Cần chuẩn hóa mô hình tòa soạn để báo chí hoạt động chuyên nghiệp, hiệu quả
Chưa định rõ mô hình
Quyết định 362/QĐ-TTg cũng nêu rõ: “Sắp xếp hệ thống báo chí, khắc phục tình trạng chồng chéo, đầu tư dàn trải, buông lỏng quản lý, hoạt động xa rời tôn chỉ, mục đích; gắn với việc xác định rõ trách nhiệm lãnh đạo, quản lý báo chí của các cấp ủy Đảng, chính quyền, nhất là của người đứng đầu cơ quan chủ quản và cơ quan báo chí…”(3); “Sắp xếp hệ thống các cơ quan báo in gắn với đổi mới mô hình tổ chức, quản lý theo hướng giảm số lượng cơ quan báo in, mỗi cơ quan có thể có nhiều ấn phẩm (trong đó có một ấn phẩm chính và có thể có một số ấn phẩm khác). Các cơ quan báo sau khi sắp xếp đều có cơ quan chủ quản trực tiếp là cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc cấp bộ, ngành trung ương (trừ các quân khu, quân chủng) tạo điều kiện thuận lợi hơn cho công tác chỉ đạo, quản lý. Các cơ quan báo chí được giao quyền tự chủ tài chính. Nhà nước tập trung đầu tư ngân sách cho một số cơ quan báo chủ lực…”(4); “Thực hiện sắp xếp, giảm đầu mối, khắc phục tình trạng chồng chéo, dàn trải…”(5).
Tuy nhiên, hiện một số cơ quan chủ quản và cơ quan báo chí còn khá lúng túng trong việc triển khai quy hoạch báo chí, trong đó có cả cơ quan báo chí được xếp vào nhóm chủ lực trong thực hiện quy hoạch. Sự lúng túng chủ yếu tập trung ở việc tổ chức mô hình hoạt động; xác định cơ quan chủ quản; tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ, vị trí việc làm và vấn đề giải quyết dôi dư biên chế; vấn đề chuyển đổi loại hình báo chí như từ báo in sang báo điện tử, từ tạp chí in sang tạp chí điện tử, từ báo thành tạp chí; vấn đề tự chủ tài chính… Thậm chí, ngay cả cơ quan quản lý nhà nước về báo chí cũng còn lúng túng, gặp khó khăn khi giải quyết một số vấn đề thực tiễn đối với các cơ quan báo chí khi triển khai thực hiện Quy hoạch báo chí.
Điều đó cho thấy, trong ban hành chính sách về báo chí, chúng ta chưa nghiên cứu thấu đáo để thống nhất đưa ra một mô hình tổ chức cơ quan báo chí chuẩn mực của quốc gia và tính đặc thù để các cơ quan báo chí vận dụng hiệu quả, phù hợp với quy chuẩn hoạt động báo chí quốc tế và trong khu vực.
Việc cơ quan quản lý báo chí và cơ quan báo chí lúng túng khi xác định đơn vị chủ quản báo chí hoặc chuyển đổi loại hình báo chí chưa phù hợp với thực tế có nguyên nhân gốc rễ từ việc hoạch định chính sách. Sự kết hợp giữa “3 nhà” trong xây dựng chính sách, bao gồm nhà nghiên cứu lý luận, nhà hoạt động thực tiễn báo chí và nhà làm chính sách chưa thật tốt, chính sách chưa có cơ sở lý luận và thực tiễn, do đó khó có thể chính sách áp dụng trong thực tiễn hiệu quả.
Ví dụ, ở góc độ lý luận, nếu chính sách chưa giải mã tường minh các từ khóa, khái niệm như “hội tụ”, “đa phương tiện”, “4.0”, “số hóa”, “trung tâm”, “tập đoàn”, “báo”, “tạp chí”, “tạp chí điện tử”, “tôn chỉ, mục đích”, “chức năng, nhiệm vụ”, “mạng xã hội”… thì vận dụng trong thực tiễn chính sách dễ máy móc, sai lệch, thậm chí là phản tác dụng.
Tham khảo từ thế giới
Lịch sử phát triển báo chí của thế giới đã trải qua việc áp dụng nhiều mô hình tổ chức hoạt động cơ quan báo chí khác nhau. Các mô hình tổ chức hoạt động cơ quan báo chí về bản chất đều gắn với việc thực hiện tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, vị trí việc làm và chất lượng sản phẩm báo chí. Dưới đây là một số mô hình:
Thứ nhất, mô hình Tòa soạn hình tháp (tower-office), hay còn gọi là Mô hình truyền thống, được áp dụng ngay từ thời kỳ đầu tiên khi ra đời báo chí định kỳ, hiện đại (đầu thế kỷ XVII) ở các nước châu Âu như Đức, Bỉ, Pháp, Anh, Tây Ban Nha. Mô hình này được áp dụng phổ biến trong cấu trúc tổ chức bộ máy hoạt động công sở nói chung, trong đó cấu trúc bởi 3 bộ phận: bộ phận lãnh đạo, quản lý; bộ phận chuyên môn, nghiệp vụ; bộ phận hỗ trợ, phục vụ. Mô hình này trước đây có nhiều lợi thế, nhưngở thời điểm này, nó ít còn phù hợp, cần có sự thay thế bằng mô hình mới, hiện đại hơn. Hầu hết cơ quan báo chí ở Việt Nam vẫn đang áp dụng mô hình này.
Thứ hai, mô hình Tòa soạn “đảo” (island-office), được báo chí ở các nước phương Tây áp dụng khoảng những năm 80 của thế kỷ XX, điển hình là ở Anh, Pháp, Đức, Bỉ, Thụy Điển, Đan Mạch.... Ở châu Á, các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore, Malaysia cũng đã áp dụng mô hình này. Các tập đoàn truyền thông ở Mỹ như CNN (Cable News Network), AP (Associated Press) cũng đã sớm áp dụng mô hình này để quản trị truyền thông, báo chí hiệu quả.
Mô hình này cấu trúc hoạt động báo chí chung trong một không gian, tạo ra các “hòn đảo”. Về bản chất, giống như một cái “chợ”, một “công xưởng” sản xuất các sản phẩm báo chí mang tính chất “công nghiệp” làm báo.
Mô hình này khắc phục được những hạn chế của mô hình truyền thống như giảm bớt sự cồng kềnh về bộ máy lãnh đạo, quản lý, người làm chuyên môn; giảm đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật; thể hiện tính dân chủ, công bằng trong lao động báo chí; hình thành môi trường văn hóa báo chí, khích lệ sự sáng tạo của đội ngũ nhà báo; bước đầu đã ứng dụng công nghệ thông tin để quản trị cơ quan báo chí hiệu quả; đồng thời hình thành một nền “công nghiệp báo chí” mang tính chất hoạt động kinh tế thương mại báo chí rõ ràng. Tuy nhiên, mô hình Toà soạn “đảo” chỉ phù hợp triển khai áp dụng được ở một số quốc gia phát triển. Ở Việt Nam, trước đây, một số tòa soạn đã thực nghiệm, tuy nhiên hiệu quả thấp, phải chuyển đổi về mô hình cơ quan báo chí truyền thống. Nguyên nhân lớn nhất vẫn xuất phát từ góc độ văn hóa công sở và trình độ quản trị cơ quan báo chí, nhất là vấn đề ứng dụng kỹ thuật, công nghệ mới trong quản trị công sở. Mặt khác, vốn gốc của các tòa soạn là tổ chức theo mô hình cơ quan báo chí truyền thống, việc sáng tạo tác phẩm và tổ chức sản xuất chủ yếu mang tính thủ công, trên nền tảng kỹ thuật giản đơn.
Thứ ba, mô hình Tòa soạn hội tụ (focus-office), ra đời ở các nước phương Tây và Mỹ vào cuối những năm 90 của thế kỷ XX và phát triển mạnh vào đầu thế kỷ XXI, khi mà ngành công nghiệp công nghệ thông tin phát triển ở mức độ cao, nhất là việc thế hệ Web 1.0 được nâng cấp lên 2.0 và phát triển các đường truyền Internet băng thông rộng có dây và không dây cũng như các thế hệ máy tính có cấu hình cao, các phần mềm tiện ích, tạo điều kiện tối đa để các nhà báo, người làm truyền thông tác nghiệp.
Mô hình Tòa soạn hội tụ được các cơ quan báo mạng điện tử ứng dụng tối đa vận hành quản trị công sở sản xuất sản phẩm báo chí phi định kỳ, phi tuyến tính. Ở thời điểm này, các cơ quan báo chí sản xuất các loại hình báo chí truyền thống, định kỳ như báo in, phát thanh, truyền hình cũng đã “quan tâm” đến việc ứng dụng tối đa để hình thành “Tòa soạn hội tụ” nhưng đều thất bại, do không thể phá bỏ được đặc tính định kỳ và quy trình sản xuất sản phẩm báo chí theo cách truyền thống; mặt khác, nhân lực tại các cơ quan báo chí truyền thống chưa có khả năng làm chủ công nghệ và kỹ năng quản trị công sở theo tính chất “sản xuất báo chí công nghiệp”.
Như vậy, mô hình Tòa soạn hội tụ chỉ thích hợp với các tòa soạn độc lập, xuất bản duy nhất sản phẩm báo mạng điện tử. Trong tòa soạn áp dụng mô hình này sẽ có một bàn “siêu biên tập” (super desk), hội tụ tất cả tin tức, dữ liệu thông tin từ các nguồn khác nhau về, sau đó các biên tập viên sẽ tổ chức, biên tập, đăng tải trên các định dạng sản phẩm báo mạng điện tử tương thích với các ứng dụng như máy tính để bàn, máy tính xách tay, máy tính bản, điện thoại thông minh, di động; trao đổi thông tin bằng các công cụ như: chatbox, inbox, email hoặc trên nền tảng của các trang mạng xã hội như Twitter, Youtube, Facebook, Instagram, Zalo… Ngoài đáp ứng các tính năng cung cấp thông tin tin tức báo chí nhanh nhất, Tòa soạn hội tụ được quản trị hệ thống bằng công nghệ với các phần mềm tiện ích; đồng thời còn có khả năng cung cấp các dịch vụ xã hội, văn hóa - giải trí trực tuyến, quảng cáo, tài trợ…; điều này các tòa soạn báo chí truyền thông ít có khả năng làm được.
Hiện nay, ở Mỹ, Anh, Pháp, Áo, Đức, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Đan Mạch, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Trung Quốc có khá nhiều báo mạng điện tử áp dụng mô hình Tòa soạn hội tụ. Tờ báo điện tử 24 giờ của Thụy Điển đã áp dụng mô hình này khá thành công từ năm 1999. Ở Việt Nam, VnExpress.net là tờ báo điện tử xây dựng và áp dụng mô hình Tòa soạn hội tụ với hệ thống “siêu biên tập” hiện đại.
Thứ tư, mô hình Tòa soạn đa phương tiện. Thuật ngữ truyền thông đa phương tiện (multi-media) xuất hiện ở Mỹ từ những năm 50 của thế kỷ XX. Ban đầu, các nghệ sĩ đưa ra một ý tưởng mang tính mơ ước, đó là trong các sản phẩm nghệ thuật của họ làm ra có khả năng tích hợp, biểu đạt được bằng đa mã ngôn ngữ (văn bản, hình ảnh, ảnh thanh)... Tuy nhiên, ước mơ này không trở thành hiện thực, bởi thời điểm này kỹ thuật - công nghệ truyền thông chưa có khả năng tích hợp, biểu đạt thông điệp bằng đa mã ngôn ngữ.
Phải đến thập niên 1990, lúc này ngành công nghiệp công nghệ thông tin mới bùng nổ, Internet phát triển, kết nối, sẻ chia, lưu trữ, tra cứu dữ liệu thông tin ở quy mô toàn cầu. Thế hệ web 1.0 được thay thế bằng thế hệ web 2.0 với đường truyền cáp quang băng thông rộng, vệ tinh địa tĩnh… cung cấp các dịch vụ thông tin trở nên tiện ích, hữu hiệu. Lúc này, ước mơ tích hợp biểu đạt thông điệp bằng đa mã ngôn ngữ của các nghệ sĩ trước đây đã thành hiện thực. Các tòa soạn đã tận dụng tối đa các tiện ích của cộng nghệ thông tin ứng dụng trong sản xuất sản phẩm báo chí.
Thuật ngữ “Cơ quan báo chí đa loại hình”, “Tòa soạn đa phương tiện” được các nước như: Đức, Áo, Đan Mạch, Thụy Điển, Anh, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore, Malaysia áp dụng để quản trị tòa soạn có ít nhất từ hai loại hình, sản phẩm báo chí trở lên.
Hiện nay, một số cơ quan báo chí ở Việt Nam cũng đã thực nghiệm tổ chức theo mô hình Tòa soạn đa phương tiện. Tuy nhiên, do chưa tường minh về mô hình và hiểu đúng bản chất của thuật ngữ "multi-media", nên tổ chức hoạt động tòa soạn chưa hiệu quả.
Bản chất của mô hình này là “hiện đại hóa” mô hình Tòa soạn hình tháp và mô hình Tòa soạn “đảo” dựa trên nền tảng của công nghệ thông tin. Tòa soạn đa phương tiện được hiểu đầy đủ bản chất bằng 5 chữ “đa” (multi), bao gồm: 1) Tòa soạn có khả năng tích hợp sản xuất đa loại hình báo chí (từ 2 loại hình báo chí trở lên) trong một tòa soạn. Điều này trước đây các tòa soạn áp dụng mô hình cơ quan báo chí truyền thống chỉ sản xuất được một loại hình, sản phẩm báo chí (tòa soạn đơn phương tiện). 2) Tác phẩm và sản phẩm báo chí tích hợp biểu đạt bằng đa mã ngôn ngữ (text, image, audio clip, video clip, interactive...). Điều này trước đây các cơ quan báo chí áp dụng theo mô hình cơ quan báo chí truyền thống ít có khả năng thực hiện được (ngôn ngữ đơn phương tiện). 3) Tòa soạn tận dụng tối đa kỹ thuật - công nghệ cao trong quản trị sản xuất sản phẩm báo chí; đặc biệt là dựa trên đa nền tảng (muiti-platform) của công nghệ thông tin, số hóa dữ liệu (digitize data), internet vạn vật (internet of things), điện toán đám mây (icloud), trí tuệ nhân tạo (artificial intelligence)... Trong tòa soạn áp dụng mô hình quản trị này, nhà báo không chỉ là người sáng tạo nội dung mà còn phải là một chuyên gia về công nghệ. Nếu như ở các mô hình tổ chức cơ quan báo chí truyền thống coi việc sáng tạo nội dung là “vua” thì ở mô hình này, đối với nhà báo, công nghệ còn phải được coi là “nữ hoàng”. 4) Tòa soạn hình thành mô hình “nhà báo đa năng” (multi-journalist). Các nhà báo hoạt động trong mô hình tòa soạn truyền thống thường được tổ chức phân công công việc theo chức danh nghề nghiệp và chuyên môn chuyên sâu, do đó thường có sự phân lập rành mạch về chức trách, nhiệm vụ cá nhân trong quy trình sáng tạo tác phẩm và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí theo tính chất “đơn năng”. Tính chuyên biệt này có những ưu điểm, nhưng cũng có những hạn chế, đặc biệt là đối với việc tác nghiệp báo chí trong môi trường số hóa, tích hợp đa loại hình, phương tiện. Hình thành mô hình “nhà báo đa năng” là để đáp ứng việc sáng tạo tác phẩm báo chí đa phương tiện và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí đa loại hình trong điều kiện chuyển đổi từ mô hình cơ quan báo chí truyền thống sang mô hình cơ quan báo chí đa phương tiện, trong điều kiện không cho phép “phình to” tổ chức bộ máy cũng như tăng nhân lực lao động báo chí. 5) Tòa soạn tận dụng tối đa khả năng tương tác (interactive) đa chiều trong các sản phẩm, tác phẩm báo chí cũng như các dịch vụ xã hội để kéo gần khoảng cách giữa công chúng với báo chí, tạo nên sự dân chủ hóa trong truyền thông và tăng hiệu quả, hiệu lực hoạt động của báo chí.
Thứ năm, mô hình Tập đoàn truyền thông (media-group). Bản chất của mô hình này là hoạt động sản xuất kinh doanh báo chí, được áp dụng phổ biến ở các nước phương Tây và Mỹ. Ban đầu là các cơ quan báo chí hoạt động kinh doanh, tạo dựng được thương hiệu, thâu tóm các đơn vị báo chí nhỏ lẻ, thành lập tập đoàn kinh doanh báo chí, trong đó chú trọng tính độc quyền hóa và thương mại hóa thông tin. Cơ chế báo chí ở Việt Nam không áp dụng được mô hình tập đoàn báo chí.
Thứ sáu, mô hình Trung tâm truyền thông (media-center). Bản chất của mô hình này là cấu trúc thành một tổ chức truyền thông để hình thành các dịch vụ thông tin báo chí và tin tức với các loại hình, sản phẩm truyền thông khác nhau. Trước đây, ở các nước phương Tây, Mỹ và một số nước ở châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan cũng đã hình thành mô hình “trung tâm truyền thông”, sau đó dần bị thay thế bởi mô hình “tập đoàn truyền thông” (media-group).
Hiện nay, ở Việt Nam, Quảng Ninh là địa phương đầu tiên trong cả nước thực nghiệm áp dụng mô hình Trung tâm truyền thông trên cơ sở sáp nhập Báo Quảng Ninh, Đài Phát thanh và Truyền hình Quảng Ninh, Báo Hạ Long, Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh thành Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh. Qua một thời gian ngắn, Trung tâm này chưa chính thức tổng kết, đánh giá về tính khả thi, hiệu quả thực tế, do đó chưa thể khẳng định được đây là mô hình lý tưởng để các cơ quan báo chí áp dụng, nhất là đối với các đơn vị báo chí địa phương và các đơn vị báo chí trực thuộc các bộ, ngành, trong đó kể cả các đơn vị báo chí được xác định là chủ lực trong thực hiện Quy hoạch báo chí.
Với 6 mô hình tổ chức hoạt động nêu trên, các cơ quan báo chí có thể tham khảo, cân nhắc và quyết định lựa chọn để xây dựng, tổ chức mô hình hoạt động hiệu quả.
Hiện nay, việc xác định vị trí việc làm trong cơ quan báo chí rất quan trọng, quyết định tính chất hoạt động báo chí chuyên nghiệp của nền báo chí cách mạng Việt Nam. Ngày 1/6/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 62/NĐ-CP về vị trí việc làm và biên chế công chức, theo đó, các cơ quan báo chí cần xác định rõ vị trí việc làm và biên chế nhân lực lao động báo chí. Nếu không thực hiện nghiêm tôn chỉ, mục đích; xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; lựa chọn mô hình hoạt động thích hợp, sẽ khó có thể xác định được vị trí việc làm, vấn đề tiền lương, thu nhập của các nhà báo. Đồng thời, điều này cũng sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng báo chí, tính chuyên nghiệp trong hoạt động nghề nghiệp, nhất là đối với việc thực hiện các chính sách báo chí, trong đó có vấn đề tự chủ tài chính, đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật - công nghệ và sử dụng nhân lực làm báo./.
____________________
Bài đăng trên Tạp chí điện tử Tuyên giáo ngày 4.12.2020
(1) (2) (3) (4) (5) Quyết định số 362/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025.
PGS, TS HÀ HUY PHƯỢNG
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Nguồn: http://tuyengiao.vn/
Bài liên quan
- Các góc độ nghiên cứu quản trị tài chính cơ quan báo chí trong bối cảnh chuyển đổi số
- Xây dựng mô hình hợp tác giữa cơ sở đào tạo báo chí, truyền thông và doanh nghiệp
- Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực báo chí - truyền thông trong kỷ nguyên chuyển đổi số
- Vai trò của báo chí trong truyền thông về rối loạn phổ tự kỷ
- Quản lý dự án truyền thông: đặc trưng, mô hình và nguyên tắc hoạt động
Xem nhiều
-
1
Hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới của Đảng trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
-
2
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc sử dụng cán bộ trong xây dựng cán bộ chuyên trách đối ngoại quốc phòng quân đội hiện nay
-
3
Hợp tác học thuật và ngoại giao tri thức giữa Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và các quốc gia Mỹ Latinh: Kinh nghiệm và gợi mở từ chuyến công tác tại Brasil và Chile
-
4
Hành vi tiếp nhận sản phẩm truyền thông tạo sinh bởi AI của công chúng trẻ hiện nay
-
5
Thực trạng chuyển đổi số cơ quan báo chí và một số giải pháp (Nghiên cứu trường hợp Báo Đại đoàn kết)
-
6
Thông tin khoa học trên Đông Dương Tạp chí từ năm 1913 đến năm 1917
Liên kết
- Báo điện tử đảng cộng sản việt nam
- Báo nhân dân
- Báo Quân đội nhân dân
- Cổng thông tin điện tử Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia hồ chí minh
- Tạp chí Cộng sản
- Tạp chí Giáo dục lý luận
- Tạp chí Giáo dục và Xã hội
- Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
- Tạp chí Lý luận chính trị
- Tạp chí Nghiên cứu con người
- TẠP CHÍ Nghiên cứu dân tộc
- Tạp chí Người làm báo
- Tạp chí Nội chính
- Tạp chí Quản lý Nhà nước
- Tạp chí Tổ chức Nhà nước
- Tạp chí Tuyên giáo
- Tạp chí Xây Dựng Đảng
- Thư viện số Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Trang thông tin điện tử Hội đồng Lý luận Trung ương
10 sự kiện, hoạt động nổi bật của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh 2025
Năm 2025 đánh dấu một năm hoạt động sôi động, toàn diện và có nhiều dấu ấn nổi bật của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực xây dựng Đảng, đào tạo – bồi dưỡng cán bộ, nghiên cứu lý luận, đối ngoại và chuyển đổi số. Trọng tâm là việc tổ chức thành công Đại hội Đảng bộ Học viện nhiệm kỳ 2025–2030, tạo nền tảng chính trị vững chắc cho giai đoạn phát triển mới. Học viện tiếp tục tiên phong, gương mẫu trong thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp và tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị; đồng thời đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Hoạt động nghiên cứu khoa học, tham gia xây dựng các văn kiện quan trọng của Đảng được đẩy mạnh, gắn chặt giữa lý luận và thực tiễn. Các phong trào thi đua, hội thi chuyên môn, cuộc thi chính luận được tổ chức bài bản, lan tỏa sâu rộng. Công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế, an sinh xã hội, đầu tư cơ sở vật chất và chuyển đổi số tiếp tục đạt nhiều kết quả nổi bật, khẳng định vai trò, vị thế của Học viện trong hệ thống chính trị và đời sống khoa học của đất nước.
Các góc độ nghiên cứu quản trị tài chính cơ quan báo chí trong bối cảnh chuyển đổi số
Các góc độ nghiên cứu quản trị tài chính cơ quan báo chí trong bối cảnh chuyển đổi số
Chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc mô hình hoạt động và cách thức tạo lập nguồn lực của các cơ quan báo chí, đặt ra những yêu cầu mới đối với tổ chức và vận hành tòa soạn, đặc biệt ở phương diện quản trị tài chính. Sự suy giảm nguồn thu truyền thống, yêu cầu tự chủ và áp lực gia tăng chi phí đầu tư công nghệ đang tác động trực tiếp đến khả năng duy trì chất lượng nội dung và thực hiện nhiệm vụ chính trị của báo chí. Trước tình hình đó, nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu, bàn luận về vấn đề này. Tổng quan cho thấy, các nghiên cứu hiện nay chủ yếu tiếp cận vấn đề từ góc độ kinh tế báo chí, mô hình tài chính hoặc cơ chế chính sách, trong khi các phân tích đặt quản trị tài chính ở cấp độ quản trị nội bộ vẫn còn hạn chế. Thực tiễn này cho thấy yêu cầu phải tiếp tục nghiên cứu về xu hướng tích hợp quản trị, tổ chức hoạt động tòa soạn và các yếu tố tài chính trong bối cảnh chuyển đổi số báo chí hiện nay.
Xây dựng mô hình hợp tác giữa cơ sở đào tạo báo chí, truyền thông và doanh nghiệp
Xây dựng mô hình hợp tác giữa cơ sở đào tạo báo chí, truyền thông và doanh nghiệp
Trong kỷ nguyên số, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ và phương tiện truyền thông kỹ thuật số đã đặt ra yêu cầu cấp thiết cho các trường đại học trong việc đổi mới mô hình đào tạo nói chung, ngành truyền thông nói riêng. Tuy nhiên, giữa chương trình giảng dạy và nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp vẫn tồn tại khoảng cách, khiến nhiều sinh viên ra trường thiếu kỹ năng nghề nghiệp, khó thích ứng với thị trường lao động. Nghiên cứu này đề xuất mô hình hợp tác giữa cơ sở đào tạo báo chí, truyền thông và doanh nghiệp nhằm xây dựng hệ sinh thái đào tạo gắn với thực tiễn. Trên cơ sở kết quả khảo sát và phân tích mô hình thành công trong và ngoài nước, đề tài xây dựng khung hợp tác để rút ngắn khoảng cách giữa lý thuyết và thực hành, nâng cao năng lực nghề nghiệp cho sinh viên. Đồng thời, tạo tiền đề cho các cơ sở đào tạo xây dựng chiến lược đào tạo nhân lực truyền thông chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu trong thời đại số.
Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực báo chí - truyền thông trong kỷ nguyên chuyển đổi số
Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực báo chí - truyền thông trong kỷ nguyên chuyển đổi số
Kỷ nguyên chuyển đổi số đang đặt ra những yêu cầu mới và toàn diện đối với nguồn nhân lực báo chí - truyền thông. Trên tinh thần đó, bài viết sẽ đi sâu phân tích những yêu cầu toàn diện mà kỷ nguyên chuyển đổi số đặt ra đối với nguồn nhân lực báo chí - truyền thông, đánh giá thực trạng năng lực đội ngũ hiện nay ở nước ta, từ đó đề xuất các giải pháp căn cơ nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, hướng tới kiến tạo thế hệ nhà báo “đa năng, đa nhiệm”, làm chủ công nghệ và giữ vững bản lĩnh chính trị trong kỷ nguyên số.
Vai trò của báo chí trong truyền thông về rối loạn phổ tự kỷ
Vai trò của báo chí trong truyền thông về rối loạn phổ tự kỷ
Bài viết sử dụng cách tiếp cận truyền thông vì sự phát triển và thuyết kiến tạo xã hội nhằm phân tích vai trò của báo chí trong truyền thông về rối loạn phổ tự kỷ (ASD). Nghiên cứu đối sánh thực trạng truyền thông quốc tế (chuyển dịch từ mô hình y tế sang đa dạng thần kinh) với thực tiễn tại Việt Nam. Kết quả cho thấy báo chí đã góp phần nâng cao nhận thức nhưng vẫn định khung ASD chủ yếu là vấn đề y tế hoặc gánh nặng gia đình, dẫn đến định kiến và kỳ thị kéo dài. Người tự kỷ và gia đình vắng bóng tiếng nói, trong khi giới chuyên môn chiếm ưu thế và ít ý kiến từ cơ quan nhà nước. Định khung thông tin tác động khiến công chúng kỳ vọng người tự kỷ phải hòa nhập hơn là kêu gọi cộng đồng điều chỉnh. Báo chí nên cải thiện cách đưa tin theo mô hình xã hội về khuyết tật, đề cao tiếng nói của người trong cuộc và giảm thiểu giật gân. Bài viết đề xuất ba vai trò trọng tâm là Kiến tạo chính sách, Trao quyền tiếng nói và Cung cấp thông tin nhân văn, nhằm thúc đẩy nhận thức và chính sách hỗ trợ bền vững.
llcttt1994dientu@gmail.com
024.38348033
Bình luận