc biệt là cấp tỉnh, xây dựng kế hoạch triển khai các cam kết quốc tế của Việt Nam, bao gồm Công ước CEDAW, Chương trình nghị sự 2030 và các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs), đồng thời đưa các cam kết này vào chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Mặt khác, các cơ quan, đơn vị liên quan cần chủ động thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác với các tổ chức quốc tế và cơ quan phát triển như UN Women, UNDP, UNICEF, JICA, KOICA… nhằm tranh thủ hỗ trợ về kỹ thuật, tài chính, đồng thời học hỏi kinh nghiệm, mô hình thực tiễn hiệu quả trong thúc đẩy bình đẳng giới. Việc hợp tác này sẽ giúp tỉnh nâng cao năng lực quản lý, tổ chức thực hiện các chính sách và chương trình về quyền phụ nữ. Trong đó, chú trọng: “Chủ động, tăng cường hợp tác quốc tế trong thực hiện các mục tiêu bình đẳng giới; tranh thủ sự hỗ trợ kỹ thuật, tài chính, chuyên môn của các nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài trong lĩnh vực bình đẳng giới” (Chính Phủ, 2021).
Bên cạnh đó, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh cùng các cơ quan liên quan cần xây dựng kế hoạch, lộ trình phối hợp tổ chức hội thảo, tọa đàm, khóa tập huấn với chuyên gia quốc tế để cập nhật kiến thức mới và nâng cao năng lực cho cán bộ chuyên trách. Đồng thời, cần khuyến khích các địa phương tham gia các dự án thí điểm, chương trình hợp tác quốc tế về thúc đẩy quyền của phụ nữ, phòng chống bạo lực giới, nâng cao quyền năng kinh tế cho phụ nữ, tạo cơ hội tiếp cận các nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước.
4. Kết luận
Tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Long trong công tác bình đẳng giới hiện nay là yêu cầu khách quan, có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển bền vững của địa phương. Thông qua việc nâng cao nhận thức, hoàn thiện cơ chế, chính sách và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, công tác bình đẳng giới sẽ được triển khai đồng bộ, hiệu quả hơn trên các lĩnh vực. Đồng thời, sự lãnh đạo chặt chẽ của Tỉnh ủy sẽ góp phần phát huy vai trò, tiềm năng của phụ nữ và các giới trong tham gia phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc. Trong thời gian tới, cần tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội nhằm tạo chuyển biến rõ nét về bình đẳng giới, góp phần xây dựng tỉnh Vĩnh Long phát triển toàn diện, văn minh và bền vững./.
__________________________
Tài liệu tham khảo
1. Chính phủ. (2021). Nghị quyết 28/NQ‑CP ngày 03/03/2021 của Chính phủ về Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021‑2030.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
3. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tỉnh ủy Vĩnh Long. (2025). Kỷ yếu Hội thảo cấp Bộ: Phát triển đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý vùng Đồng bằng Sông Cửu Long thời kỳ mới, tháng 10/2025.
4. Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Vĩnh Long. (2025). Vĩnh Long: Thúc đẩy Bình đẳng giới vì sự phát triển toàn diện của phụ nữ, https://www.vwu.vn/web/guest/tin-chi-tiet/-/chi-tiet/vinh-long-thuc-%C4%91ay-binh-%C4%91ang-gioi-vi-su-phat-trien-toan-dien-cua-phu-nu-739601-7.html?, ngày 1/12/2025.
5. Ngọc Minh. (2025). Hội LHPN Vĩnh Long tập huấn về bình đẳng giới cho cán bộ cơ sở, https://phunuvietnam.vn/hoi-lhpn-vinh-long-tap-huan-ve-binh-dang-gioi-cho-can-bo-co-so-20251126162057819.htm?, ngày 27/11/2025.
6. Trúc Mai. (2025). Tổng kết Dự án 8 về thúc đẩy bình đẳng giới và bảo vệ quyền lợi phụ nữ, trẻ em, https://baovinhlong.com.vn/xa-hoi/202506/tong-ket-du-an-8-ve-thuc-day-binh-dang-gioi-va-bao-ve-quyen-loi-phu-nu-tre-em-28a0a22/, ngày 13/6/2025.
7. Phương Thư. (2025). Tăng cường hoạt động truyền thông về bình đẳng giới, https://baovinhlong.com.vn/xa-hoi/202512/tang-cuong-hoat-dong-truyen-thong-ve-binh-dang-gioi-a7306aa/, ngày 12/12/2025.
Nguồn: Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông điện tử
Bài liên quan
- Đổi mới tư duy của Nhà nước trong kỷ nguyên số: Từ quản lý sang quản trị, kiến tạo phát triển
- Nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay
- Vai trò của nông dân trong phát triển nông nghiệp bền vững - qua thực tiễn ở tỉnh Cao Bằng
- Nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ cấp xã ở tỉnh Khánh Hòa hiện nay
- Vai trò của văn hóa, văn nghệ trong tuyên truyền chính trị ở Thành phố Hà Nội hiện nay
Xem nhiều
-
1
Phiên bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng
-
2
Vai trò của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Lào trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay
-
3
Bế mạc Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam
-
4
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong truyền hình Việt Nam
-
5
Đổi mới tư duy của Nhà nước trong kỷ nguyên số: Từ quản lý sang quản trị, kiến tạo phát triển
-
6
Giá trị biểu tượng của con ngựa trong văn hóa Việt Nam và ý nghĩa đối với sự phát triển văn hóa đất nước trong kỷ nguyên vươn mình
Liên kết
- Báo điện tử đảng cộng sản việt nam
- Báo nhân dân
- Báo Quân đội nhân dân
- Cổng thông tin điện tử Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia hồ chí minh
- Tạp chí Cộng sản
- Tạp chí Giáo dục lý luận
- Tạp chí Giáo dục và Xã hội
- Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
- Tạp chí Lý luận chính trị
- Tạp chí Nghiên cứu con người
- TẠP CHÍ Nghiên cứu dân tộc
- Tạp chí Người làm báo
- Tạp chí Nội chính
- Tạp chí Quản lý Nhà nước
- Tạp chí Tổ chức Nhà nước
- Tạp chí Tuyên giáo
- Tạp chí Xây Dựng Đảng
- Thư viện số Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Trang thông tin điện tử Hội đồng Lý luận Trung ương
Giá trị biểu tượng của con ngựa trong văn hóa Việt Nam và ý nghĩa đối với sự phát triển văn hóa đất nước trong kỷ nguyên vươn mình
Trong văn hóa Việt Nam, từ đời sống văn hóa vật chất đến văn hóa tinh thần, con ngựa có vai trò, vị trí quan trọng và trở thành giá trị biểu tượng với nhiều chiều cạnh đa dạng. Từ đời sống sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu chống giặc ngoại xâm, đến đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, các hoạt động lễ hội, văn học, nghệ thuật, ngôn ngữ dân gian…, biểu tượng con ngựa đã “phi nước đại” từ quá khứ đến hiện tại để góp phần làm nên giá trị văn hóa Việt Nam đặc trưng, giàu bản sắc, thể hiện rõ sức mạnh mềm của văn hóa trong bối cảnh hội nhập ở kỷ nguyên vươn mình, cũng như cho thấy sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với văn hóa. Hiểu và tiếp nối, trao truyền, sáng tạo không ngừng giá trị biểu tượng của con ngựa trong văn hóa Việt Nam cũng chính là góp phần gìn giữ, phát huy và làm rạng danh các giá trị văn hóa truyền thống trong xã hội đương đại, nhằm thúc đẩy văn hóa, con người, đất nước ta phát triển bền vững trong thời đại mới.
Đổi mới tư duy của Nhà nước trong kỷ nguyên số: Từ quản lý sang quản trị, kiến tạo phát triển
Đổi mới tư duy của Nhà nước trong kỷ nguyên số: Từ quản lý sang quản trị, kiến tạo phát triển
Trong kỷ nguyên số, công nghệ, dữ liệu và các nền tảng số đang định hình không gian vận hành của quyền lực công, đặt ra yêu cầu chuyển dịch tư duy quản trị nhà nước theo hướng hiện đại và kiến tạo phát triển. Từ góc độ chính trị học, bài viết phân tích đổi mới tư duy của Nhà nước như một quá trình tái cấu trúc tư duy quyền lực nhằm thích ứng với môi trường số phi tập trung, xuyên biên giới và biến đổi nhanh chóng, làm rõ sự khác biệt về bản chất quyền lực giữa ba cách tiếp cận: (i) tư duy quản lý; (ii) tư duy quản trị và (iii) tư duy kiến tạo phát triển. Trên cơ sở đó, bài viết luận giải vì sao tư duy quản lý truyền thống không còn phù hợp trong kỷ nguyên số, đồng thời khẳng định, quản trị và kiến tạo phát triển là lựa chọn tất yếu để củng cố tính chính danh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc trong không gian số. Bài viết cũng gợi mở định hướng tiếp cận phương thức quản trị nhà nước phù hợp cho Việt Nam trong kỷ nguyên số dựa trên tham khảo kinh nghiệm tư duy quản trị hiện đại của một số quốc gia trên thế giới.
Tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Long trong công tác bình đẳng giới hiện nay
Tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Long trong công tác bình đẳng giới hiện nay
Bình đẳng giới là nguyên tắc và mục tiêu xã hội, trong đó nam, nữ và các giới khác có vị thế, quyền, nghĩa vụ và cơ hội ngang nhau trong mọi lĩnh vực của đời sống như giáo dục, lao động, chính trị, kinh tế, văn hóa và gia đình… Thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Long công tác này đã đạt được những kết quả ấn tượng, góp phần nâng cao vai trò, vị thế của phụ nữ; thu hẹp dần khoảng cách giới; tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội; tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của tỉnh. Trên tinh thần đó, bài viết làm rõ thực trạng Tỉnh ủy Vĩnh Long trong công tác bình đẳng giới hiện nay, chỉ rõ một số hạn chế, tồn tại; từ đó, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác này thời gian tới.
Nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay
Nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay
Kinh tế tập thể, hợp tác xã đang ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của các địa phương. Với tiềm năng, lợi thế về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tỉnh Thanh Hóa có nhiều thuận lợi để phát triển hợp tác xã nông nghiệp. Bài viết phân tích làm rõ thực trạng hoạt động và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa hiện nay.
Vai trò của nông dân trong phát triển nông nghiệp bền vững - qua thực tiễn ở tỉnh Cao Bằng
Vai trò của nông dân trong phát triển nông nghiệp bền vững - qua thực tiễn ở tỉnh Cao Bằng
Phát triển nông nghiệp bền vững là định hướng lớn của Đảng nhằm bảo đảm an ninh lương thực, bảo vệ môi trường và nâng cao đời sống nông dân, đặc biệt ở các tỉnh miền núi như Cao Bằng. Bài viết phân tích vai trò chủ thể của nông dân trong tiến trình này, dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn địa phương. Qua số liệu về cơ cấu kinh tế, mô hình sản xuất và liên kết chuỗi giá trị, bài viết làm rõ những đóng góp nổi bật của nông dân trong chuyển đổi nông nghiệp theo hướng bền vững, đồng thời chỉ ra hạn chế và đề xuất giải pháp nhằm phát huy vai trò của nông dân tỉnh Cao Bằng hướng tới nền nông nghiệp hiệu quả, sinh thái và gắn kết cộng đồng.
llcttt1994dientu@gmail.com
024.38348033
Bình luận