Chuyển đổi số báo chí: Sắc son giữ vững nền tảng, chuyển mình cùng thời đại
Bài 2: Không có công thức chung cho một “tòa soạn số”
Bài 2: Không có công thức chung cho một “tòa soạn số”
Bài cuối: Đoàn kết, bản lĩnh tạo không gian thực hành chuyển đổi số báo chí
Lựa chọn mô hình, cách đi phù hợp
Chuyển đổi số được hiểu là việc ứng dụng công nghệ số để thay đổi mô hình quản lý nội dung, tác nghiệp, sản xuất, xuất bản, phân phối nội dung, kinh doanh, từ đó tối ưu hoá quản trị tòa soạn; tạo ra những sản phẩm chất lượng, những trải nghiệm mới hấp dẫn, tiện ích và sự tiếp cận, tiếp nhận hiệu quả của công chúng, tăng các giá trị mới cho cơ quan báo chí và nền báo chí quốc gia. Một mô hình tòa soạn số, với báo chí đa nền tảng, đa phương tiện, báo chí dữ liệu và báo chí tự động cần các điều kiện kỹ thuật công nghệ, nguồn nhân lực và sự đổi mới phương thức tổ chức, quản trị tòa soạn.
Phát biểu đề dẫn tại hội thảo “Ứng dụng công nghệ trong quản trị toà soạn số”, đồng chí Lê Quốc Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam khẳng định: “Hội tụ nội dung và hội tụ công nghệ được xem như là một chìa khóa để mở ra con đường mới cho các nhà báo, các tòa soạn hiện đại. Để thực hiện được việc này, cần có một sự “tích hợp” và “hội tụ” cả về nội dung lẫn hình thức xuất bản của một tờ báo, theo đó mô hình “tòa soạn số” trở thành xu thế tất yếu của các cơ quan báo chí thế giới nói chung, cơ quan báo chí Việt Nam nói riêng”.
Cũng theo người đứng đầu Hội Nhà báo Việt Nam, không có giải pháp chuyển đổi số chung nào cho tất cả các cơ quan báo chí. Mà điều các tòa soạn cần làm tiến hành thay đổi toàn diện trong cả tòa soạn về cách thức hoạt động cũng như văn hóa riêng của cơ quan báo chí,... Hãy bắt đầu bằng những bước đi nhỏ nhưng bền vững, lấy độc giả làm trung tâm để chuyển đổi hoạt động của toàn bộ tòa soạn. Lưu ý rằng chuyển đổi số không phải là quá trình chỉ diễn ra một lần, mà theo những chu kỳ liên tục.
Mục tiêu chuyển đổi số tại các cơ quan báo chí truyền thông không thể thực thi một cách máy móc, mà cần phù hợp với từng trường hợp, điều kiện hoạt động riêng biệt. Không có một mẫu số chung cho các cơ quan báo chí truyền thông nhưng chuyển đổi số tại cơ quan báo chí truyền thông là sự chuyển đổi từ mô hình tổ chức tòa soạn, tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thống, đồng thời thay đổi về tư duy, tầm nhìn của lãnh đạo cho tới tư duy của phóng viên trên cơ sở ứng dụng kỹ thuật và công nghệ...
Mô hình “cơ quan báo chí - công nghệ” (media-tech) - một giải pháp chiến lược, một lựa chọn thích hợp với điều kiện của một số cơ quan báo chí đa phương tiện chủ lực; mô hình Hội đồng điều hành nội dung số tại Đài Truyền hình Việt Nam như một giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số báo chí, đồng thời cũng là một dạng cơ chế quá độ để hình thành các tòa soạn số cho toàn đơn vị;… và nhiều mô hình khác nữa đang tồn tại, mỗi mô hình tòa soạn là một hình mẫu riêng, là một câu chuyện chuyển đổi số.
Việc ứng dụng công nghệ số để thay đổi mô hình tòa soạn từ quản trị nhân lực, sản xuất thông tin, tối ưu hóa dữ liệu, đến quy trình xuất bản và phân phối nội dung. Đó là hướng đi mà hầu hết các cơ quan báo chí đã và đang xây dựng nhằm tạo nên một tòa soạn đa phương tiện hội tụ những giá trị của công nghệ, kỹ năng và thích ứng để mang lại những giá trị đột phá cho công chúng.
Thiết nghĩ, một số cơ quan truyền thông đa phương tiện chủ lực hiện nay như Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Báo Nhân Dân, Báo Quân đội nhân dân, Báo Công an nhân dân cần tiên phong dẫn đầu trong việc chuyển đổi số, để từ đó tạo động lực, tiền đề cho các cơ quan báo chí ở trung ương và địa phương khác học hỏi, triển khai mô hình tòa soạn số hiệu quả, phù hợp với điều kiện, nội lực tổ chức. Yêu cầu đặt ra là, các tòa soạn phải thích ứng, lựa chọn mô hình cách đi phù hợp, hiệu quả.
Truyền cảm hứng cho sự đổi mới
Hiện nay các tòa soạn đang trên con đường tiến dần đến tòa soạn số theo nhiều cách khác nhau tùy từng cơ quan báo chí. Vấn đề chung đặt ra là quản trị sự chuyển đổi từ tòa soạn hiện nay sang tòa soạn số như thế nào để đạt được mục tiêu phát triển của các cơ quan báo chí. Đó là thách thức chung của lãnh đạo các cơ quan báo chí.
Việc tập trung nghiên cứu và thống nhất hệ thống các nguyên tắc chung trong quản trị nguồn lực của tòa soạn số nhằm tạo ra sự đồng bộ trong nhận thức về báo chí số, tòa soạn số... từ đó dần rút ngắn khoảng cách giữa các cơ quan báo chí Trung ương và các cơ quan báo chí địa phương trong quá trình chuyển đổi số báo chí là cần thiết.
Báo Tuổi Trẻ là một trong những cơ quan báo chí đi đầu trong chuyển đổi số hiện nay tại Việt Nam, theo Phó Tổng Biên tập Báo Tuổi trẻ Lê Xuân Trung, việc quản trị tòa soạn số cần xác định rõ sự kết hợp hài hòa giữa con người với công nghệ và quy trình, trong đó yếu tố con người là quan trọng nhất, mang tính quyết định của tiến trình chuyển đổi số. Do đó, các thành viên trong tòa soạn cần được truyền cảm hứng, chứ không phải bị bắt buộc hay để tự giác mạnh ai nấy làm, tới đâu hay tới đó. Nếu lãnh đạo truyền được cảm hứng cho cả đội ngũ thì sự chuyển đổi sẽ thuận buồm xuôi gió và kết quả sẽ đáp ứng được sự kỳ vọng của công chúng.
Đồng quan điểm về việc coi yếu tố con người quan trọng nhất trong chuyển đổi số, trong đó, nhận thức của lãnh đạo góp phần lớn vào thành công, theo Phó Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) Phạm Mạnh Hùng, người đứng đầu sẽ truyền cảm hứng, thúc đẩy đội ngũ phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên. “Thủ trưởng nào, phong trào đấy”. Tư duy lãnh đạo là công nghệ số, nhân viên sẽ phải tìm cách giỏi công nghệ, tư duy số, vì nằm trong dòng chảy chuyên môn của tòa soạn.
Trong hai năm qua, chúng ta chứng kiến sự tăng trưởng vượt bậc của báo điện tử và kênh truyền hình, các trang mạng xã hội của Báo Thanh niên khi thực hiện chuyển đổi số. Ðặc biệt, kênh YouTube của Báo Thanh Niên đã đạt mốc 5 triệu lượt người đăng ký theo dõi. Được xem là một trong những mô hình chuyển đổi số hiệu quả, truyền cảm hứng, Tổng Biên tập Báo Thanh Niên Nguyễn Ngọc Toàn chia sẻ: Chuyển đổi số, theo đúc kết từ các chuyên gia báo chí và truyền thông, luôn kéo theo việc thay đổi toàn diện mô hình kinh doanh, bao gồm cả tái định vị thị trường, xây dựng lại quy trình sản xuất và phân phối nội dung, đổi mới chiến lược marketing… Đây là những vấn đề mang tính nguyên lý căn bản, có quyết tâm là thực hiện được. Kinh nghiệm chuyển đổi số ở Báo Thanh Niên là đi từng bước nhỏ và bắt đầu từ con người, căn cứ trên điều kiện cụ thể của đơn vị…
Bên cạnh đó, nhà báo Nguyễn Ngọc Toàn cho rằng, các cơ quan báo chí không thể mãi đơn thương độc mã chuyển đổi số như đã làm hơn 10 năm qua mà đã đến lúc cần phải có sự bắt tay, hợp tác, liên kết kinh doanh giữa cơ quan báo chí với các doanh nghiệp công nghệ thông tin thì mới có điều kiện đủ để quá trình này đạt kết quả như mong muốn. Cũng chính vì vậy, Báo Thanh Niên vẫn luôn tìm kiếm, hợp tác với những đối tác công nghệ phù hợp để thúc đẩy quá trình chuyển đổi số nhanh, hiệu quả hơn nữa.
Trong đội hình các tòa soạn sớm chuyển đổi số, Báo Quân đội nhân dân điện tử phát triển dựa trên ba nền tảng gồm: Nền tảng quản lý tòa soạn điện tử; nền tảng phân tích thông tin, dư luận mạng xã hội; nền tảng hỗ trợ phòng, chống tấn công và ứng cứu khẩn cấp cho hệ thống thông tin.
Chia sẻ về cách thức và những trăn trở thường trực suốt quá trình triển khai chuyển đổi số nhiều năm qua, Đại tá Nguyễn Hồng Hải, Phó Tổng Biên tập Báo Quân đội nhân dân nhấn mạnh, chuyển đổi số nói một cách chung chung thì rất đơn giản, nhưng đi vào thực tiễn lại là một bài toán hóc búa... Báo Quân đội nhân dân điện tử lựa chọn hai giải pháp cho hai vấn đề riêng biệt làm ưu tiên thực hiện trước tiên, đó là chuyển đổi số trong chiến lược nội dung và trong quản trị nội bộ...
Rõ ràng, trong thời đại hiện nay, dòng chảy thông tin sẽ chảy mãi không bao giờ ngừng lại. Chậm thay đổi có nghĩa là chết. Chậm chuyển đổi số đồng nghĩa với việc tự loại bỏ mình ra khỏi cuộc đua cung cấp thông tin, thu hút độc giả. Do đó, chúng tôi phải hạn chế tối đa những điểm dừng không cần thiết trong quy trình làm việc ở mọi bộ phận. Thời gian tiết kiệm được, dù chỉ một giây, cũng là rất quý giá để tăng hiệu suất công việc từ cá nhân đến tập thể.
Chuyển đổi số không chỉ là tạo ra sản phẩm mới, cách thức tiếp cận mới với độc giả, thậm chí tạo ra cả văn hóa mới trong tòa soạn. Tinh thần tự đào tạo, đổi mới sáng tạo phải là yếu tố sống còn quyết định thành công của chuyển đổi số. Ghi nhận ở Báo Nhân Dân, trong hai năm qua, nhờ triển khai quyết liệt chuyển đổi số, khuyến khích đổi mới sáng tạo, truyền cảm hứng đổi mới sáng tạo, báo đã xây dựng đội ngũ nhân sự đa năng có khả năng tác nghiệp nhiều loại hình báo chí, trên nhiều nền tảng, ghi nhận sự gia tăng vượt trội lượng truy cập trên các nền tảng để đưa tiếng nói của Đảng và Nhà nước đến với bạn đọc rộng mở hơn.
Rõ ràng, công cuộc chuyển đổi số là một chặng đường dài mà các cơ quan báo chí phải đi từng bước. Những bài học kinh nghiệm từ các mô hình chuyển đổi số tại các tòa soạn sẽ là cơ sở để từng tòa soạn soi chiếu với nguồn lực, điều kiện thực tế để lựa chọn cho mình mô hình, cách đi phù hợp và truyền cảm hứng cho sự thay đổi là điều cần làm để trong mỗi tòa soạn, các thành viên cùng đồng lòng, quyết tâm đổi mới. Mỗi thành công của tòa soạn này có thể sẽ mang đến nguồn động lực để tòa soạn kia tăng tốc hành trình chuyển đổi số để cùng về đích. Không có công thức chung cho chuyển đổi số của các cơ quan báo chí… nhưng có chung đích đến là một nền báo chí nhân văn, hiện đại, chuyên nghiệp.
Bài cuối: Đoàn kết, bản lĩnh tạo không gian thực hành chuyển đổi số báo chí
Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Người làm báo điện tử ngày 26/12/2023
Bài liên quan
- Hiện tượng “Di cư niềm tin” truyền thông của sinh viên và đề xuất mô hình “Truyền thông xác thực” cho các trường đại học
- Ảnh hưởng của văn hóa Việt Nam đến tính minh bạch trí tuệ nhân tạo trong quan hệ công chúng
- Truyền thông nội bộ và hình ảnh nữ viên chức Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên số
- Ứng dụng trí tuệ nhân tạo AI trong lĩnh vực phát thanh ở khu vực Tây Nam Bộ: Thực trạng và khuyến nghị
- Ứng dụng truyền thông sáng tạo trong xây dựng thương hiệu địa phương
Xem nhiều
-
1
Đổi mới tư duy của Nhà nước trong kỷ nguyên số: Từ quản lý sang quản trị, kiến tạo phát triển
-
2
Giá trị biểu tượng của con ngựa trong văn hóa Việt Nam và ý nghĩa đối với sự phát triển văn hóa đất nước trong kỷ nguyên vươn mình
-
3
Đổi mới sáng tạo thu hẹp khoảng cách giáo dục vùng sâu, vùng xa Việt Nam trong kỷ nguyên mới
-
4
Thời cơ và thách thức đối với chính quyền cấp xã sau sáp nhập chính quyền địa phương hai cấp tỉnh Tuyên Quang hiện nay
-
5
Công tác sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay: Thực trạng và giải pháp
-
6
Tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Long trong công tác bình đẳng giới hiện nay
Liên kết
- Báo điện tử đảng cộng sản việt nam
- Báo nhân dân
- Báo Quân đội nhân dân
- Cổng thông tin điện tử Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia hồ chí minh
- Tạp chí Cộng sản
- Tạp chí Giáo dục lý luận
- Tạp chí Giáo dục và Xã hội
- Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
- Tạp chí Lý luận chính trị
- Tạp chí Nghiên cứu con người
- TẠP CHÍ Nghiên cứu dân tộc
- Tạp chí Người làm báo
- Tạp chí Nội chính
- Tạp chí Quản lý Nhà nước
- Tạp chí Tổ chức Nhà nước
- Tạp chí Tuyên giáo
- Tạp chí Xây Dựng Đảng
- Thư viện số Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Trang thông tin điện tử Hội đồng Lý luận Trung ương
Ứng dụng storytelling trong truyền thông y tế về tình trạng dị tật khe hở môi - vòm miệng
Nghiên cứu này khảo sát tiềm năng của Phương pháp kể chuyện (Storytelling) như một công cụ hiệu quả trong truyền thông y tế về tình trạng dị tật khe hở môi - vòm miệng (KHM - VM), dựa trên nền tảng “khung lý thuyết kể chuyện như Hero's Journey” (Campbell, 1949) và “StoryBrand Framework” (Miller, 2017) để xây dựng thông điệp và định hình sản phẩm truyền thông thử nghiệm. Trẻ em mắc KHM - VM được xem là trung tâm của câu chuyện và hệ thống y tế là người dẫn dắt đáng tin cậy. Thông qua phỏng vấn nhóm với chuyên gia, phụ huynh và công chúng, nghiên cứu đánh giá chất lượng thông tin/câu chuyện (cấu trúc câu chuyện, tính chân thực, tính liền mạch) và hiệu quả tác động của câu chuyện (niềm tin, thiện cảm và ý định hành vi), qua đó khẳng định phương pháp kể chuyện được đánh giá cao về khả năng truyền tải thông điệp nhân văn, củng cố niềm tin vào hành trình điều trị và gia tăng thiện cảm của công chúng.
Hiện tượng “Di cư niềm tin” truyền thông của sinh viên và đề xuất mô hình “Truyền thông xác thực” cho các trường đại học
Hiện tượng “Di cư niềm tin” truyền thông của sinh viên và đề xuất mô hình “Truyền thông xác thực” cho các trường đại học
Bài viết phân tích hiện tượng “Di cư niềm tin” truyền thông của sinh viên thông qua sử dụng phương pháp khảo sát định lượng sinh viên với cỡ mẫu N = 572 và phỏng vấn sâu nhà quản trị. Kết quả cho thấy một nghịch lý quản trị đáng chú ý: việc ưu tiên tối ưu hóa các chỉ số tương tác bề nổi như lượt thích, lượt xem hay các kỹ thuật seeding không những không gia tăng niềm tin mà còn tạo ra phản ứng ngược. Thực trạng này thúc đẩy hành vi “di cư số” khi người học chuyển sang các kênh phi chính thức để tìm kiếm và kiểm chứng thông tin. Phân tích nhân tố khám phá (EFA) và kiểm định Cronbach’s Alpha khẳng định tính minh bạch và sự chân thực của nội dung là những yếu tố có tác động đến cấu trúc niềm tin thương hiệu. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất đề xuất áp dụng mô hình “truyền thông xác thực” nhằm khắc phục bẩy “chỉ số hư danh” và tái thiết niềm tin thương hiệu bền vững trong giáo dục đại học.
Ảnh hưởng của văn hóa Việt Nam đến tính minh bạch trí tuệ nhân tạo trong quan hệ công chúng
Ảnh hưởng của văn hóa Việt Nam đến tính minh bạch trí tuệ nhân tạo trong quan hệ công chúng
Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI), đặc biệt là AI sinh tạo, đã tối ưu hóa hiệu suất hoạt động quan hệ công chúng (PR) nhưng đặt ra thách thức về tính minh bạch thuật toán. Nghiên cứu này thực hiện tổng quan lý thuyết có hệ thống nhằm phân tích ảnh hưởng của văn hóa Việt Nam đến tính minh bạch AI trong lĩnh vực PR. Kết quả cho thấy minh bạch AI trong PR tập trung vào ba trụ cột: sự tiết lộ, khả năng giải thích và trách nhiệm giải trình. Các giá trị Nho giáo như khoảng cách quyền lực, thể diện (Mianzi) và sự hòa hợp đóng vai trò "bộ lọc" văn hóa, định hình xu hướng tiết lộ có chọn lọc việc sử dụng AI nhằm bảo vệ uy tín chuyên môn. Nghiên cứu đề xuất năm khuyến nghị cho người thực hành PR: thiết lập chính sách quản trị AI nội bộ, áp dụng mô hình minh bạch phân tầng, định vị AI như "trợ lý kỹ thuật số", thiết lập cơ chế kiểm chứng độc lập và xây dựng văn hóa học tập liên tục về đạo đức số.
Truyền thông nội bộ và hình ảnh nữ viên chức Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên số
Truyền thông nội bộ và hình ảnh nữ viên chức Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên số
Trong kỷ nguyên chuyển đổi số, truyền thông nội bộ đóng vai trò chiến lược trong việc kiến tạo và lan tỏa hình ảnh nữ viên chức tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Trên cơ sở tiếp cận truyền thông như một công cụ quản trị và phát triển tổ chức, bài viết chỉ ra sự cần thiết phải chuyển dịch trọng tâm truyền thông nội bộ từ việc chủ yếu tôn vinh các phẩm chất truyền thống sang chủ động xây dựng, khẳng định năng lực trí tuệ, tính chuyên nghiệp và những đóng góp thực chất của nữ viên chức vào sứ mệnh của Học viện. Từ đó, tác giả đề xuất một hệ thống giải pháp đồng bộ, khẳng định truyền thông nội bộ không chỉ góp phần kiến tạo một môi trường làm việc công bằng, bình đẳng, phát huy tối đa tiềm năng của đội ngũ nữ viên chức, mà còn là một đòn bẩy quan trọng thúc đẩy sự phát triển bền vững và nâng cao uy tín của Học viện trong bối cảnh mới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo AI trong lĩnh vực phát thanh ở khu vực Tây Nam Bộ: Thực trạng và khuyến nghị
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo AI trong lĩnh vực phát thanh ở khu vực Tây Nam Bộ: Thực trạng và khuyến nghị
Bài báo phân tích thực trạng ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong sản xuất chương trình phát thanh tại các kênh phát thanh địa phương ở khu vực Tây Nam Bộ, dựa trên kết quả khảo sát cán bộ, viên chức đang làm việc trong lĩnh vực phát thanh và đánh giá từ việc sản xuất chương trình. Kết quả cho thấy, AI đã bước đầu được ứng dụng trong sản xuất chương trình phát thanh, song chủ yếu được dùng ở mức hỗ trợ cá nhân, chưa được tích hợp vào quy trình nghiệp vụ chính thức của các đài. AI hiện được ứng dụng tập trung vào các khâu biên tập nội dung, gợi ý kịch bản và tổng hợp thông tin, trong khi các mảng kỹ thuật chuyên sâu và quản trị dữ liệu vẫn còn hạn chế. Bên cạnh những lợi ích được ghi nhận như nâng cao năng suất và tiết kiệm thời gian, đội ngũ người làm phát thanh cũng thể hiện mối quan ngại đáng kể về đạo đức nghề nghiệp, bản sắc chương trình và an toàn thông tin. Trên cơ sở đó, bài báo đề xuất một số khuyến nghị nhằm thúc đẩy ứng dụng AI trong phát thanh theo hướng hiệu quả, bền vững và phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số.
llcttt1994dientu@gmail.com
024.38348033
Bình luận