Vai trò của các chương trình tương tác trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay
1. Mở đầu
Theo Từ điển tiếng Việt do GS Hoàng Phê chủ biên, “tương tác là sự tác động qua lại lẫn nhau”, ví dụ như quan hệ tương tác giữa hai vật hay sự tương tác giữa ánh sáng và môi trường(1). Trong cuốn “Báo chí và mạng xã hội” do PGS.TS Đỗ Chí Nghĩa và PGS.TS Đinh Thị Thu Hằng thực hiện, “tương tác là sự tác động qua lại, sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa những sự vật, sự việc bằng nhiều hình thức”(2).
Như vậy, hiểu một cách ngắn gọn, tương tác là sự tác động qua lại lẫn nhau của hai hay nhiều chủ thể. Dưới góc độ xã hội, đây là quá trình tác động qua lại giữa các cá nhân, nhóm xã hội với tư cách là chủ thể - khách thể nhằm mang đến những kết quả mới hơn trong sự vận động của xã hội. Trong lĩnh vực truyền thông và báo chí, tương tác được hiểu là sự tác động qua lại hai chiều giữa cơ quan báo chí, tác giả với công chúng.
Trên báo mạng điện tử, tính tương tác là một trong những đặc trưng cơ bản. Tính tương tác của báo mạng điện tử được hiểu là khả năng thông tin qua lại, đa chiều, nhanh chóng giữa tòa soạn và công chúng, giữa công chúng với nhà báo và giữa công chúng với nhau. Thời điểm ban đầu, theo TS Nguyễn Thị Thoa, tính tương tác của báo mạng điện tử được hiểu dưới 3 góc độ: tương tác định hướng: là sự định vị trên các văn bản, như các nút trang tiếp, trở về đầu trang...; tương tác chức năng: là sự linh hoạt của các đường dẫn cho phép người đọc khả năng tham chiếu tới các nội dung khác, các siêu liên kết (hyper link)…; tương tác tùy biến: là tính thông minh ở các công cụ cá nhân (như hộp thư điện tử) cho phép báo mạng điện tử tự thích ứng để tiếp đón công chúng(3) …
Theo thời gian, cùng với sự phát triển của Internet và báo mạng điện tử, tính tương tác trên báo mạng điện tử ngày càng trở nên đa dạng, phong phú và được nâng cao hơn. Ngoài các hình thức tương tác mặc định được lập trình sẵn trên tờ báo như đã nêu trên, báo mạng điện tử còn có các hình thức tương tác hấp dẫn hơn như các cuộc giao lưu trực tuyến, bàn tròn trực tuyến, phỏng vấn trực tuyến, các diễn đàn mở của công chúng… được gọi chung với tên gọi các chương trình tương tác.
Theo định nghĩa của Từ điển tiếng Việt do GS Hoàng Phê chủ biên, “chương trình là toàn bộ nói chung những dự kiến hoạt động theo một trình tự nhất định và trong một thời gian nhất định, nêu một cách vắn tắt”. Trong tin học, đây là dãy các mệnh lệnh, được viết theo một cú pháp nhất định, mô tả cách giải quyết một bài toán trên máy tính(4).
Như vậy, các chương trình tương tác trên báo mạng điện tử có thể hiểu là một sản phẩm báo mạng điện tử hoặc một phương tiện truyền tải được tích hợp vào sản phẩm báo mạng điện tử, được thiết lập theo một trình tự và thời gian nhất định mà ở đó công chúng có thể trực tiếp tham gia vào sản phẩm báo chí.
Các chương trình tương tác trên báo mạng điện tử có hai hình thức chính. Thứ nhất là tương tác trực tuyến gián tiếp. Đây là cuộc trao đổi qua lại giữa toà soạn và công chúng hoặc công chúng với công chúng được tổ chức thực hiện thông qua hình thức gửi phản hồi, bình luận, gửi bài viết về một chủ đề nóng bỏng đang nhận được nhiều quan tâm trong một khoảng thời gian ngắn. Cuộc trao đổi này được thể hiện dưới hình thức là một tác phẩm báo chí hoàn chỉnh (như các bài viết tại các chuyên mục góc nhìn độc giả, ý kiến độc giả…) nhằm khởi xướng một chủ đề thảo luận, kêu gọi độc giả tham gia nêu ý kiến, trao đổi để cùng nhau thảo luận, phân tích, làm sáng tỏ vấn đề.
Thứ hai là tương tác trực tuyến trực tiếp: đây là các sản phẩm tương tác được tích hợp hoặc cao hơn là những cuộc trò chuyện, giao lưu, đối thoại được tổ chức, thực hiện và xuất bản song song, đồng thời với sự kiện đang xảy ra và công chúng được trực tiếp tham gia vào cuộc trao đổi với một, hoặc nhiều khách mời về một chủ đề trong khoảng thời gian diễn ra chương trình (như các trò chơi, các bài trả lời trắc nghiệm, thăm dò công chúng hay các hình thức phỏng vấn trực tuyến, giao lưu trực tuyến, bàn tròn trực tuyến, tọa đàm trực tuyến…).
Như vậy, mặc dù là một phần để tạo tính tương tác chung trên báo mạng điện tử, các chương trình tương tác có rất nhiều điểm khác biệt, không mang tính chất mặc định mà đòi hỏi tòa soạn phải có kế hoạch, được hoạt động theo một trình tự, một thời gian nhất định. Trên báo mạng điện tử, các chương trình tương tác là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên tính đa phương tiện của loại hình báo chí này, cùng với văn bản, ảnh, audio, video và đồ họa. Trong phạm vi bài viết, đối tượng được bàn đến là các chương trình tương tác trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay.
2. Vai trò của các chương trình tương tác trên báo mạng điện tử
Thứ nhất, đáp ứng nhu cầu thông tin và góp phần định hướng dư luận xã hội
Một trong những thế mạnh của báo mạng điện tử đó là tính tức thời và phi định kỳ, nhờ đó, báo mạng điện tử luôn là tờ báo cập nhật tin tức một cách nhanh chóng nhất, đáp ứng nhu cầu thông tin của độc giả một cách kịp thời, hiệu quả nhất... Nhờ sự phát triển bùng nổ của Internet và điện thoại thông minh, công chúng có thể tiếp cận thông tin trên báo mạng điện tử mọi lúc, mọi nơi, bất cứ khi nào họ muốn.
Trên nền tảng đó, vai trò đầu tiên của các chương trình tương tác chính là cung cấp thông tin cho độc giả. Tuy nhiên, việc đáp ứng nhu cầu thông tin này được thực hiện theo cách thức rất đặc biệt: công chúng được trực tiếp tham gia vào quá trình sáng tạo tác phẩm bằng cách đóng góp câu hỏi hoặc chủ động nói lên nhu cầu thông tin của mình thông qua các góc nhìn, ý kiến… gửi về tòa soạn. Khi có một vấn đề nổi cộm, gây dư luận trái chiều trong xã hội, công chúng sẽ có những băn khoăn, ý kiến, khúc mắc khác nhau. Điều họ cần là những thông tin chính thống, uy tín, có thể giáp đáp những câu hỏi mà họ đang gặp phải. Tại thời điểm đó, một chương trình tương táp trực tiếp như giao lưu trực tuyến, phỏng vấn trực tuyến với khách mời là các chuyên gia, quan chức, người chịu trách nhiệm... giải đáp cho từng vấn đề cụ thể của độc giả sẽ góp phần giải “cơn khát” thông tin này, giúp mở mang thêm các kiến thức mới cho độc giả.
Ngay cả với các chương trình tương tác gián tiếp, việc thu nhận thông tin của độc giả cũng rất dễ dàng. Tại các bài viết ở các chuyên mục như bạn đọc viết, ý kiến bạn đọc…, công chúng được nêu lên quan điểm, ý kiến của mình và ở ngay phía dưới bài viết, những ý kiến này sẽ lập tức nhận được các phản hồi của các công chúng khác thông qua phần bình luận. Lúc này, mỗi bài viết chính là một diễn đàn thu nhỏ, mỗi bình luận sẽ góp thêm một góc nhìn, giúp cho công chúng có thêm cái nhìn nhiều chiều về những vấn đề, những thắc mắc của họ… Thực tế cho thấy, trên những tờ báo mạng điện tử lớn như VnExpress, Dân trí, Tiền Phong… có những diễn đàn có tới hàng chục, thậm chí hàng trăm người tham gia thảo luận. Nhờ đó, thông tin có thể được mở rộng không giới hạn, kiến thức hay các góc nhìn mà công chúng thu nhận được trở nên rất đa dạng, nhiều chiều.
Từ đây cũng có thể thấy rõ vai trò định hướng xã hội của các chương trình tương tác trên báo mạng điện tử. Khi một vấn đề, câu hỏi nóng bỏng được giải quyết trong các chương trình tương tác, lượng kiến thức mới mẻ mà công chúng thu nhận được sẽ góp phần “khai sáng” cho họ. Chẳng hạn, khi việc thay đổi Căn cước công dân bình thường sang Căn cước công dân gắn chip tạo ra nhiều câu hỏi, nhiều thắc mắc và lo lắng trong công chúng, cuộc giao lưu trực tuyến “Những tiện ích của căn cước công dân gắn chip và hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư" do báo Tuổi trẻ Online tổ chức từ với sự tham dự của các khách mời đến từ Bộ công an đã giải tỏa được rất nhiều “nút thắt” của công chúng. Nhiều người đã bày tỏ thông qua bình luận rằng từ chỗ cảm thấy rắc rối, họ đã hiểu, thông suốt hơn chính sách này của Đảng và Nhà nước. Đặc biệt, với sức lan tỏa nhanh và mạnh của Internet, những thông tin này không chỉ có tác động đối với một vài công chúng đơn lẻ mà còn có thể tác động tới rất nhiều cá nhân khác có cùng vấn đề hoặc nằm trong tầm ảnh hưởng của vấn đề đó, thậm chí là với toàn xã hội.
Thứ hai, tạo điều kiện cho công chúng tham gia vào quá trình sáng tạo tác phẩm, thể hiện mạnh mẽ tính dân chủ của báo chí, nâng cao vị thế của công chúng
Với cách làm báo thông thường, công chúng gần như không tham gia vào quá trình sáng tạo tác phẩm, thay vào đó, họ sẽ gửi bài về tòa soạn dưới tư cách cộng tác viên. Tuy nhiên, trong các chương trình tương tác trên báo mạng điện tử, vai trò của công chúng quan trọng hơn thế rất nhiều lần. Tại các chương trình tương tác như giao lưu trực tuyến, phỏng vấn trực tuyến, tọa đàm trực tuyến…, công chúng được trở thành người đóng góp chính cho tác phẩm, thể hiện mạnh mẽ tính dân chủ của báo chí.
Mô hình truyền thông của Claude Shannon và Harold Lasswell
S: (Source) nguồn phát M: (Message) thông điệp
C: (Channel) kênh R: (Receiver) người nhận
E: (Effect) hiệu quả N: (Noise) nhiễu
F: (Feedback) kênh phản hồi
Theo mô hình truyền thông của Claude Shannon và Harold Lasswell, công chúng không còn đơn thuần chỉ là đối tượng tiếp nhận thông tin mà thậm chí còn tác động trở lại nguồn phát, trở thành một yếu tố quyết định trong quá trình vận hành của hoạt động truyền thông đại chúng. Công chúng còn có thể xuất bản thông tin một cách dễ dàng, trở thành nguồn phát thông điệp nếu họ muốn.
Điều này hoàn toàn đúng với các chương trình tương tác trên báo mạng điện tử. Đầu tiên, công chúng là đối tượng cung cấp thông tin cho các phóng viên, tòa soạn và cả các công chúng khác thông qua các chuyên mục như bạn đọc viết hay diễn đàn. Có thể lấy ví dụ chuyên mục Góc nhìn của báo mạng điện tử VnExpress, với đội ngũ người viết là các chuyên gia đầu ngành, các nhà khoa học…, những bài viết từ nhóm độc giả này đã cung cấp cho người đọc những thông tin khách quan, đa chiều về mọi vấn đề trong cuộc sống, từ các vấn đề dân sinh, các vụ việc nổi cộm trong xã hội hay những lĩnh vực đòi hỏi có kiến thức chuyên sâu như kinh tế vĩ mô, chính trị... Đó cũng là lý do chuyên mục này trở thành một trong những chuyên mục “ăn khách” bậc nhất của tờ báo này.
Cao hơn nữa, độc giả còn trực tiếp tham gia vào quá trình sáng tạo tác phẩm của tòa soạn – điều chưa từng có tại bất kỳ loại hình báo chí nào từ trước đến nay. Toàn bộ các câu hỏi của các chương trình tương tác trực tiếp như giao lưu trực tuyến, tọa đàm trực tuyến, đối thoại trực tuyến… đều là của công chúng, hay nói cách khác công chúng chiếm đến 50% trong một tác phẩm báo chí. Khi không còn bị động chờ thông tin được cung cấp mà thay vào đó, được chủ động sáng tạo một tác phẩm báo chí sẽ vừa nâng cao vị thế vừa tạo ra sự hứng thú đặc biệt cho công chúng báo mạng điện tử.
Việc công chúng được phép tham gia vào quá trình sáng tạo một tác phẩm đã cho thấy tính dân chủ và tự do báo chí rất cao. Công chúng không còn là người thụ động chờ nhà báo cung cấp thông tin mà thay vào đó họ được bày tỏ chính kiến, được chất vấn, được đặt câu hỏi, được tự do tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi của mình, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn. Thực tế cho thấy, được bày tỏ chính kiến trước xã hội là biểu hiện của tính dân chủ và các chương trình tương tác của BMĐT đã làm được điều đó. Mọi ý kiến đều được ghi nhận, được xem xét công bằng và trả lời một cách thấu đáo, minh bạch, tôn trọng. Điều này đã góp phần vào việc dân chủ hóa xã hội cũng như thể hiện quyền tự do báo chí một cách tích cực.
Thứ ba, gắn kết công chúng với tòa soạn và công chúng với nhau
Tiếp cận, gắn kết, gần gũi với công chúng là mục tiêu của tất cả các cơ quan báo chí. Trước đây, khi chưa có báo mạng điện tử, con đường để kết nối giữa công chúng và tòa soạn, công chúng với nhau khá hạn chế, chủ yếu là thông qua các hình thức như đường dây nóng, đơn thư, cao hơn là các chuyên mục, chương trình như “Điều tra theo thư bạn đọc”, “Điểm thư bạn đọc”, “Diễn đàn bạn đọc” ... Nhờ tính tương tác và khả năng đa phương tiện, sự kết nối giữa báo mạng điện tử và công chúng trở nên dễ dàng hơn rất nhiều.
Như trên đã đề cập, việc được trực tiếp tác động hay tham gia vào một sản phẩm báo chí đã góp phần rút ngắn khoảng cách giữa cơ quan báo chí và độc giả. Thay vì chỉ thụ động chờ đợi thông tin mà các tòa soạn xuất bản thì thì nay độc giả đã có thể cùng chung sức sáng tạo một tác phẩm báo mạng điện tử. Bên cạnh đó, khi ý kiến cá nhân được đăng tải, độc giả luôn xuất hiện tâm lý tò mò, mong chờ, hào hứng với các bình luận, quan điểm của độc giả khác. Nhờ sự tương tác chủ động đó, họ trở nên yêu mến, gần gũi, gắn bó với tờ báo hơn.
Bên cạnh đó, các chương trình tương tác trên báo mạng điện tử còn tạo ra sự kết nối mật thiết giữa công chúng với nhau. Tờ báo không cần phải mở ra bất kỳ một diễn đàn nào mà mỗi một bài viết trên báo mạng điện tử đều có thể trở thành một diễn đàn mở thu nhỏ - nơi công chúng có thể thoải mái bày tỏ ý kiến, trao đổi, bình luận, trêu đùa, thậm chí tranh cãi với nhau tại ô bình luận phía dưới mỗi bài viết hoặc viết bài để phản hồi. Sự tương tác này trở nên đặc biệt sôi nổi tại những chuyên mục mà công chúng nêu ý kiến, quan điểm của mình như Góc nhìn, Ý kiến, Bạn đọc nghĩ, Tâm sự … Đây chính là tiền đề mở các cuộc hội thoại tiếp theo cũng như giúp công chúng kết nối với nhau, tạo ra một mạng lưới mối quan hệ ở ngay chính trên báo mạng điện tử.
Thứ tư, thu hút độc giả, tăng tính cạnh tranh cho báo mạng điện tử
Thu hút công chúng chính là mục đích hướng đến của các tòa soạn bởi công chúng ảnh hưởng rất lớn tới doanh thu, phát hành hay quảng cáo. Với sự phát triển bùng nổ của các nền tảng truyền thông số, công chúng ngày càng kén chọn và không muốn thụ động, chờ đợi trong việc tiếp nhận thông tin. Đây cũng là lý do nhiều tòa soạn đẩy mạnh tính tương tác, các chương trình tương tác trên mọi nền tảng để thu hút công chúng. Từ các trò chơi trắc nghiệm đơn giản đến các cấp độ cao hơn như giao lưu trực tuyến, phỏng vấn trực tuyến…, các chương trình tương tác trên báo mạng điện tử ngày càng phong phú về nội dung và hình thức.
Có thể thấy những chương trình tương tác như giao lưu trực tuyến, phỏng vấn trực tuyến là một trong những con đường hữu hiệu để thu hút công chúng, từ đó tăng tính cạnh tranh cho tờ báo, nâng cao vị thế của báo mạng điện tử. Thời điểm tranh cãi về bộ sách giáo khoa Cánh Diều diễn ra, buổi phỏng vấn trực tuyến Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết – Chủ biên của bộ sách trên VnExpress đã thu về hơn 800 câu hỏi và hàng trăm lượt tương tác trực tiếp khác tại ô bình luận. Hay khi vụ việc CLB Tình người tạo ra những luồng dư luận trái chiều trong xã hội, cuộc tọa đàm trực tuyến của báo Đại Đoàn Kết xoay quanh vụ việc này đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo công chúng, các chuyên gia, nâng tên tuổi của tờ báo lên cao khi góp phần đưa loạt bài về CLB Tình người đạt giải A Giải báo chí Quốc gia. Rõ ràng, việc được trực tiếp tham gia vào một vấn đề nóng hổi đang diễn ra, được bày tỏ quan điểm của mình một cách rộng rãi và nhận về sự tán đồng hoặc sự phản biện, giao lưu khác sẽ sẽ khiến công chúng thích thú hơn rất nhiều so với việc bị động trước màn hình.
Một điều thú vị khác là có không ít độc giả trở thành độc giả trung thành của một tờ báo chỉ vì một chương trình tương tác cố định ở trên tờ báo đó. Có thể lấy mục Tâm sự của VnExpress làm ví dụ. Mặc dù không phải là một chuyên mục nổi bật, trọng điểm của tờ báo, chuyên mục này lại có một lượng lớn độc giả rất trung thành. Gần như 100% bài viết trên Tâm sự đều nhận được phản hồi, thảo luận của độc giả và trong đó có rất nhiều độc giả quen thuộc, xuất hiện trong nhiều bài viết khác nhau. Những “tư vấn viên” này hoạt động rất sôi nổi, thông qua việc phân tích, bàn luận, họ giúp người viết và các độc giả đang có cùng mối quan tâm giải quyết các vấn đề.
Như vậy, ở dưới góc độ này, các chương trình tương tác trên báo mạng điện tử đã trở thành “món ăn tinh thần” đúng nghĩa của công chúng, là nơi họ có thể giao lưu, được thể hiện cái tôi, quan điểm của mình một cách thoải mái nhờ vào tính ẩn danh khi bình luận. Chính những sự trao đổi qua lại này sẽ kích thích tâm lý độc giả, thúc đẩy họ tiếp tục tham gia vào chương trình tương tác kế tiếp. Điều này tạo nên thói quen cho chính công chúng và hình thành sự gần gũi, thân thiết giữa công chúng với tờ báo và từ đó thu hút công chúng đến với tờ báo.
3. Kết luận
Các chương trình tương tác trên báo mạng điện tử ngày càng đa dạng, phong phú về nội dung và hình thức. Thậm chí theo thời gian, một số chương trình tương tác trên báo mạng điện tử như giao lưu trực tuyến, tọa đàm trực tuyến đã trở thành một sản phẩm mang tính chất “đặc sản” của báo mạng điện tử, thu hút một lượng công chúng đông đảo theo dõi thường xuyên cũng như nâng cao vị thế cho tờ báo. Trong bối cảnh chuyển đổi số báo chí đang diễn ra mạnh mẽ, sự phát triển của công nghệ còn có thể giúp các chương trình tương tác trở nên hấp dẫn hơn, từ đó có thể chinh phục các nhóm độc giả mới, phân phối nội dung hiệu quả và tạo ra doanh thu lớn hơn./.
___________________________________
(1) GS Hoàng Phê (2021), Từ điển Tiếng Việt, NXB Hồng Đức, Hà Nội, tr.108.
(2) Đỗ Chí Nghĩa, Đinh Thị Thu Hằng (2014), Báo chí và mạng xã hội, NXB Lý luận Chính trị, Hà Nội. báo chí, NXB Thông tấn, Hà Nội, tr.93.
(3) Nguyễn Thị Thoa (2006), Nhập môn báo mạng điện tử, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội.
(4) GS Hoàng Phê (2021), Từ điển Tiếng Việt, NXB Hồng Đức, Hà Nội, tr.243.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Thị Trường Giang (2014), Giáo trình tổ chức diễn đàn trên báo mạng điện tử, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội.
2. Nguyễn Thị Trường Giang (2019), Lý thuyết và kỹ năng báo mạng điện tử, Nxb. Chính trị Sự thật, Hà Nội.
3. Loic Hervouet (2009), Viết cho độc giả, Hội nhà báo Việt Nam, tháng 6/2009.
4. Phan Văn Kiền, Phan Quốc Hải, Phạm Chiến Thắng, Nguyễn Đình Hậu (2016), Một số xu hướng của báo chí truyền thông hiện đại, NXB Thông tin và Truyền thông, Hà Nội.
5. Nguyễn Trí Nhiệm – Nguyễn Thị Trường Giang (2014), Báo mạng điện tử: Đặc trưng và phương pháp sáng tạo, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
6. Collen M.keough and Thora Christiansen (2009) – The case Online Newspaper and the Web (tạm dịch: Thực trạng của BMĐT và các trang web), California University, Hoa Kỳ, 7/2009.
Nguồn: Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông điện tử
Bài liên quan
- Chiến lược truyền thông về du lịch Halal trên thế giới và gợi mở cho truyền thông Việt Nam
- Tạp chí điện tử Văn hoá và Phát triển với vai trò bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Mường
- Ứng dụng storytelling trong truyền thông y tế về tình trạng dị tật khe hở môi - vòm miệng
- Chiến dịch truyền thông về phòng chống bạo lực trẻ em tại Việt Nam: hiệu quả, thách thức và bài học kinh nghiệm
- Thực trạng và một số giải pháp nâng cao chất lượng thông tin về sức khỏe tâm thần trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay
Xem nhiều
-
1
Tạp chí điện tử Văn hoá và Phát triển với vai trò bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Mường
-
2
Kiên định tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh giữ gìn “hồn dân tộc”, đón nhận “trí tuệ nhân loại” trong kỷ nguyên số
-
3
Cơ sở lý luận và thực tiễn về Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc trong Báo cáo Chính trị Đại hội XIV của Đảng
-
4
Chiến lược truyền thông về du lịch Halal trên thế giới và gợi mở cho truyền thông Việt Nam
-
5
Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông nguy cơ tại Việt Nam hiện nay
-
6
Thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay
Liên kết
- Báo điện tử đảng cộng sản việt nam
- Báo nhân dân
- Báo Quân đội nhân dân
- Cổng thông tin điện tử Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia hồ chí minh
- Tạp chí Cộng sản
- Tạp chí Giáo dục lý luận
- Tạp chí Giáo dục và Xã hội
- Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
- Tạp chí Lý luận chính trị
- Tạp chí Nghiên cứu con người
- TẠP CHÍ Nghiên cứu dân tộc
- Tạp chí Người làm báo
- Tạp chí Nội chính
- Tạp chí Quản lý Nhà nước
- Tạp chí Tổ chức Nhà nước
- Tạp chí Tuyên giáo
- Tạp chí Xây Dựng Đảng
- Thư viện số Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Trang thông tin điện tử Hội đồng Lý luận Trung ương
Thách thức trong xây dựng mô hình tòa soạn số báo chí ở Việt Nam hiện nay
Bài viết thông qua phân tích kết quả đánh giá mức độ trưởng thành chuyển đổi số báo chí cùng một số tài liệu liên quan nêu lên ba thách thức trong xây dựng mô hình toà soạn số tại Việt Nam hiện nay. Đó là: khả năng làm chủ công nghệ của các cơ quan báo chí, năng lực kinh tế báo chí số và cuối cùng chưa có hình mẫu toà soạn số cụ thể làm ví dụ cho các cơ quan báo chí còn lại. Từ đó, tác giả đề xuất ba giải pháp nhằm thúc đẩy xây dựng toà soạn số báo chí tại Việt Nam là: các cơ quan báo chí cần chủ động nâng cao hiểu biết về công nghệ, xây dựng quỹ hỗ trợ và tăng cường hợp tác giữa cơ quan báo chí với các công ty công nghệ trong nước.
Chiến lược truyền thông về du lịch Halal trên thế giới và gợi mở cho truyền thông Việt Nam
Chiến lược truyền thông về du lịch Halal trên thế giới và gợi mở cho truyền thông Việt Nam
Bài viết tổng thuật các chiến lược truyền thông du lịch Halal tại ba điểm đến tiêu biểu trên thế giới là Malaysia, Indonesia và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm và gợi mở cho truyền thông Việt Nam. Nghiên cứu cho thấy 5 nguyên tắc cốt lõi của truyền thông du lịch Halal hiệu quả, bao gồm: xây dựng hệ thống chứng nhận Halal đáng tin cậy, lồng ghép du lịch Halal vào thương hiệu quốc gia, truyền thông đa ngôn ngữ, đa văn hóa, tiếp thị theo mùa lễ Hồi giáo và ưu tiên kênh kỹ thuật số cùng nội dung do người dùng tạo. Giá trị thực tiễn của nghiên cứu thể hiện ở việc các khuyến nghị có thể hỗ trợ cơ quan quản lý và doanh nghiệp du lịch Việt Nam xây dựng chiến lược marketing hiệu quả, qua đó phát triển phân khúc du lịch Halal đầy tiềm năng.
Tạp chí điện tử Văn hoá và Phát triển với vai trò bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Mường
Tạp chí điện tử Văn hoá và Phát triển với vai trò bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Mường
Văn hóa dân tộc Mường (ở tỉnh Hòa Bình, nay là Phú Thọ) là di sản văn hóa quý báu của dân tộc, không chỉ lưu giữ nhiều lớp trầm tích văn hóa, mà còn là nguồn lực cho phát triển bền vững ở địa phương… Việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Mường, do vậy, có sự cộng đồng trách nhiệm của chính quyền địa phương, các cơ quan quản lý văn hóa, người dân, báo chí truyền thông, trong đó gồm cả Tạp chí điện tử Văn hóa và Phát triển (vanhoavaphattrien.vn). Thời gian qua, Tạp chí đã xây dựng chuyên mục về Di sản - Du lịch, đăng nhiều tác phẩm về văn hóa Mường, góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di sản. Tuy nhiên, vẫn còn đó một số hạn chế. Nghiên cứu này sẽ nhận diện thực trạng vai trò của Tạp chí thông qua phương pháp phân tích nội dung thông điệp, từ đó, thảo luận về một số vấn đề liên quan, góp phần giúp Tạp chí nâng cao hơn nữa vai trò truyền thông di sản.
Ứng dụng storytelling trong truyền thông y tế về tình trạng dị tật khe hở môi - vòm miệng
Ứng dụng storytelling trong truyền thông y tế về tình trạng dị tật khe hở môi - vòm miệng
Nghiên cứu này khảo sát tiềm năng của Phương pháp kể chuyện (Storytelling) như một công cụ hiệu quả trong truyền thông y tế về tình trạng dị tật khe hở môi - vòm miệng (KHM - VM), dựa trên nền tảng “khung lý thuyết kể chuyện như Hero's Journey” (Campbell, 1949) và “StoryBrand Framework” (Miller, 2017) để xây dựng thông điệp và định hình sản phẩm truyền thông thử nghiệm. Trẻ em mắc KHM - VM được xem là trung tâm của câu chuyện và hệ thống y tế là người dẫn dắt đáng tin cậy. Thông qua phỏng vấn nhóm với chuyên gia, phụ huynh và công chúng, nghiên cứu đánh giá chất lượng thông tin/câu chuyện (cấu trúc câu chuyện, tính chân thực, tính liền mạch) và hiệu quả tác động của câu chuyện (niềm tin, thiện cảm và ý định hành vi), qua đó khẳng định phương pháp kể chuyện được đánh giá cao về khả năng truyền tải thông điệp nhân văn, củng cố niềm tin vào hành trình điều trị và gia tăng thiện cảm của công chúng.
Chiến dịch truyền thông về phòng chống bạo lực trẻ em tại Việt Nam: hiệu quả, thách thức và bài học kinh nghiệm
Chiến dịch truyền thông về phòng chống bạo lực trẻ em tại Việt Nam: hiệu quả, thách thức và bài học kinh nghiệm
Bạo lực trẻ em là một trong những vấn đề xã hội nghiêm trọng toàn cầu, trong đó có Việt Nam. Truyền thông giữ vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa và nâng cao nhận thức cộng đồng. Nghiên cứu này phân tích hai chiến dịch tiêu biểu: “Cái ôm ấm áp” của ChildFund (trong các năm 2022, 2023) và “Trái tim xanh” của UNICEF (trong các năm 2020, 2022), nhằm đánh giá hiệu quả truyền thông, xác định giá trị thông điệp, cách thức triển khai, đồng thời rút ra bài học và khuyến nghị cho các chiến dịch tương lai. Nghiên cứu kết hợp giữa phương pháp phân tích nội dung, thống kê dữ liệu và khảo sát xã hội học với 221 mẫu tại Hà Nội. Kết quả cho thấy, cả hai chiến dịch đều tạo được hiệu quả tích cực trong truyền tải thông điệp, song vẫn tồn tại hạn chế về phạm vi tiếp cận và tính bền vững trong thay đổi hành vi. Nghiên cứu đề xuất cần đa dạng hóa kênh truyền thông, thiết kế thông điệp rõ ràng và tăng cường hợp tác liên ngành để đạt hiệu quả lâu dài.
llcttt1994dientu@gmail.com
024.38348033
Bình luận