Xây dựng giai cấp công nhân hiện đại của Việt Nam
Một trong những điểm mới và quan trọng trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng là lần đầu tiên trong Văn kiện của Đảng ta nêu quan điểm, chủ trương lớn: “xây dựng giai cấp công nhân hiện đại”(1). Điểm mới này là rất xác đáng, khả thi và nhất quán với mục tiêu đến năm 2030, nước ta “có công nghiệp hiện đại”(2), trong đó công nghiệp hiện đại không chỉ là cơ sở vật chất hiện đại, mà quan trọng hơn là “phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao”(3). GCCN hiện đại của Việt Nam chẳng những là chủ thể trực tiếp nhất trong sản xuất công nghiệp hiện đại, mà còn là giai cấp lãnh đạo xã hội thông qua Đảng ta.
1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về giai cấp công nhân hiện đại
C.Mác và Ph.Ăngghen đã đề cập các khái niệm “cách mạng công nghiệp”, “công nghiệp hiện đại”, “giai cấp công nhân hiện đại” ngay trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. Sau này, V.I.Lênin nhấn mạnh: “Điểm chủ yếu trong học thuyết của Mác là ở chỗ nó làm sáng rõ vai trò lịch sử thế giới của giai cấp vô sản là người xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa”(4).
Trước hết, C.Mác và Ph.Ăngghen nói đến “cách mạng công nghiệp”(5) - một thực tiễn rất mới trong lịch sử nhân loại kể từ khi có máy hơi nước do Giêm Oát phát minh năm 1765 tại Xcốtlen. Cùng với một số nhà khoa học, C.Mác và Ph.Ăngghen đã gọi cái “mốc lịch sử” đó là cuộc “cách mạng công nghiệp lần thứ nhất” và sau đó nhận định rất đúng về việc hình thành một giai cấp mới: GCCN “do cuộc cách mạng công nghiệp sản sinh ra”(6) và giai cấp vô sản “là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”(7).
C.Mác và Ph.Ăngghen cũng đã nghiên cứu về “các thời đại” kế tiếp nhau trong lịch sử nhân loại (ngoài lý luận về các hình thái kinh tế - xã hội), trong đó có “thời đại mông muội”, “thời đại dã man”, “thời đại văn minh nông nghiệp”, “thời đại văn minh công nghiệp”. Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, khi vận dụng cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, nhân loại đã bước vào thời kỳ sản xuất hiện đại, với các công cụ sản xuất mới là bằng máy móc của “công nghiệp hiện đại”(8). Từ đó, C.Mác và Ph.Ăngghen đưa ra khái niệm phản ánh một tập đoàn người lao động đông đảo - chủ thể trực tiếp nhất vận hành sản xuất công nghiệp - là “giai cấp công nhân hiện đại”(9).
2. Giá trị thực tiễn và khoa học bền vững của học thuyết Mác - Lênin về “cách mạng công nghiệp”, “nền sản xuất công nghiệp” và “giai cấp công nhân hiện đại” trong thời đại hiện nay
Trước hết, cần phản bác một số quan điểm sai lệch, xuyên tạc, chống chủ nghĩa Mác - Lênin cùng những người “đồng lõa” (trên thế giới và cả ở Việt Nam) về các vấn đề trên.
Ngay từ giữa thế kỷ XX, một số học giả đã đưa ra lý thuyết mới về “ba nền văn minh”, với “cú sốc tương lai” và “làn sóng thứ ba”... Nổi bật là các quan điểm của “Tương lai học phương Tây”- mà đại diện là Pier Druker và Alvin Tofler (người Mỹ). Họ kết luận một cách chủ quan rằng: trong “văn minh tin học”, “văn minh trí tuệ”, “kinh tế tri thức” (nay họ thêm “thời đại số hóa”)..., các quan điểm Mác - Lênin về công nghiệp, nền sản xuất công nghiệp, GCCN hiện đại là sản phẩm của nền sản xuất công nghiệp gắn với sứ mệnh lịch sử của GCCN thông qua đảng cộng sản lãnh đạo xã hội đã lỗi thời. Các quan điểm “Tương lai học phương Tây” đó đã làm cho không ít cán bộ, đảng viên cộng sản, trí thức… ở nhiều nước (trong đó có Việt Nam) mơ hồ, dao động, mất dần niềm tin, suy thoái, “tự diễn biến” về lập trường tư tưởng chính trị, nhất là về GCCN trong quá trình xây dựng CNXH.
“Tương lai học phương Tây” khẳng định rằng: khi đã có “văn minh tin học”, “văn minh trí tuệ”... thì sẽ diễn ra “CÁI CHẾT CỦA NỀN CÔNG NGHIỆP”(10) (tên một mục trong bộ sách của A.Tofler). Đến nay, “cái chết của nền công nghiệp” đã xảy ra chưa? Về mặt lý luận, chính A.Tofler đã vừa không nhất quán, vừa không có căn cứ khoa học, ngay sau khi bác bỏ “công nghiệp”, ông ta vẫn nói đến các “khu công nghiệp”, “siêu công nghiệp” trong “làn sóng thứ ba”(!) Về mặt thực tiễn, hiện nay trên toàn thế giới, nền công nghiệp vẫn đang hoạt động, phát triển ở hầu hết các nước. Nhiều nước đã và đang có quá trình công nghiệp hóa, có các khu công nghiệp. Trên thế giới, nhất là ở các nước phương Tây đã và đang có rất nhiều ngành công nghiệp như: công nghiệp điện, công nghiệp khai khoáng, công nghiệp luyện kim, công nghiệp chế tạo cơ khí, công nghiệp xây dựng, công nghiệp hóa chất, công nghiệp quốc phòng”...
Gần đây lại thêm những ngành rất mới như: công nghiệp phần mềm, công nghiệp phần cứng, công nghiệp dịch vụ, công nghiệp môi trường, công nghiệp sinh học, công nghiệp vũ trụ... Thậm chí, các lĩnh vực như giáo dục, văn hóa, y tế, du lịch... cũng đều có công nghiệp mới. Đặc biệt, mới đây, nhà kinh tế lừng danh - Chủ tịch sáng lập Diễn đàn Kinh tế thế giới là giáo sư Klaus Schwab, đã công bố tác phẩm mới nhất: Cách mạng công nghiệp lần thứ tư(11), trong đó ông chẳng những thừa nhận, mà còn thống kê lại sự thật lịch sử nhân loại cho đến nay đã trải qua 4 cuộc cách mạng công nghiệp. Chắc chắn là “nền sản xuất công nghiệp” vẫn đang là sự thật và có giá trị phổ biến toàn cầu và nó đã bao hàm cả những cái mới cụ thể như “văn minh tin học”, “văn minh trí tuệ”, “kinh tế tri thức”, “thời đại số hóa”.
Như vậy, trong thời đại hiện nay, những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng công nghiệp, công nghiệp hiện đại và GCCN hiện đại... gắn với sứ mệnh lịch sử của GCCN vẫn có giá trị bền vững, phổ biến toàn cầu. Qua phân tích trên đây, chúng ta càng củng cố niềm tin rằng: Đại hội XIII của Đảng đưa ra quan điểm, chủ trương “xây dựng giai cấp công nhân hiện đại” của Việt Nam là có đủ căn cứ thực tiễn và khoa học để thực thi và chắc chắn sẽ trở thành hiện thực, theo các tầm nhìn đến năm 2030 và năm 2045(12).
3. Giải pháp cơ bản để xây dựng giai cấp công nhân hiện đại của Việt Nam
Trước hết, các tư liệu thực tế cho thấy, có đủ căn cứ vững chắc để đề xuất những giải pháp cơ bản xây dựng GCCN hiện đại của Việt Nam theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng ta. Mới đây, trong lễ kỷ niệm 135 năm Ngày Quốc tế lao động, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã công bố số liệu khái quát: tuy GCCN Việt Nam hiện nay chỉ chiếm khoảng 14% dân số, 27% lực lượng lao động, song hằng năm GCCN đã tạo ra trên 65% giá trị tổng sản phẩm xã hội và hơn 70% giá trị thu ngân sách nhà nước…
Với bản lĩnh cách mạng và tính chính trị - xã hội tích cực, GCCN nước ta thật sự là nòng cốt của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH, xứng đáng là giai cấp lãnh đạo xã hội thông qua Đảng ta... Tổng cục Thống kê nước ta công bố: lực lượng lao động nước ta năm 2020 ước tính là 48,3 triệu người (nếu cộng cả số giảm đi trong năm 2019 thì “tính tròn” khoảng 50 triệu người). Trong 50 triệu người đó, có 64,8% ở khu vực thành thị, bao gồm nhiều loại công nhân, trong đó số được đào tạo chuyên môn kỹ thuật chiếm 23,1%. Với đà phát triển mới, khoảng 10 đến 20 năm nữa, việc GCCN Việt Nam trở thành GCCN hiện đại là khả thi. Tuy nhiên, cần có một số giải pháp cơ bản, khả thi và quyết liệt thì mục tiêu này mới thành hiện thực.
Một là, thống nhất và nâng cao nhận thức về xây dựng GCCN hiện đại.
Cần triển khai tuyên truyền, giáo dục thông qua hệ thống tuyên giáo, hệ thống các trường chính trị, qua các phương tiện thông tin đại chúng của cả nước về quan điểm, chủ trương của Đại hội XIII của Đảng về xây dựng GCCN Việt Nam hiện đại - tầm nhìn đến năm 2030 và 2045, gắn liền với mục tiêu nước ta trở thành nước công nghiệp hiện đại, theo đúng định hướng XHCN. Việc tuyên truyền, giáo dục này phải được tiến hành thường xuyên từ trong các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, công đoàn, đoàn thanh niên các cấp, các loại doanh nghiệp, nòng cốt là doanh nghiệp nhà nước. Đối với cán bộ, đảng viên, khẩn trương mở các đợt tập huấn về những cái mới của GCCN hiện đại Việt Nam từ cán bộ cấp chiến lược đến các cấp dưới, để đội ngũ này làm nòng cốt, hướng dẫn việc tuyên truyền, giáo dục cho toàn xã hội…
Hai là, cụ thể hóa mục tiêu xây dựng GCCN hiện đại.
Sớm cụ thể hóa Văn kiện Đại hội XIII của Đảng bằng việc xây dựng một nghị quyết mới về xây dựng giai cấp công nhân hiện đại của Việt Nam. Sau đó, xây dựng Chiến lược phát triển GCCN Việt Nam đến năm 2030, 2045; cụ thể hóa tiếp thành Chương trình hành động, kế hoạch… Tập trung đào tạo công nhân chất lượng cao về trình độ học vấn, khoa học - công nghệ, tay nghề, chính trị, đạo đức…, trước hết ở các ngành mũi nhọn, nòng cốt, tiêu biểu. Xây dựng các cơ chế cụ thể hơn để giám sát được việc thực thi quyền dân chủ của công nhân trong các đơn vị, tạo việc làm đúng tay nghề, sử dụng, đãi ngộ công nhân, nâng cao chất lượng lao động, chất lượng sống về vật chất, tinh thần của công nhân. Có kế hoạch bồi dưỡng, kết nạp công nhân ưu tú vào Đảng và bố trí cán bộ xuất thân từ công nhân tham gia cấp ủy các cấp. Đảng lãnh đạo Nhà nước đưa các nội dung đó vào một số luật, chính sách mới của Nhà nước để các doanh nghiệp, công đoàn thực hiện./.
________________________________________________________
(1), (2), (3), (12) ĐCSVN (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII,, Nxb. CTQG Sự thật, H., T.1, tr.166,112,115,166.
(4) V.I.Lênin (2005), Toàn tập, Nxb. CTQG Sự thật, H., T.23, tr.1.
(5), (6), (7), (8), (9) C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H., T.4, tr.457,457,610,605,605.
(10) Alvin Tofler (1992), Cú sốc tương lai, Nxb. Thông tin lý luận, H., tr.171.
(11) Klans Schwab (2018), Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H., tr.20.
Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị điện tử ngày 22.12.2021
Bài liên quan
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc trong Báo cáo Chính trị Đại hội XIV của Đảng
- Thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay
- Thành ủy Hải Phòng lãnh đạo phát triển kinh tế biển hiện nay: Thực trạng và giải pháp
- Một số rào cản khi xây dựng văn hóa công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tại Việt Nam*
- Phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay: Thực trạng và giải pháp
Xem nhiều
-
1
Tạp chí điện tử Văn hoá và Phát triển với vai trò bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Mường
-
2
Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV: củng cố nền tảng, khơi thông động lực, thúc đẩy phát triển bền vững
-
3
Kiên định tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh giữ gìn “hồn dân tộc”, đón nhận “trí tuệ nhân loại” trong kỷ nguyên số
-
4
Cơ sở lý luận và thực tiễn về Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc trong Báo cáo Chính trị Đại hội XIV của Đảng
-
5
Chiến lược truyền thông về du lịch Halal trên thế giới và gợi mở cho truyền thông Việt Nam
-
6
Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông nguy cơ tại Việt Nam hiện nay
Liên kết
- Báo điện tử đảng cộng sản việt nam
- Báo nhân dân
- Báo Quân đội nhân dân
- Cổng thông tin điện tử Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia hồ chí minh
- Tạp chí Cộng sản
- Tạp chí Giáo dục lý luận
- Tạp chí Giáo dục và Xã hội
- Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
- Tạp chí Lý luận chính trị
- Tạp chí Nghiên cứu con người
- TẠP CHÍ Nghiên cứu dân tộc
- Tạp chí Người làm báo
- Tạp chí Nội chính
- Tạp chí Quản lý Nhà nước
- Tạp chí Tổ chức Nhà nước
- Tạp chí Tuyên giáo
- Tạp chí Xây Dựng Đảng
- Thư viện số Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Trang thông tin điện tử Hội đồng Lý luận Trung ương
Hợp tác Việt Nam - Lào trong bảo đảm an toàn giao thông đường bộ: nhìn từ so sánh pháp luật
Bảo đảm an toàn giao thông đường bộ là vấn đề gắn trực tiếp với quyền được an toàn của con người, năng lực quản trị nhà nước và chất lượng phát triển bền vững. Đối với Việt Nam và Lào, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết khi kết nối vận tải xuyên biên giới và hội nhập ASEAN ngày càng mở rộng. Bài viết phân tích cơ sở của hợp tác Việt Nam - Lào về an toàn giao thông đường bộ trên nền tảng so sánh pháp luật và chính sách của hai nước. Trên cơ sở phương pháp nghiên cứu định tính, phân tích tài liệu và so sánh pháp luật, bài viết chỉ ra rằng Việt Nam hiện có mức độ hệ thống hóa pháp luật cao hơn, đặc biệt sau khi Luật Đường bộ năm 2024, Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024 và Nghị định số 168/2024/NĐ-CP có hiệu lực; trong khi đó, Lào vẫn chủ yếu vận hành trên nền Luật giao thông đường bộ và Luật vận tải đường bộ sửa đổi năm 2012, kết hợp với Chiến lược quốc gia về an toàn giao thông đường bộ giai đoạn 2021-2030 và Kế hoạch hành động 2021-2025. Từ kết quả so sánh, bài viết đề xuất định hướng liên kết chính sách giữa hai nước theo hướng hài hòa chuẩn mực pháp lý, kết nối dữ liệu quản lý và củng cố cơ chế phối hợp trong khuôn khổ song phương và ASEAN.
Cơ sở lý luận và thực tiễn về Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc trong Báo cáo Chính trị Đại hội XIV của Đảng
Cơ sở lý luận và thực tiễn về Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc trong Báo cáo Chính trị Đại hội XIV của Đảng
Bài báo phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xác lập “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam” trong Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng, bài báo làm rõ tính tất yếu khách quan, nội hàm và các đặc trưng cơ bản của kỷ nguyên vươn mình trong bối cảnh mới. Từ việc tổng kết gần 40 năm đổi mới, phân tích những thành tựu, thời cơ và thách thức đan xen hiện nay, bài viết khẳng định việc xác lập kỷ nguyên vươn mình không chỉ phản ánh bước phát triển mới trong tư duy chiến lược của Đảng, mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng công tác lãnh đạo, quản lý và truyền thông chính trị, góp phần thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững ở Việt Nam.
Thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay
Thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay
Thực hành dân chủ cơ sở giữ vai trò quan trọng trong xây dựng nông thôn mới, góp phần phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, huy động nguồn lực xã hội và nâng cao hiệu quả quản lý ở cơ sở. Bài viết làm rõ một số vấn đề lý luận về thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới, phân tích thực trạng triển khai với những kết quả đạt được và những hạn chế còn tồn tại. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất giải pháp phát huy dân chủ cơ sở, đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay.
Thành ủy Hải Phòng lãnh đạo phát triển kinh tế biển hiện nay: Thực trạng và giải pháp
Thành ủy Hải Phòng lãnh đạo phát triển kinh tế biển hiện nay: Thực trạng và giải pháp
Phát triển kinh tế biển có vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quốc gia, tạo việc làm, nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm an ninh quốc phòng, bảo vệ chủ quyền biển đảo và khai thác bền vững. Bài viết làm rõ thực trạng Thành ủy Hải Phòng lãnh đạo phát triển kinh tế biển qua những kết quả đạt được cũng như hạn chế còn tồn tại; từ đó, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này thời gian tới.
Một số rào cản khi xây dựng văn hóa công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tại Việt Nam*
Một số rào cản khi xây dựng văn hóa công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tại Việt Nam*
Sau gần 40 năm thực hiện đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu lớn về kinh tế - xã hội, trong đó văn hóa công vụ (VHCV) đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Tại cấp cơ sở, VHCV không chỉ phản ánh tinh thần phục vụ nhân dân mà còn quyết định mức độ tin cậy của xã hội đối với chính quyền địa phương. Tuy nhiên, thực tế, việc xây dựng và duy trì VHCV trong đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC) cấp cơ sở vẫn đang đối mặt với nhiều rào cản, xuất phát từ yếu tố con người, môi trường tổ chức, cũng như hệ thống quản lý và giám sát công vụ. Bài viết này trả lời câu hỏi: “Hoạt động xây dựng VHCV của đội ngũ CBCC cấp cơ sở tại việt Nam đang gặp những rào cản gì?”. Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp chính sách thúc đẩy đổi mới VHCV phù hợp với bối cảnh tái cấu trúc bộ máy Nhà nước.
llcttt1994dientu@gmail.com
024.38348033
Bình luận