Phát huy vai trò của nữ trí thức Việt Nam trong xu thế phát triển khoa học – công nghệ và hội nhập quốc tế
Xu thế phát triển khoa học - công nghệ trên thế giới
Trong thập niên tới, có bốn xu thế phát triển khoa học - công nghệ đáng chú ý:
Một là, khoa học - công nghệ gắn chặt với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Cách mạng công nghiệp 4.0), phát triển ngày càng nhiều các ngành mới, như công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, công nghệ môi trường, công nghệ sinh học, công nghệ nano...
Hai là, hoạt động khoa học - công nghệ ngày càng tăng cường thống nhất với các quy định, các tiêu chuẩn quốc tế và gia tăng bảo hộ sở hữu trí tuệ. Điều này buộc các nước và các chủ thể khi tham gia quá trình hoạt động, nghiên cứu khoa học - công nghệ quốc tế phải tuân thủ những quy định, khuôn khổ, chế độ và tiêu chuẩn quốc tế.
Ba là, nghiên cứu khoa học - công nghệ ngày càng có tính cạnh tranh cao, đòi hỏi thời gian nghiên cứu nhanh, ngắn, nhưng phải tạo ra được các sản phẩm khoa học - công nghệ cá biệt, độc đáo và hiệu quả cao.
Bốn là, cùng với các xu thế phát triển khoa học - công nghệ mới, có sự phân công lại lao động quốc tế trong các hoạt động khoa học - công nghệ, theo đó, các nước phát triển sẽ thu hút ngày càng nhiều nhân lực khoa học - công nghệ có trình độ cao; còn những nhân lực khoa học - công nghệ có trình độ thấp sẽ bị dồn về những nước đang phát triển.
Với bối cảnh như vậy, trong định hướng phát triển giai đoạn 2021 - 2030, nước ta cần chú trọng đến bốn giải pháp liên quan đến khoa học - công nghệ:
Thứ nhất, có chính sách đầu tư mạnh hơn cho hoạt động và nghiên cứu khoa học - công nghệ, có trọng tâm hơn về kết cấu hạ tầng lẫn chính sách đãi ngộ.
Thứ hai, sản phẩm khoa học - công nghệ phải có chất lượng và tính cạnh tranh cao, thậm chí cạnh tranh vị trí hàng đầu. Muốn vậy, hoạt động khoa học - công nghệ phải nâng cao chất lượng, đạt chuẩn quốc tế, từ đó tích cực và chủ động hội nhập quốc tế, tăng cường tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.
Thứ ba, chú trọng hơn nữa việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực khoa học - công nghệ, thông qua việc nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ quản lý, nghiên cứu, kỹ thuật và công nhân khoa học - công nghệ, không chỉ ở hệ thống cơ sở đào tạo, nghiên cứu, các phòng thí nghiệm, mà còn ở cả các cơ sở sản xuất, kinh doanh.
Thứ tư, sử dụng hiệu quả nguồn chất xám tổng hợp từ nhiều nguồn nhân lực khoa học - công nghệ (trong nước, ngoài nước), đưa chất xám vào sản xuất, tạo ra được nhiều hơn giá trị thặng dư khi hội nhập quốc tế cũng như tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Nguồn nhân lực mới cho khoa học - công nghệ
Nguồn nhân lực khoa học - công nghệ có bốn vai trò đặc biệt quan trọng:
Thứ nhất, là lực lượng chủ yếu trong việc xây dựng các luận cứ khoa học giúp Đảng và Nhà nước xác định đường lối chiến lược, chính sách, kế hoạch công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đồng thời, là lực lượng nòng cốt trong triển khai thực hiện các đường lối, chính sách đó.
Thứ hai, là lực lượng đảm nhiệm việc nghiên cứu, khảo nghiệm và ứng dụng các quy trình công nghệ mới, các thiết bị, công cụ mới vào sản xuất; cải tiến và hệ thống hóa công nghệ truyền thống, nâng cao trình độ công nghệ.
Xu thế phát triển khoa học - công nghệ trên thế giới
Trong thập niên tới, có bốn xu thế phát triển khoa học - công nghệ đáng chú ý:
Một là, khoa học - công nghệ gắn chặt với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Cách mạng công nghiệp 4.0), phát triển ngày càng nhiều các ngành mới, như công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, công nghệ môi trường, công nghệ sinh học, công nghệ nano...
Hai là, hoạt động khoa học - công nghệ ngày càng tăng cường thống nhất với các quy định, các tiêu chuẩn quốc tế và gia tăng bảo hộ sở hữu trí tuệ. Điều này buộc các nước và các chủ thể khi tham gia quá trình hoạt động, nghiên cứu khoa học - công nghệ quốc tế phải tuân thủ những quy định, khuôn khổ, chế độ và tiêu chuẩn quốc tế.
Ba là, nghiên cứu khoa học - công nghệ ngày càng có tính cạnh tranh cao, đòi hỏi thời gian nghiên cứu nhanh, ngắn, nhưng phải tạo ra được các sản phẩm khoa học - công nghệ cá biệt, độc đáo và hiệu quả cao.
Bốn là, cùng với các xu thế phát triển khoa học - công nghệ mới, có sự phân công lại lao động quốc tế trong các hoạt động khoa học - công nghệ, theo đó, các nước phát triển sẽ thu hút ngày càng nhiều nhân lực khoa học - công nghệ có trình độ cao; còn những nhân lực khoa học - công nghệ có trình độ thấp sẽ bị dồn về những nước đang phát triển.
Với bối cảnh như vậy, trong định hướng phát triển giai đoạn 2021 - 2030, nước ta cần chú trọng đến bốn giải pháp liên quan đến khoa học - công nghệ:
Thứ nhất, có chính sách đầu tư mạnh hơn cho hoạt động và nghiên cứu khoa học - công nghệ, có trọng tâm hơn về kết cấu hạ tầng lẫn chính sách đãi ngộ.
Thứ hai, sản phẩm khoa học - công nghệ phải có chất lượng và tính cạnh tranh cao, thậm chí cạnh tranh vị trí hàng đầu. Muốn vậy, hoạt động khoa học - công nghệ phải nâng cao chất lượng, đạt chuẩn quốc tế, từ đó tích cực và chủ động hội nhập quốc tế, tăng cường tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.
Thứ ba, chú trọng hơn nữa việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực khoa học - công nghệ, thông qua việc nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ quản lý, nghiên cứu, kỹ thuật và công nhân khoa học - công nghệ, không chỉ ở hệ thống cơ sở đào tạo, nghiên cứu, các phòng thí nghiệm, mà còn ở cả các cơ sở sản xuất, kinh doanh.
Thứ tư, sử dụng hiệu quả nguồn chất xám tổng hợp từ nhiều nguồn nhân lực khoa học - công nghệ (trong nước, ngoài nước), đưa chất xám vào sản xuất, tạo ra được nhiều hơn giá trị thặng dư khi hội nhập quốc tế cũng như tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Nguồn nhân lực mới cho khoa học - công nghệ
Nguồn nhân lực khoa học - công nghệ có bốn vai trò đặc biệt quan trọng:
Thứ nhất, là lực lượng chủ yếu trong việc xây dựng các luận cứ khoa học giúp Đảng và Nhà nước xác định đường lối chiến lược, chính sách, kế hoạch công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đồng thời, là lực lượng nòng cốt trong triển khai thực hiện các đường lối, chính sách đó.
Thứ hai, là lực lượng đảm nhiệm việc nghiên cứu, khảo nghiệm và ứng dụng các quy trình công nghệ mới, các thiết bị, công cụ mới vào sản xuất; cải tiến và hệ thống hóa công nghệ truyền thống, nâng cao trình độ công nghệ.
Thứ ba, là lực lượng xung kích trong tiến trình hội nhập quốc tế, nâng cao vị thế và hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời là lực lượng lựa chọn, tiếp thu và ứng dụng những tiến bộ công nghệ mới của thế giới vào phát triển các ngành kinh tế quốc dân của Việt Nam.
Thứ tư, là lực lượng phổ biến rộng rãi tri thức khoa học, kiến thức và công nghệ sản xuất tiên tiến, qua đó, góp phần nâng cao trình độ hiểu biết về khoa học - công nghệ và kỹ thuật sản xuất, nâng cao năng lực hoạt động sản xuất của công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động khác.
Nguồn nhân lực khoa học - công nghệ có phạm vi rộng và vai trò quan trọng như vậy, nhưng trong Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 thì nguồn nhân lực khoa học - công nghệ nước ta mới gồm năm thành phần chủ yếu: cán bộ nghiên cứu; cán bộ kỹ thuật, công nghệ; các cá nhân thuộc mọi tầng lớp xã hội; cán bộ quản lý các cấp; đội ngũ tri thức Việt Nam ở nước ngoài và các chuyên gia nước ngoài.
Để đáp ứng yêu cầu phát triển, việc chú trọng đến những nguồn nhân lực khoa học - công nghệ mới (thanh niên trí thức, phụ nữ trí thức, doanh nghiệp trí thức) có ý nghĩa hết sức quan trọng. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiêu chí đầu tiên của người trí thức là phải có trình độ cử nhân: “Một người học xong đại học có thể gọi là có trí thức”(1), nhưng điều này chưa đủ, mà “muốn thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế”(2). Điều đó có nghĩa là phải có chính sách để mọi sinh viên ra trường đều có việc làm, để trở thành thanh niên trí thức, làm tăng lực lượng trí thức nước nhà và đem tri thức áp dụng vào thực tế.
Bên cạnh đó, ngày càng nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã nhận thức được vai trò quan trọng của khoa học - công nghệ đối với sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Do vậy, có rất nhiều doanh nghiệp gia tăng nhiều hơn các khoản đầu tư vào nguồn nhân lực có trình độ cao, làm nghiên cứu, phát triển công nghệ.
Nữ trí thức Việt Nam với khoa học - công nghệ và hội nhập quốc tế
Đội ngũ nữ trí thức Việt Nam là những người được đào tạo bài bản, có kiến thức sâu rộng về một lĩnh vực nào đó, có trình độ, vị trí khoa học và những đóng góp không nhỏ đối với sự nghiệp phát triển đất nước. Độ tuổi của nữ trí thức Việt Nam ngày càng rộng (từ 20 - 80 tuổi); số lượng nữ thạc sĩ, tiến sĩ, phó giáo sư và giáo sư ngày càng nhiều, bao trùm trên nhiều ngành, nghề, từ giáo dục - đào tạo đến công nghệ số, kỹ thuật quốc phòng, khoa học sự sống… Trong lĩnh vực khoa học - công nghệ, số lượng phụ nữ chiếm tỷ lệ khá cao, khoảng hơn 42%.
Ra đời vào ngày 8-3-2011, Hội Nữ trí thức Việt Nam là tổ chức thành viên của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, là mái nhà chung của đội ngũ nữ trí thức Việt Nam, thấu hiểu và chia sẻ những thách thức cũng như khó khăn của đội ngũ nữ trí thức, tạo môi trường cho đội ngũ nữ trí thức phát huy sức sáng tạo và trí tuệ của mình, nhằm cống hiến nhiều hơn nữa cho sự phát triển chung của xã hội. Với tôn chỉ, mục đích và phương hướng hoạt động đã được xác định, Hội Nữ trí thức Việt Nam đang góp phần nâng cao vị thế của đội ngũ nữ trí thức Việt Nam lên tầm cao mới, trong xu thế đổi mới, phát triển và hội nhập quốc tế.
Nữ trí thức Việt Nam so với nữ trí thức của nhiều nước trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đang có khá nhiều khó khăn, thiệt thòi.
Một là, vấn đề bình đẳng giới. Trong khu vực ASEAN, đến nay mới có Việt Nam đã ban hành Luật Bình đẳng giới (năm 2006), tuy nhiên, Việt Nam lại là nước duy nhất trong ASEAN có độ tuổi về hưu của nữ giới thấp hơn nam giới. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ nói chung và nữ trí thức nói riêng chưa thực sự được quan tâm đúng mức. Ở nhiều bộ, ngành, địa phương,… việc quy định tuổi được quy hoạch ở nữ giống nam, thậm chí số năm yêu cầu cống hiến sau khi được bổ nhiệm bằng nam, trong khi đó tuổi nghỉ hưu của nữ sớm hơn nam, là một bất cập.
Hai là, vấn đề định kiến giới. Quan niệm và phân biệt giới vẫn còn ảnh hưởng ở một bộ phận các tầng lớp xã hội, việc “trọng nam, khinh nữ” không chỉ có ở các vùng nông thôn mà cả ở đô thị, ở cả một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, những người có trình độ học vấn, địa vị cao trong xã hội. Chính tư tưởng “khinh nữ” trong xã hội đã khiến nhiều người chưa coi trọng năng lực của người phụ nữ, nhất là trong nghiên cứu khoa học - công nghệ. Điều này không chỉ hạn chế nữ giới tiếp cận giáo dục bậc cao, mà còn ảnh hưởng đến cách nhìn nhận, đánh giá, lựa chọn, đào tạo, sử dụng nữ trí thức, kìm hãm sự thăng tiến, phát triển của không ít chị em. Luật Bảo vệ và phát triển của phụ nữ Lào (năm 2004), Luật Bảo vệ phụ nữ Myanmar (năm 2013) đã góp phần giải quyết vấn đề định kiến giới ở các nước này. Ở Myanmar, thậm chí nhiều phụ nữ lựa chọn cuộc sống độc thân để học lên cao, thăng tiến, làm giàu, nghiên cứu khoa học…, nhận được sự động viên, khuyến khích trong gia đình mà không bị xã hội lên án.
Ba là, trong tìm kiếm việc làm. Dù có học vấn cao, được đào tạo bài bản, nhưng nữ trí thức thất nghiệp nhiều hơn nam giới, nữ trí thức ở nông thôn thất nghiệp nhiều hơn nữ trí thức ở thành thị. Nhiều phụ nữ học giỏi hơn nam giới, thi tuyển điểm cao hơn nam giới, nhưng vẫn bị hạn chế trong tuyển dụng vào một số ngành khoa học - công nghệ.
Bốn là, nữ trí thức Việt Nam chưa thực sự được động viên, khuyến khích theo đuổi một số lĩnh vực, nhất là khoa học tự nhiên và khoa học - kỹ thuật; có sự “phân biệt ngành nghề trong tiềm thức” đối với phụ nữ.
Trong bối cảnh đất nước hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, hội nhập gắn với phát triển bền vững, thì đội ngũ trí thức chính là nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh đất nước. Đầu tư cho đội ngũ trí thức là đầu tư cho phát triển bền vững. Đảng và Nhà nước cần có chính sách và kế hoạch cụ thể để phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng bốn đối tượng: trí thức trẻ, những trí thức đã có cống hiến và dày dặn kinh nghiệm thực tiễn, trí thức người dân tộc thiểu số và trí thức nữ.
Để tạo điều kiện cho đội ngũ nữ trí thức phát triển, cống hiến và hội nhập quốc tế, cần thực hiện một số nội dung sau:
Một là, ngày nay, khoa học - công nghệ nói chung và khoa học - xã hội nói riêng mang tính quyết định đối với sự phát triển đất nước. Nữ trí thức Việt Nam tham gia nghiên cứu, giảng dạy, làm việc ở tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội. Do vậy, lực lượng này cần được quan tâm, chăm sóc và thúc đẩy phát triển. Cần có chính sách cụ thể, với sự nhạy cảm giới, có quan điểm giới rõ ràng, với sự định hướng “biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử về giới”. Thúc đẩy sự phát triển là lắng nghe và sử dụng những ý kiến khoa học của nữ trí thức một cách nghiêm túc.
Hai là, có chính sách ưu tiên đối với đào tạo nữ trí thức. Trong kế hoạch đào tạo đội ngũ nữ trí thức nói chung, nhất là đội ngũ nữ trí thức trẻ, cần tạo điều kiện cho những người có năng lực chuyên môn giỏi đạt được học vị sau đại học trước khi có gia đình hoặc chưa có con nhỏ. Đồng thời, cần quan niệm việc thực hiện chức năng sinh con và nuôi dạy con không phải là việc riêng của gia đình, mà đó phải là một công việc xã hội.
Ba là, có các chế độ, chính sách quy hoạch, nâng lương, nâng bậc, bổ nhiệm hợp lý đối với nữ trí thức để động viên, thu hút và nâng cao khả năng lao động, sáng tạo của đông đảo nữ trí thức trên toàn quốc.
Bốn là, quan tâm và ưu đãi nữ trí thức thuộc dân tộc thiểu số, phụ nữ miền núi, vùng sâu, vùng xa. Trong đó, cần có chính sách đặc thù đối với cán bộ nữ công tác ở vùng cao, vùng sâu, biên giới, hải đảo, là người dân tộc thiểu số, cán bộ nữ đi học có con nhỏ. Như vậy, không chỉ tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu số phát triển, mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của các vùng khó khăn, rút ngắn khoảng cách phát triển không đồng đều giữa các vùng, miền, dân tộc trong cả nước.
Năm là, thúc đẩy hoạt động tuyên truyền, giáo dục về bình đẳng giới, để xã hội nhận thức được ngày càng sâu sắc vai trò, tầm quan trọng của phụ nữ đối với sự phát triển của quốc gia. Bên cạnh đó, cần nhanh chóng đưa Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình thực sự đi vào cuộc sống, phù hợp với các mục tiêu của Cộng đồng Văn hóa - Xã hội ASEAN và Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN.
Sáu là, coi trọng vai trò của Hội Nữ trí thức Việt Nam trong việc tập hợp lực lượng nữ trí thức, kể cả đội ngũ nữ trí thức sinh sống và làm việc ở nước ngoài; tạo điều kiện cho nữ trí thức không chỉ chia sẻ tri thức, kinh nghiệm và giúp đỡ nhau trong công việc, hoạt động xã hội, mà còn là tổ chức bảo vệ quyền lợi và phát triển cho nữ trí thức. Hỗ trợ Hội Nữ trí thức Việt Nam về cơ chế và tài chính để tăng cường kết nối với các nữ trí thức người Việt Nam trên thế giới, cũng như với nữ trí thức các nước khác.
Bảy là, tiếp tục chỉnh sửa những quy định về tuổi nghỉ hưu chưa hợp lý hiện nay đối với phụ nữ, đặc biệt phụ nữ làm việc trong các lĩnh vực khoa học - công nghệ, văn hóa, giáo dục, y tế… Quy định này phần nào làm hạn chế khả năng phát triển đối với phụ nữ, đồng thời có thể là nguyên nhân của tâm lý “trung bình chủ nghĩa”, ngại phấn đấu của không ít phụ nữ sau khi có gia đình. Từ góc độ nguồn lực lao động, quy định này cũng gây lãng phí cho xã hội và gây khó khăn cho những cơ quan, đơn vị mà tỷ lệ nữ chiếm đại đa số.
Tám là, coi trọng và huy động các nguồn lực xã hội để hình thành quỹ hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực nữ, đào tạo nữ trí thức trẻ có tri thức, năng lực, kiến thức về hội nhập quốc tế./.
Bài đăng trên Tạp chí Cộng sản điện tử ngày 20.01.2021
__________________________
(1), (2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.5, tr. 275
TS Luận Thùy Dương
Đại sứ, Học viện Ngoại giao
Nguồn: https://www.tapchicongsan.org.vn/
Bài liên quan
- Thách thức trong xây dựng mô hình tòa soạn số báo chí ở Việt Nam hiện nay
- Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích phản hồi công chúng đối với hoạt động truyền thông trách nhiệm xã hội về môi trường (ECSR) tại Việt Nam
- Giải pháp đẩy mạnh tuyên truyền chuyển đổi số cho các thành viên Liên minh hợp tác xã miền núi phía Bắc
- Thông tin về phòng, chống tội phạm công nghệ cao trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay
- Xu hướng nghiên cứu về tài sản thương hiệu bệnh viện tư và ảnh hưởng của các công cụ truyền thông tiếp thị tích hợp
Liên kết
- Báo điện tử đảng cộng sản việt nam
- Báo nhân dân
- Báo Quân đội nhân dân
- Cổng thông tin điện tử Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia hồ chí minh
- Tạp chí Cộng sản
- Tạp chí Giáo dục lý luận
- Tạp chí Giáo dục và Xã hội
- Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
- Tạp chí Lý luận chính trị
- Tạp chí Nghiên cứu con người
- TẠP CHÍ Nghiên cứu dân tộc
- Tạp chí Người làm báo
- Tạp chí Nội chính
- Tạp chí Quản lý Nhà nước
- Tạp chí Tổ chức Nhà nước
- Tạp chí Tuyên giáo
- Tạp chí Xây Dựng Đảng
- Thư viện số Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Trang thông tin điện tử Hội đồng Lý luận Trung ương
Vai trò của người lãnh đạo trong công tác truyền thông chính sách tại Việt Nam
Trong bối cảnh đổi mới quản trị nhà nước và chuyển đổi số mạnh mẽ, truyền thông chính sách không chỉ là công cụ phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước tới người dân, mà còn là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và người dân, củng cố niềm tin và bảo đảm sự tham gia của người dân vào quá trình hoạch định, thực thi chính sách. Bài viết tập trung phân tích vai trò của người lãnh đạo, nhất là người đứng đầu, trong truyền thông chính sách, từ định hướng nội dung, tổ chức thực thi đến quản trị khủng hoảng thông tin; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của người lãnh đạo trong công tác truyền thông chính sách, góp phần tăng cường hiệu quả thực thi chính sách trong thực tiễn.
Thách thức trong xây dựng mô hình tòa soạn số báo chí ở Việt Nam hiện nay
Thách thức trong xây dựng mô hình tòa soạn số báo chí ở Việt Nam hiện nay
Bài viết thông qua phân tích kết quả đánh giá mức độ trưởng thành chuyển đổi số báo chí cùng một số tài liệu liên quan nêu lên ba thách thức trong xây dựng mô hình toà soạn số tại Việt Nam hiện nay. Đó là: khả năng làm chủ công nghệ của các cơ quan báo chí, năng lực kinh tế báo chí số và cuối cùng chưa có hình mẫu toà soạn số cụ thể làm ví dụ cho các cơ quan báo chí còn lại. Từ đó, tác giả đề xuất ba giải pháp nhằm thúc đẩy xây dựng toà soạn số báo chí tại Việt Nam là: các cơ quan báo chí cần chủ động nâng cao hiểu biết về công nghệ, xây dựng quỹ hỗ trợ và tăng cường hợp tác giữa cơ quan báo chí với các công ty công nghệ trong nước.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích phản hồi công chúng đối với hoạt động truyền thông trách nhiệm xã hội về môi trường (ECSR) tại Việt Nam
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích phản hồi công chúng đối với hoạt động truyền thông trách nhiệm xã hội về môi trường (ECSR) tại Việt Nam
Trong bối cảnh chuyển đổi số, việc phân tích phản hồi của công chúng ngày càng trở thành yếu tố quan trọng trong đánh giá hiệu quả truyền thông trách nhiệm xã hội về môi trường (ECSR). Nghiên cứu này nhằm làm rõ vai trò của trí tuệ nhân tạo (AI), đặc biệt là các kỹ thuật nhận diện cảm xúc, trong phân tích phản hồi công chúng trên môi trường số. Bài viết kết hợp phương pháp tổng quan tài liệu với phân tích thực nghiệm trên 2.151 bình luận tiếng Việt thu thập từ 21 bài đăng Facebook của Vinamilk và Heineken Việt Nam trong giai đoạn 11/2025–3/2026. Kết quả cho thấy phản hồi tích cực chiếm ưu thế, tuy nhiên vẫn tồn tại các biểu hiện hoài nghi liên quan đến tính xác thực của thông điệp ECSR. Cấu trúc cảm xúc và nội dung phản hồi thể hiện tính đa chiều, tập trung vào các chủ đề như cam kết môi trường, minh bạch thông tin và nghi ngờ greenwashing. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông ECSR tại Việt Nam.
Giải pháp đẩy mạnh tuyên truyền chuyển đổi số cho các thành viên Liên minh hợp tác xã miền núi phía Bắc
Giải pháp đẩy mạnh tuyên truyền chuyển đổi số cho các thành viên Liên minh hợp tác xã miền núi phía Bắc
Chuyển đổi số đang trở thành xu thế tất yếu, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0. Khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam, với đặc thù kinh tế tập thể và mô hình hợp tác xã là phổ biến, đang đối mặt với nhiều thách thức về hạ tầng công nghệ, nhận thức và nhân lực. Để hiện thực hóa chủ trương này, công tác tuyên truyền về chuyển đổi số là bước khởi đầu quan trọng nhằm nâng cao nhận thức và tạo động lực cho các thành viên liên minh hợp tác xã. Bài viết khái quát ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong việc chuyển đổi số, từ đó, đề xuất các giải pháp đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chuyển đổi số cho các thành viên Liên minh Hợp tác xã ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam thời gian tới.
Thông tin về phòng, chống tội phạm công nghệ cao trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay
Thông tin về phòng, chống tội phạm công nghệ cao trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay
Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số và Internet đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều loại hình tội phạm mới xuất hiện, trong đó tội phạm công nghệ cao (CNC) đang trở thành vấn đề nổi bật của an ninh xã hội hiện đại. Trong bối cảnh đó, báo mạng điện tử (BMĐT) giữ vai trò quan trọng trong việc truyền tải thông tin chính thống, cảnh báo thủ đoạn tội phạm và nâng cao nhận thức của công chúng về an toàn thông tin. Bài viết tập trung nghiên cứu hoạt động thông tin về phòng, chống tội phạm công nghệ cao trên báo mạng điện tử Việt Nam, thông qua việc phân tích cơ sở lý luận và khảo sát thực tiễn trên một số báo điện tử tiêu biểu. Từ kết quả nghiên cứu, bài viết đánh giá thực trạng, chỉ ra những vấn đề đặt ra trong hoạt động thông tin, đồng thời đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông về phòng, chống tội phạm công nghệ cao trong bối cảnh truyền thông số hiện nay.
llcttt1994dientu@gmail.com
024.38348033
Bình luận