Phát huy vai trò của nữ trí thức Việt Nam trong xu thế phát triển khoa học – công nghệ và hội nhập quốc tế
Xu thế phát triển khoa học - công nghệ trên thế giới
Trong thập niên tới, có bốn xu thế phát triển khoa học - công nghệ đáng chú ý:
Một là, khoa học - công nghệ gắn chặt với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Cách mạng công nghiệp 4.0), phát triển ngày càng nhiều các ngành mới, như công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, công nghệ môi trường, công nghệ sinh học, công nghệ nano...
Hai là, hoạt động khoa học - công nghệ ngày càng tăng cường thống nhất với các quy định, các tiêu chuẩn quốc tế và gia tăng bảo hộ sở hữu trí tuệ. Điều này buộc các nước và các chủ thể khi tham gia quá trình hoạt động, nghiên cứu khoa học - công nghệ quốc tế phải tuân thủ những quy định, khuôn khổ, chế độ và tiêu chuẩn quốc tế.
Ba là, nghiên cứu khoa học - công nghệ ngày càng có tính cạnh tranh cao, đòi hỏi thời gian nghiên cứu nhanh, ngắn, nhưng phải tạo ra được các sản phẩm khoa học - công nghệ cá biệt, độc đáo và hiệu quả cao.
Bốn là, cùng với các xu thế phát triển khoa học - công nghệ mới, có sự phân công lại lao động quốc tế trong các hoạt động khoa học - công nghệ, theo đó, các nước phát triển sẽ thu hút ngày càng nhiều nhân lực khoa học - công nghệ có trình độ cao; còn những nhân lực khoa học - công nghệ có trình độ thấp sẽ bị dồn về những nước đang phát triển.
Với bối cảnh như vậy, trong định hướng phát triển giai đoạn 2021 - 2030, nước ta cần chú trọng đến bốn giải pháp liên quan đến khoa học - công nghệ:
Thứ nhất, có chính sách đầu tư mạnh hơn cho hoạt động và nghiên cứu khoa học - công nghệ, có trọng tâm hơn về kết cấu hạ tầng lẫn chính sách đãi ngộ.
Thứ hai, sản phẩm khoa học - công nghệ phải có chất lượng và tính cạnh tranh cao, thậm chí cạnh tranh vị trí hàng đầu. Muốn vậy, hoạt động khoa học - công nghệ phải nâng cao chất lượng, đạt chuẩn quốc tế, từ đó tích cực và chủ động hội nhập quốc tế, tăng cường tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.
Thứ ba, chú trọng hơn nữa việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực khoa học - công nghệ, thông qua việc nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ quản lý, nghiên cứu, kỹ thuật và công nhân khoa học - công nghệ, không chỉ ở hệ thống cơ sở đào tạo, nghiên cứu, các phòng thí nghiệm, mà còn ở cả các cơ sở sản xuất, kinh doanh.
Thứ tư, sử dụng hiệu quả nguồn chất xám tổng hợp từ nhiều nguồn nhân lực khoa học - công nghệ (trong nước, ngoài nước), đưa chất xám vào sản xuất, tạo ra được nhiều hơn giá trị thặng dư khi hội nhập quốc tế cũng như tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Nguồn nhân lực mới cho khoa học - công nghệ
Nguồn nhân lực khoa học - công nghệ có bốn vai trò đặc biệt quan trọng:
Thứ nhất, là lực lượng chủ yếu trong việc xây dựng các luận cứ khoa học giúp Đảng và Nhà nước xác định đường lối chiến lược, chính sách, kế hoạch công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đồng thời, là lực lượng nòng cốt trong triển khai thực hiện các đường lối, chính sách đó.
Thứ hai, là lực lượng đảm nhiệm việc nghiên cứu, khảo nghiệm và ứng dụng các quy trình công nghệ mới, các thiết bị, công cụ mới vào sản xuất; cải tiến và hệ thống hóa công nghệ truyền thống, nâng cao trình độ công nghệ.
Xu thế phát triển khoa học - công nghệ trên thế giới
Trong thập niên tới, có bốn xu thế phát triển khoa học - công nghệ đáng chú ý:
Một là, khoa học - công nghệ gắn chặt với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Cách mạng công nghiệp 4.0), phát triển ngày càng nhiều các ngành mới, như công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, công nghệ môi trường, công nghệ sinh học, công nghệ nano...
Hai là, hoạt động khoa học - công nghệ ngày càng tăng cường thống nhất với các quy định, các tiêu chuẩn quốc tế và gia tăng bảo hộ sở hữu trí tuệ. Điều này buộc các nước và các chủ thể khi tham gia quá trình hoạt động, nghiên cứu khoa học - công nghệ quốc tế phải tuân thủ những quy định, khuôn khổ, chế độ và tiêu chuẩn quốc tế.
Ba là, nghiên cứu khoa học - công nghệ ngày càng có tính cạnh tranh cao, đòi hỏi thời gian nghiên cứu nhanh, ngắn, nhưng phải tạo ra được các sản phẩm khoa học - công nghệ cá biệt, độc đáo và hiệu quả cao.
Bốn là, cùng với các xu thế phát triển khoa học - công nghệ mới, có sự phân công lại lao động quốc tế trong các hoạt động khoa học - công nghệ, theo đó, các nước phát triển sẽ thu hút ngày càng nhiều nhân lực khoa học - công nghệ có trình độ cao; còn những nhân lực khoa học - công nghệ có trình độ thấp sẽ bị dồn về những nước đang phát triển.
Với bối cảnh như vậy, trong định hướng phát triển giai đoạn 2021 - 2030, nước ta cần chú trọng đến bốn giải pháp liên quan đến khoa học - công nghệ:
Thứ nhất, có chính sách đầu tư mạnh hơn cho hoạt động và nghiên cứu khoa học - công nghệ, có trọng tâm hơn về kết cấu hạ tầng lẫn chính sách đãi ngộ.
Thứ hai, sản phẩm khoa học - công nghệ phải có chất lượng và tính cạnh tranh cao, thậm chí cạnh tranh vị trí hàng đầu. Muốn vậy, hoạt động khoa học - công nghệ phải nâng cao chất lượng, đạt chuẩn quốc tế, từ đó tích cực và chủ động hội nhập quốc tế, tăng cường tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.
Thứ ba, chú trọng hơn nữa việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực khoa học - công nghệ, thông qua việc nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ quản lý, nghiên cứu, kỹ thuật và công nhân khoa học - công nghệ, không chỉ ở hệ thống cơ sở đào tạo, nghiên cứu, các phòng thí nghiệm, mà còn ở cả các cơ sở sản xuất, kinh doanh.
Thứ tư, sử dụng hiệu quả nguồn chất xám tổng hợp từ nhiều nguồn nhân lực khoa học - công nghệ (trong nước, ngoài nước), đưa chất xám vào sản xuất, tạo ra được nhiều hơn giá trị thặng dư khi hội nhập quốc tế cũng như tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Nguồn nhân lực mới cho khoa học - công nghệ
Nguồn nhân lực khoa học - công nghệ có bốn vai trò đặc biệt quan trọng:
Thứ nhất, là lực lượng chủ yếu trong việc xây dựng các luận cứ khoa học giúp Đảng và Nhà nước xác định đường lối chiến lược, chính sách, kế hoạch công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đồng thời, là lực lượng nòng cốt trong triển khai thực hiện các đường lối, chính sách đó.
Thứ hai, là lực lượng đảm nhiệm việc nghiên cứu, khảo nghiệm và ứng dụng các quy trình công nghệ mới, các thiết bị, công cụ mới vào sản xuất; cải tiến và hệ thống hóa công nghệ truyền thống, nâng cao trình độ công nghệ.
Thứ ba, là lực lượng xung kích trong tiến trình hội nhập quốc tế, nâng cao vị thế và hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời là lực lượng lựa chọn, tiếp thu và ứng dụng những tiến bộ công nghệ mới của thế giới vào phát triển các ngành kinh tế quốc dân của Việt Nam.
Thứ tư, là lực lượng phổ biến rộng rãi tri thức khoa học, kiến thức và công nghệ sản xuất tiên tiến, qua đó, góp phần nâng cao trình độ hiểu biết về khoa học - công nghệ và kỹ thuật sản xuất, nâng cao năng lực hoạt động sản xuất của công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động khác.
Nguồn nhân lực khoa học - công nghệ có phạm vi rộng và vai trò quan trọng như vậy, nhưng trong Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 thì nguồn nhân lực khoa học - công nghệ nước ta mới gồm năm thành phần chủ yếu: cán bộ nghiên cứu; cán bộ kỹ thuật, công nghệ; các cá nhân thuộc mọi tầng lớp xã hội; cán bộ quản lý các cấp; đội ngũ tri thức Việt Nam ở nước ngoài và các chuyên gia nước ngoài.
Để đáp ứng yêu cầu phát triển, việc chú trọng đến những nguồn nhân lực khoa học - công nghệ mới (thanh niên trí thức, phụ nữ trí thức, doanh nghiệp trí thức) có ý nghĩa hết sức quan trọng. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiêu chí đầu tiên của người trí thức là phải có trình độ cử nhân: “Một người học xong đại học có thể gọi là có trí thức”(1), nhưng điều này chưa đủ, mà “muốn thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế”(2). Điều đó có nghĩa là phải có chính sách để mọi sinh viên ra trường đều có việc làm, để trở thành thanh niên trí thức, làm tăng lực lượng trí thức nước nhà và đem tri thức áp dụng vào thực tế.
Bên cạnh đó, ngày càng nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã nhận thức được vai trò quan trọng của khoa học - công nghệ đối với sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Do vậy, có rất nhiều doanh nghiệp gia tăng nhiều hơn các khoản đầu tư vào nguồn nhân lực có trình độ cao, làm nghiên cứu, phát triển công nghệ.
Nữ trí thức Việt Nam với khoa học - công nghệ và hội nhập quốc tế
Đội ngũ nữ trí thức Việt Nam là những người được đào tạo bài bản, có kiến thức sâu rộng về một lĩnh vực nào đó, có trình độ, vị trí khoa học và những đóng góp không nhỏ đối với sự nghiệp phát triển đất nước. Độ tuổi của nữ trí thức Việt Nam ngày càng rộng (từ 20 - 80 tuổi); số lượng nữ thạc sĩ, tiến sĩ, phó giáo sư và giáo sư ngày càng nhiều, bao trùm trên nhiều ngành, nghề, từ giáo dục - đào tạo đến công nghệ số, kỹ thuật quốc phòng, khoa học sự sống… Trong lĩnh vực khoa học - công nghệ, số lượng phụ nữ chiếm tỷ lệ khá cao, khoảng hơn 42%.
Ra đời vào ngày 8-3-2011, Hội Nữ trí thức Việt Nam là tổ chức thành viên của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, là mái nhà chung của đội ngũ nữ trí thức Việt Nam, thấu hiểu và chia sẻ những thách thức cũng như khó khăn của đội ngũ nữ trí thức, tạo môi trường cho đội ngũ nữ trí thức phát huy sức sáng tạo và trí tuệ của mình, nhằm cống hiến nhiều hơn nữa cho sự phát triển chung của xã hội. Với tôn chỉ, mục đích và phương hướng hoạt động đã được xác định, Hội Nữ trí thức Việt Nam đang góp phần nâng cao vị thế của đội ngũ nữ trí thức Việt Nam lên tầm cao mới, trong xu thế đổi mới, phát triển và hội nhập quốc tế.
Nữ trí thức Việt Nam so với nữ trí thức của nhiều nước trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đang có khá nhiều khó khăn, thiệt thòi.
Một là, vấn đề bình đẳng giới. Trong khu vực ASEAN, đến nay mới có Việt Nam đã ban hành Luật Bình đẳng giới (năm 2006), tuy nhiên, Việt Nam lại là nước duy nhất trong ASEAN có độ tuổi về hưu của nữ giới thấp hơn nam giới. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ nói chung và nữ trí thức nói riêng chưa thực sự được quan tâm đúng mức. Ở nhiều bộ, ngành, địa phương,… việc quy định tuổi được quy hoạch ở nữ giống nam, thậm chí số năm yêu cầu cống hiến sau khi được bổ nhiệm bằng nam, trong khi đó tuổi nghỉ hưu của nữ sớm hơn nam, là một bất cập.
Hai là, vấn đề định kiến giới. Quan niệm và phân biệt giới vẫn còn ảnh hưởng ở một bộ phận các tầng lớp xã hội, việc “trọng nam, khinh nữ” không chỉ có ở các vùng nông thôn mà cả ở đô thị, ở cả một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, những người có trình độ học vấn, địa vị cao trong xã hội. Chính tư tưởng “khinh nữ” trong xã hội đã khiến nhiều người chưa coi trọng năng lực của người phụ nữ, nhất là trong nghiên cứu khoa học - công nghệ. Điều này không chỉ hạn chế nữ giới tiếp cận giáo dục bậc cao, mà còn ảnh hưởng đến cách nhìn nhận, đánh giá, lựa chọn, đào tạo, sử dụng nữ trí thức, kìm hãm sự thăng tiến, phát triển của không ít chị em. Luật Bảo vệ và phát triển của phụ nữ Lào (năm 2004), Luật Bảo vệ phụ nữ Myanmar (năm 2013) đã góp phần giải quyết vấn đề định kiến giới ở các nước này. Ở Myanmar, thậm chí nhiều phụ nữ lựa chọn cuộc sống độc thân để học lên cao, thăng tiến, làm giàu, nghiên cứu khoa học…, nhận được sự động viên, khuyến khích trong gia đình mà không bị xã hội lên án.
Ba là, trong tìm kiếm việc làm. Dù có học vấn cao, được đào tạo bài bản, nhưng nữ trí thức thất nghiệp nhiều hơn nam giới, nữ trí thức ở nông thôn thất nghiệp nhiều hơn nữ trí thức ở thành thị. Nhiều phụ nữ học giỏi hơn nam giới, thi tuyển điểm cao hơn nam giới, nhưng vẫn bị hạn chế trong tuyển dụng vào một số ngành khoa học - công nghệ.
Bốn là, nữ trí thức Việt Nam chưa thực sự được động viên, khuyến khích theo đuổi một số lĩnh vực, nhất là khoa học tự nhiên và khoa học - kỹ thuật; có sự “phân biệt ngành nghề trong tiềm thức” đối với phụ nữ.
Trong bối cảnh đất nước hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, hội nhập gắn với phát triển bền vững, thì đội ngũ trí thức chính là nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh đất nước. Đầu tư cho đội ngũ trí thức là đầu tư cho phát triển bền vững. Đảng và Nhà nước cần có chính sách và kế hoạch cụ thể để phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng bốn đối tượng: trí thức trẻ, những trí thức đã có cống hiến và dày dặn kinh nghiệm thực tiễn, trí thức người dân tộc thiểu số và trí thức nữ.
Để tạo điều kiện cho đội ngũ nữ trí thức phát triển, cống hiến và hội nhập quốc tế, cần thực hiện một số nội dung sau:
Một là, ngày nay, khoa học - công nghệ nói chung và khoa học - xã hội nói riêng mang tính quyết định đối với sự phát triển đất nước. Nữ trí thức Việt Nam tham gia nghiên cứu, giảng dạy, làm việc ở tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội. Do vậy, lực lượng này cần được quan tâm, chăm sóc và thúc đẩy phát triển. Cần có chính sách cụ thể, với sự nhạy cảm giới, có quan điểm giới rõ ràng, với sự định hướng “biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử về giới”. Thúc đẩy sự phát triển là lắng nghe và sử dụng những ý kiến khoa học của nữ trí thức một cách nghiêm túc.
Hai là, có chính sách ưu tiên đối với đào tạo nữ trí thức. Trong kế hoạch đào tạo đội ngũ nữ trí thức nói chung, nhất là đội ngũ nữ trí thức trẻ, cần tạo điều kiện cho những người có năng lực chuyên môn giỏi đạt được học vị sau đại học trước khi có gia đình hoặc chưa có con nhỏ. Đồng thời, cần quan niệm việc thực hiện chức năng sinh con và nuôi dạy con không phải là việc riêng của gia đình, mà đó phải là một công việc xã hội.
Ba là, có các chế độ, chính sách quy hoạch, nâng lương, nâng bậc, bổ nhiệm hợp lý đối với nữ trí thức để động viên, thu hút và nâng cao khả năng lao động, sáng tạo của đông đảo nữ trí thức trên toàn quốc.
Bốn là, quan tâm và ưu đãi nữ trí thức thuộc dân tộc thiểu số, phụ nữ miền núi, vùng sâu, vùng xa. Trong đó, cần có chính sách đặc thù đối với cán bộ nữ công tác ở vùng cao, vùng sâu, biên giới, hải đảo, là người dân tộc thiểu số, cán bộ nữ đi học có con nhỏ. Như vậy, không chỉ tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu số phát triển, mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của các vùng khó khăn, rút ngắn khoảng cách phát triển không đồng đều giữa các vùng, miền, dân tộc trong cả nước.
Năm là, thúc đẩy hoạt động tuyên truyền, giáo dục về bình đẳng giới, để xã hội nhận thức được ngày càng sâu sắc vai trò, tầm quan trọng của phụ nữ đối với sự phát triển của quốc gia. Bên cạnh đó, cần nhanh chóng đưa Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình thực sự đi vào cuộc sống, phù hợp với các mục tiêu của Cộng đồng Văn hóa - Xã hội ASEAN và Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN.
Sáu là, coi trọng vai trò của Hội Nữ trí thức Việt Nam trong việc tập hợp lực lượng nữ trí thức, kể cả đội ngũ nữ trí thức sinh sống và làm việc ở nước ngoài; tạo điều kiện cho nữ trí thức không chỉ chia sẻ tri thức, kinh nghiệm và giúp đỡ nhau trong công việc, hoạt động xã hội, mà còn là tổ chức bảo vệ quyền lợi và phát triển cho nữ trí thức. Hỗ trợ Hội Nữ trí thức Việt Nam về cơ chế và tài chính để tăng cường kết nối với các nữ trí thức người Việt Nam trên thế giới, cũng như với nữ trí thức các nước khác.
Bảy là, tiếp tục chỉnh sửa những quy định về tuổi nghỉ hưu chưa hợp lý hiện nay đối với phụ nữ, đặc biệt phụ nữ làm việc trong các lĩnh vực khoa học - công nghệ, văn hóa, giáo dục, y tế… Quy định này phần nào làm hạn chế khả năng phát triển đối với phụ nữ, đồng thời có thể là nguyên nhân của tâm lý “trung bình chủ nghĩa”, ngại phấn đấu của không ít phụ nữ sau khi có gia đình. Từ góc độ nguồn lực lao động, quy định này cũng gây lãng phí cho xã hội và gây khó khăn cho những cơ quan, đơn vị mà tỷ lệ nữ chiếm đại đa số.
Tám là, coi trọng và huy động các nguồn lực xã hội để hình thành quỹ hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực nữ, đào tạo nữ trí thức trẻ có tri thức, năng lực, kiến thức về hội nhập quốc tế./.
Bài đăng trên Tạp chí Cộng sản điện tử ngày 20.01.2021
__________________________
(1), (2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.5, tr. 275
TS Luận Thùy Dương
Đại sứ, Học viện Ngoại giao
Nguồn: https://www.tapchicongsan.org.vn/
Bài liên quan
- Truyền thông giáo dục giới tính cho sinh viên các trường đại học ở Hà Nội trên nền tảng YouTube hiện nay
- Quản trị truyền thông ứng phó với thiên tai của Đài Truyền hình Việt Nam trong bối cảnh truyền thông số hiện nay
- Công tác thông tin về thị trường chứng khoán và trái phiếu doanh nghiệp trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay: Vấn đề đặt ra và một số khuyến nghị
- Quản trị truyền thông thương hiệu ngân hàng thương mại cổ phần vốn nhà nước chi phối ở Việt Nam
- Văn hóa tham gia truyền thông số hậu Covid-19 ở Việt Nam (từ tham chiếu khung lý thuyết của Jenkins)
Xem nhiều
-
1
Hoạt động marketing bền vững của các thương hiệu Unilever và Coca Cola tại Việt Nam hiện nay
-
2
Những biểu hiện của chuyển đổi số báo chí và yêu cầu nâng cao năng lực số của nhà báo truyền hình ở Việt Nam hiện nay
-
3
Ảnh hưởng của các công cụ truyền thông tiếp thị tích hợp tới tài sản thương hiệu bệnh viện tư tại Việt Nam hiện nay
-
4
Truyền thông về trách nhiệm xã hội của các công ty mỹ phẩm chăm sóc tóc ở Việt Nam hiện nay
-
5
Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên Công an nhân dân đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo trong tình hình mới
-
6
Đóng góp của Việt Nam với định vị vai trò của ASEAN trong các chương trình nghị sự toàn cầu giai đoạn 2016 - 2025
Liên kết
- Báo điện tử đảng cộng sản việt nam
- Báo nhân dân
- Báo Quân đội nhân dân
- Cổng thông tin điện tử Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia hồ chí minh
- Tạp chí Cộng sản
- Tạp chí Giáo dục lý luận
- Tạp chí Giáo dục và Xã hội
- Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
- Tạp chí Lý luận chính trị
- Tạp chí Nghiên cứu con người
- TẠP CHÍ Nghiên cứu dân tộc
- Tạp chí Người làm báo
- Tạp chí Nội chính
- Tạp chí Quản lý Nhà nước
- Tạp chí Tổ chức Nhà nước
- Tạp chí Tuyên giáo
- Tạp chí Xây Dựng Đảng
- Thư viện số Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Trang thông tin điện tử Hội đồng Lý luận Trung ương
Giải pháp nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng ủy Bệnh viện Bạch Mai đối với công tác Đảng
Thời gian qua, Đảng ủy bệnh viện Bạch Mai đã thể hiện vai trò lãnh đạo toàn diện trong công tác định hướng tư tưởng, chỉ đạo toàn diện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn, xây dựng tổ chức Đảng vững mạnh và đội ngũ cán bộ y tế trách nhiệm, tận tâm… Bài viết làm rõ thực trạng công tác lãnh đạo của Đảng ủy Bệnh viện Bạch Mai hiện nay, chỉ rõ một số hạn chế, bất cập; từ dó, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng ủy Bệnh viện Bạch Mai đối với công tác Đảng thời gian tới.
Truyền thông giáo dục giới tính cho sinh viên các trường đại học ở Hà Nội trên nền tảng YouTube hiện nay
Truyền thông giáo dục giới tính cho sinh viên các trường đại học ở Hà Nội trên nền tảng YouTube hiện nay
Giáo dục giới tính (GDGT) là hoạt động cần thiết nhằm đảm bảo cho sức khỏe sinh sản của giới trẻ. Tuy nhiên, ở môi trường học đường Việt Nam, hoạt động này vẫn còn nhiều hạn chế. Trước sự phát triển của mạng xã hội, YouTube là kênh giáo dục tiềm năng nhờ tính trực quan, gần gũi với sinh viên. Bài viết này khảo sát thực trạng, đánh giá tiềm năng và đề xuất giải pháp ứng dụng YouTube trong GDGT cho sinh viên đại học Hà Nội nhằm cải thiện sức khỏe sinh sản và tinh thần cho thế hệ trẻ.
Quản trị truyền thông ứng phó với thiên tai của Đài Truyền hình Việt Nam trong bối cảnh truyền thông số hiện nay
Quản trị truyền thông ứng phó với thiên tai của Đài Truyền hình Việt Nam trong bối cảnh truyền thông số hiện nay
Bài viết tập trung phân tích hoạt động và hiệu quả quản trị truyền thông ứng phó với thiên tai của Đài Truyền hình Việt Nam (ĐTHVN) trong bối cảnh truyền thông số, dựa trên phân tích nội dung tác phẩm và khảo sát ý kiến công chúng theo dõi các kênh truyền thông của ĐTHVN. Nghiên cứu chỉ ra rằng: hệ thống truyền thông ứng phó với thiên tai của ĐTHVN đã đảm bảo tính chính xác và kịp thời, song vẫn còn thiếu cơ chế phản hồi hai chiều và quản trị dữ liệu liên thông. Từ đó, bài viết đề xuất mô hình “quản trị truyền thông ứng phó thiên tai bốn tầng”, hướng đến mục tiêu xây dựng năng lực quản trị thông tin quốc gia trong điều kiện số hóa toàn diện.
Công tác thông tin về thị trường chứng khoán và trái phiếu doanh nghiệp trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay: Vấn đề đặt ra và một số khuyến nghị
Công tác thông tin về thị trường chứng khoán và trái phiếu doanh nghiệp trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay: Vấn đề đặt ra và một số khuyến nghị
Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, trong đó nhấn mạnh yêu cầu “đẩy mạnh công tác truyền thông, nâng cao chất lượng, hiệu quả thông tin tuyên truyền” cũng như “nghiêm cấm các hành vi đưa thông tin sai lệch, không chính xác, ảnh hưởng đến doanh nghiệp, doanh nhân”. Đây là vừa là định hướng chiến lược, vừa là yêu cầu đối với báo chí trong giai đoạn mới, trong đó, có hoạt động thông tin thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp (TTCK, TPDN). Hoạt động thông tin báo chí về TTCK, TPDN có vai trò quan trọng. Tuy nhiên, nghiên cứu thông tin về TTCK và TPDN trên báo chí nói chung, báo mạng điện tử (BMĐT) nói riêng là cần thiết nhằm góp phần nâng cao chất lượng truyền thông, định hướng dư luận xã hội, bảo vệ doanh nghiệp, nhà đầu tư và thúc đẩy thị trường phát triển theo hướng lành mạnh, bền vững.
Quản trị truyền thông thương hiệu ngân hàng thương mại cổ phần vốn nhà nước chi phối ở Việt Nam
Quản trị truyền thông thương hiệu ngân hàng thương mại cổ phần vốn nhà nước chi phối ở Việt Nam
Trong hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam, các ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) có vốn nhà nước chi phối vừa là chủ thể kinh doanh, vừa thực thi mục tiêu ổn định vĩ mô, nên thương hiệu mang bản chất thể chế - thương mại, gắn với niềm tin về sự an toàn, minh bạch. Trong bối cảnh chuyển đổi số và cạnh tranh gia tăng, quản trị truyền thông (QTTT) thương hiệu của các ngân hàng này đối mặt “nghịch lý thể chế - tốc độ”: cơ chế quản trị nhiều tầng kiểm soát bảo đảm an toàn nhưng làm chậm phản ứng trước dòng chảy thông tin nhanh. Dựa trên khung lý thuyết về thương hiệu thể chế cùng dữ liệu khảo sát khách hàng và phỏng vấn cán bộ truyền thông do tác giả thực hiện, bài báo nhận diện ba biểu hiện của nghịch lý này và đề xuất tiếp cận QTTT thương hiệu như năng lực điều hành niềm tin thể chế, với ba trụ cột: quyền lực truyền thông; xây dựng hệ thông dữ liệu và cảnh báo sớm; thiết lập chế độ đối thoại với các nhóm công chúng.
llcttt1994dientu@gmail.com
024.38348033
Bình luận