Danh nhân Việt Nam tuổi Tuất
Trong số danh nhân ảnh hưởng lớn tới tiến trình lịch sử Việt Nam, có khá nhiều vị tuổi Tuất. Đó là:
- Lý Công Uẩn: Sinh năm Giáp Tuất 974, quê Bắc Ninh, vị vua đầu nhà Lý, hiệu Thái Tổ. Thuở nhỏ làm con nuôi đại sư Lý Khánh Văn, dày công tu học và luyện tập. Nghị lực, thông minh, văn võ song toàn, trưởng thành được tiến cử vào quan trường, thăng đến chức Điện tiền Chỉ huy sứ, phụ trách quân cấm vệ. Nhà Tiền Lê suy yếu, năm 1009 Lê Ngoạ Triều mất. Được ủng hộ rộng rãi, suy tôn lên ngôi, năm 1010 ông chính thức đăng quang, khai sinh vương triều Lý và cho rời kinh đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Đại La (Hà Nội), đổi tên là Thăng Long. Ông còn thực thi cải cách mạnh mẽ công quyền, kinh tế, văn hoá, lễ nghi và chấn hưng Phật giáo.
- Trần Quốc Tuấn, sinh năm Bính Tuất 1226, quê Nam Định, danh tướng thời Trần, anh hùng dân tộc. Giỏi ứng biến, giàu mưu lược, võ thuật cao cường, được triều đình trọng dụng, phong làm Tiết chế, thống lĩnh toàn bộ quân đội. Là thiên tài quân sự, ông từng lãnh dạo quân dân nhà Trần đánh bại các cuộc xâm lược của giặc Nguyên Mông - đế quốc mạnh nhất thế giới bấy giờ, bảo vệ vững chắc độc lập tổ quốc. Ông cũng để lại nhiều bài học về đức độ, xử thế, dùng người và những tác phẩm chính luận, quân sự nổi tiếng: Hịch tướng sĩ, Binh thư yếu lược, Vạn Kiếp tông bí truyền thư.
- Nguyễn Chích: Sinh năm Nhâm Tuất 1382, quê Thanh Hoá, danh tướng, khai quốc công thần thời Hậu Lê. Xuất thân từ cảnh nghèo khổ nhưng vốn mạnh mẽ, linh hoạt, nồng nàn yêu nước, ông chiêu tập hàng ngàn người trong vùng, xây đồn đắp luỹ làm căn cứ kháng chiến chống giặc Minh. Sau đó, đem quân phò giúp Lê Lợi cho đến khi khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng năm 1427. Tận tuỵ phục vụ ba đời vua Lê (Thái Tổ, Thái Tông, Nhân Tông), ông xứng danh đại thần với chức Tổng quản, lừng lẫy với những chiến công đánh quân Minh phía Bắc, giặc Chiêm Thành phương Nam và dẹp yên nhiều cuộc phản loạn nội bộ.
- Lê Tư Thành: Sinh năm Nhâm Tuất 1442, quê Thanh Hoá, vị vua xuất sắc nhất thời Hậu Lê, hiệu Thánh Tông. Thông tuệ, phong nhã, tài đức vẹn toàn, được các cận thần đưa lên ngôi năm 18 tuổi. Với những cải cách toàn diện và phát triển vượt bậc về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, giai đoạn ông cầm quyền (1460-1497) được coi là thời kỳ thịnh vượng nhất của chế độ phong kiến Việt Nam. ông còn là nhà thơ lớn, lập ra hội thơ Tao Đàn danh tiếng và để lại nhiều tác phẩm có giá trị: Hồng Đức quốc âm thi tập, Cổ tân bách vịnh, Văn minh cổ suý, Xuân vân thi tập...
- Đặng Chất: Sinh năm Nhâm Tuất 1622, quê Bắc Ninh, danh thần đời Lê Hy Tông. Nổi tiếng thông minh, hiếu học, đỗ tiến sĩ năm 1661, làm quan tới chức Tham tụng (Tể tướng) và từng nhiều lần đi sứ nước ngoài. Bản tính ngay thẳng, lối ống thanh liêm, cần kiệm của ông rất được sĩ phu đương thời trọng vọng.
- Mạc Thiên Tứ: Sinh năm Bính Tuất 1706, quê Kiên Giang, danh sĩ, nhà doanh điền thời chúa Nguyễn. Cương nghị, đa tài, nối nghiệp cha tận tuỵ phò giúp chúa Nguyễn, được thăng tới Tổng binh Đại đô đốc và có công lớn trong việc thu phục nhân tâm, khẩn hoang lập ấp ở miền tây Nam Bộ. Ông còn khai sinh hội thơ Chiêu Anh Các nổi tiếng và là tác giả của nhiều công trình giá trị về lịch sử, thơ ca, nghệ thuật, triết luận.
- Nghiêm Võ Chiêu: Sinh năm Canh Tuất 1730, quê Hưng Yên, danh thần đời Lê Hiển Tông. Giỏi văn chương, giàu tri thức, năm 22 tuổi đỗ tiến sĩ, làm Đãi chế ở Viện Hàn Lâm rồi thăng tới chức Thị Lang. Ông rất được nể trọng bởi nổi tiếng hiền hiếu và thường dốc lòng giúp đỡ người nghèo.
- Nguyễn Công Trứ: Sinh năm Mậu Tuất 1778, quê Hà Tĩnh, danh sĩ thời Nguyễn. Đỗ giải nguyên năm 1819, làm quan trong các ngành giáo dục, tư pháp, nông nghiệp, quân sự, ngoại giao ở nhiều nơi, trải qua nhiều cương vị, bị thăng giáng nhiều lần: có lúc được cử làm tới Tổng đốc Hải An, có lúc lại bị đày đi lính ở Quảng Ngãi. Lập công lớn trong việc khai hoang lấn biển Tiền Hải (Thái Bình), Kim Sơn (Ninh Bình) và đánh dẹp các cuộc khởi nghĩa, phản loạn. Tính khí khảng khái, quyết liệt, lại phong tình và hài hước, cùng cuộc sống đa dạng của ông đã để lại những giai thoại thú vị.
- Dương Lâm: Sinh năm Canh Tuất 1850, quê Hà Tây, danh sĩ cận đại. Năm 1878 đỗ cử nhân, làm quan tại nhiều địa phương và chủ bút báo Đồng Văn, sau về triều giữ chức Thượng thư (Bộ trưởng) Bộ Công kiêm Phó Tổng tài Quốc sử quán. Đóng góp nhiệt tình cho công cuộc chấn hưng, phát triển nền giáo dục nước nhà bằng việc biên soạn hệ thống sách giáo khoa mới, thay đổi phép học, cách thi cử. Ông nổi tiếng văn chương, bản tính nho nhã, và là một nhà giáo có biệt tài.
- Nguyễn Văn Cẩm: Sinh năm Giáp Tuất 1874, quê Thái Bình, nhân sĩ cận đại. Từ bé đã cực kỳ thông tuệ, giỏi thơ phú, khiến vua Tự Đức khen ngợi, ban danh hiệu Kỳ Đồng (đứa bé kỳ lạ thông minh). Sẵn lòng yêu nước, lại được ngưỡng mộ, 13 tuổi nhân dân tôn làm thủ lĩnh phong trào kháng Pháp. Giặc đàn áp, bắt đưa sang Algeria, cho vào học khoa lý hoá ở một trường trung học. Năm 1896 ông về nước, gia nhập khởi nghĩa của Mạc Đình Phúc, trở thành "Quốc sư" cố vấn. Ông cũng liên kết với khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo. Giặc phát hiện, bắt ông đem đày chung thân tại quần đảo Polynesia trên Thái Bình Dương.
- Bạch Thái Bưởi: Sinh năm Giáp Tuất 1874, quê Hà Tây, đại doanh nhân. Nhà nghèo, cha mất sớm, phải giúp mẹ kiếm sống bằng nghề bán hàng rong, sau được một nhà giàu nhận làm con nuôi, cho ăn học tử tế. Năm 21 tuổi, làm thư ký cho một hãng buôn của Pháp, ít lâu, đứng ra kinh doanh, mở hà in lớn tại Hà Nội. Năm 1909, bước vào lĩnh vực hàng hải, thương thuyền, trở thành đại gia nổi tiếng, được giới doanh nghiệp gọi là "Chúa sông miền Bắc". Công ty ông có 30 tàu lớn nhỏ, chiếm lĩnh phần lớn thị trường buôn bán đường thuỷ Việt Nam, cạnh tranh cùng tư sản thương thuyền Pháp, Anh và Trung Quốc. Nghị lực cao, chí khí lớn, giỏi kinh doanh, lại giàu đức độ và lòng từ thiện, ông được coi là doanh nhân sáng giá trong lịch sử kinh tế nước nhà.
- Nguyễn Thị Minh Khai: Sinh năm Canh Tuất 1910, quê Nghệ An, nhà hoạt động cách mạng, chiến sĩ cộng sản trung kiên. Thuở nhỏ vào học trường Cao Xuân Dục, năm 17 tuổi gia nhập đảng Tân Việt, có chân trong Ban chấp hành Đảng bộ. Năm 1930 sang Trung Quốc làm việc tại Văn phòng Đông Phương, Bộ Quốc tế Cộng sản. Năm 1930 bị mật thám Pháp bắt ở Hồng Kông, năm 1934 được trả tự do. Cuối năm này, bà cùng Lê Hồng Phong được cử làm đại biểu chính thức đi dự Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản ở Moskva. Sau đó, họ kết hôn tại đây, rồi cùng vào học trường Đại học Đông phương Xtalin. Năm 1936, bà được phân về công tác ở Sài Gòn, tham gia Xứ uỷ Nam Kỳ và phụ trách Thành uỷ Sài Gòn - Chợ Lớn. Ngày 30.7.1940, bị địch bắt. Trong tù, bà vẫn bí mật liên lạc với tổ chức bên ngoài, tiếp tục lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng và bị giặc xử bắn ngày 28.9.1941
- Tạ Quang Bửu: Sinh năm Canh Tuất 1910, quê Nghệ An, giáo sư toán, nhà hoạt động khoa học. Thuở nhỏ học tại Quảng Nam, Huế, tốt nghiệp giành học bổng du học Pháp, Anh. Uyên bác, nhiệt tình, ra trường về nước giảng dạy, chuyên tâm nghiên cứu toán lý thuyết và toán ứng dụng vào sinh học, vật lý, hóa học. Ông cũng hăng hái hoạt động chính trị, xã hội, tham gia lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược, trở thành Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng. Sau năm 1954 phụ trách việc đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật với cương vị Hiệu trưởng trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp. Ông được phong tặng nhiều danh hiệu cao quý.
- Nguyễn Tuân: Sinh năm Canh Tuất 1910, quê Hà Nội, nhà văn hiện đại. Đi nhiều, hiểu rộng, cộng tác đắc lực với hệ thống báo chí, sáng tác thể loại văn học đa dạng và sôi nổi tham gia hoạt động sân khấu điện ảnh. Cả con người, phong cách và tác phẩm của ông đều toát lên những điều mới lạ, độc đáo, quý phái mà dân dã, dễ mến, dễ yêu. Ông từng là Tổng thư ký Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam và để lại các tác phẩm văn chương nổi tiếng: Vang bóng một thời, Chiếc lư đồng mắt cua, Tuỳ bút kháng chiến, Sông Đà...
- Nguyễn Hữu Thọ: Sinh năm Canh Tuất 1910, quê Long An, luật sư, chính khách yêu nước. Sinh trưởng trong một gia đình công chức, năm 1921 được cha mẹ cho sang Pháp du học, tốt nghiệp cử nhân luật năm 1932. Năng động, mạnh mẽ, giàu chí tiến thủ, ông mở văn phòng luật sư và tích cực tham gia đấu tranh bảo vệ dân chủ, hoà bình, chống thực dân, đế quốc; từng nhiều lần lãnh đạo các cuộc biểu tình rầm rộ, bị đích bắt giam, tra tấn, tù đày. Tháng 11.1954, lại bị chính quyền Diệm bắt nhưng sau đó được lực lượng cách mạng giải thoát ra vùng chiến khu. Năm 1961, được bầu giữ chức Chủ tịch Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam. Sau khi đất nước thống nhất, năm 1976 ông được cử giữ chức Phó Chủ tịch nước, từ năm 1980 làm Quyền Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho đến lúc qua đời (1996). Góp công lớn cho phong trào cách mạng và dân chủ đất nước, ông được phong tặng nhiều danh hiệu cao quý.
- Đỗ Nhuận: Sinh năm Nhâm Tuất 1922, quê Hải Dương, nhạc sĩ hiện đại. Thuở nhỏ sống ở Hà Nội, tự học âm nhạc và sớm sáng tác ca khúc. Sôi nổi, tự tin, nhiệt thành yêu nước, ông tham gia hoạt động trong Mặt trận Việt Minh từ trước Cách mạng tháng Tám. Sau đó, gia nhập quân đội, làm công tác văn nghệ, viết nhiều bài hát phục vụ kháng chiến, khơi dậy ý thức độc lập, kiên cường và niềm tự hào dân tộc. Ông từng giữ chức Tổng thư ký Hội Nhạc sĩ Việt Nam và để lại hon 100 ca khúc bất hủ: Du kích sông Thao, Chiến thắng Điện Biên, Việt Nam quê hương tôi...
Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Báo chí và Tuyên truyền tháng 1,2 năm 2006
Bài liên quan
- Đổi mới thể chế và chính sách quản lý nhân lực chất lượng cao
- Phát triển kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp tại Thành phố Hà Nội hiện nay
- Tăng cường liên kết giữa trường đại học và doanh nghiệp trong xây dựng chương trình đào tạo - giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo
- Đạo đức và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
- Thành công trong chiến lược ngoại giao văn hóa của Hàn Quốc và gợi mở cho Việt Nam
Hôm nay: 3.948
Hôm qua: 7.216
Tổng: 8.765.750
llcttt1994dientu@gmail.com
024.38348033


