Nhu cầu tiếp nhận thông tin báo chí của sinh viên hiện nay
Tìm hiểu nhu cầu thông tin báo chí của công chúng, trong đó có sinh viên là cơ sở quan trọng để báo chí đổi mới nội dung, hình thức, đáp ứng nhu cầu của giới trẻ; góp phần hỗ trợ quá trình giáo dục, định hướng giá trị và phát triển nguồn nhân lực trẻ. Với ý nghĩa đó, tác giả đã triển khai khảo sát nhu cầu tiếp nhận thông tin báo chí của sinh viên hiện nay(1).
Để nghiên cứu đảm bảo mang tính đại diện cho các vùng, miền, năm học, nhóm ngành, điều kiện cư trú, từ tháng 3/2025 đến tháng 6/2025, tác giả đã triển khai khảo sát sinh viên các trường đại học ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam với tổng số 2.064 sinh viên thuộc 10 trường đại học. Trong đó có 4 trường miền Bắc, chiếm 39-40% gồm 3 trường tại Hà Nội: Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Đại học Y Hà Nội, Đại học Ngoại thương và 1 trường tại Hải Phòng: Đại học Hàng hải Việt Nam; 2 trường miền Trung, chiếm khoảng 20%, gồm: Đại học Bách khoa - Đại học Đà Nẵng, Trường Du lịch - Đại học Huế; 4 trường miền Nam (tại thành phố Hồ Chí Minh), chiếm 39-40%, gồm: Đại học quốc tế Hồng Bàng, Đại học Văn Lang, Đại học Văn Hiến, Đại học Thủ Dầu Một. Trong đó, sinh viên năm thứ nhất chiếm 33,9%; năm thứ hai: 25,1%; năm thứ ba: 24,6%; năm cuối: 16,4%; sinh viên nhóm ngành khoa học xã hội và nhân văn chiếm 29,5%; nhóm ngành sư phạm - giáo dục - y dược - luật - an ninh chiếm 21,9%; nhóm khoa học tự nhiên - kỹ thuật - công nghệ - công nghiệp - giao thông - kiến trúc - xây dựng chiếm 19,1%; nhóm kinh tế - tài chính ngân hàng - thương mại - ngoại thương - kinh doanh chiếm 18,5%; nhóm dịch vụ - du lịch - khách sạn - nghệ thuật chiếm 11,0%; về điều kiện cư trú, 42,9% sinh viên sống tại nhà thuê trọ; 42,3% sống cùng gia đình, người thân; 14,8% sống trong ký túc xá.
1. Nhu cầu về nội dung thông tin báo chí của sinh viên hiện nay
Kết quả khảo sát về lĩnh vực nội dung thông tin mà sinh viên quan tâm cho thấy, nhu cầu tiếp nhận thông tin báo chí của sinh viên khá phong phú, bao phủ hầu hết các mảng đề tài của đời sống. Mỗi sinh viên có thể quan tâm đến những loại tin tức khác nhau, song, có một số lĩnh vực nổi bật, thu hút sự chú ý của đa số: tin tức giải trí: 47,1%; tin tức học tập - nghề nghiệp: 16,3%; tin tức thời sự - chính trị: 16,1%; tin tức y tế - sức khỏe: 8,1%; tin tức kinh tế: 6,9%; tin tức khoa học - công nghệ: 5,4% có nhu cầu tin khoa học - công nghệ.
Việc 47,1% sinh viên có nhu cầu tiếp nhận tin tức giải trí (showbiz, văn hóa, nghệ thuật,…) trên báo chí cho thấy: Trước hết, sinh viên là những người trẻ, do đó, nhu cầu giải trí để thư giãn, giải tỏa căng thẳng khá cao. Đây là một trong những nhu cầu quan trọng của sinh viên, phản ánh xu hướng dung hòa giữa học tập và giải trí. Giải trí không chỉ đơn thuần là để thư giãn mà còn mang yếu tố văn hóa, nghệ thuật, lối sống. Điều này phản ánh sinh viên muốn nắm bắt nhanh xu hướng, thị hiếu xã hội và cả những định hướng giá trị qua nội dung giải trí trên báo chí. Hai là, báo chí vẫn là một kênh quan trọng đáp ứng nhu cầu tinh thần và giúp sinh viên cân bằng đời sống tinh thần. Ba là, báo chí cần nâng cao chất lượng, tính hấp dẫn, sáng tạo trong lĩnh vực thông tin giải trí để cạnh tranh với các nền tảng khác, đồng thời vẫn đảm bảo tính định hướng, lành mạnh cho công chúng nói chung và sinh viên nói riêng.
Kết quả khảo sát cho thấy, chỉ 16,3% sinh viên được hỏi có nhu cầu tiếp nhận thông tin về học tập - nghề nghiệp trên báo chí, gồm: những nội dung liên quan đến cơ hội việc làm và xu hướng thị trường lao động (xu hướng tuyển dụng, việc làm bị ảnh hưởng bởi chính sách mới); thông tin về chính sách và cải cách giáo dục (học phí, chương trình mới, đổi mới giảng dạy,…); các thay đổi trong chính sách học bổng và hỗ trợ sinh viên; ứng dụng công nghệ trong giáo dục (học tập online, AI trong giảng dạy,…); các nghiên cứu, phát minh mới trong ngành học; khởi nghiệp và xu hướng việc làm tự do; câu chuyện truyền cảm hứng về sinh viên/thầy, cô giáo xuất sắc;…. Trong đó, có 65,4% sinh viên quan tâm đến thông tin về cơ hội việc làm và xu hướng thị trường lao động; gần 53% sinh viên quan tâm đến các tin tức về chính sách và cải cách giáo dục (quy chế thi cử, chương trình đào tạo,…) và 31,2% sinh viên theo dõi các thay đổi trong chính sách học bổng, hỗ trợ sinh viên.
Con số 16,3% nêu trên khá thấp so với nhu cầu giải trí (47,1%), cho thấy: Thứ nhất, sinh viên tiếp nhận thông tin báo chí để thỏa mãn nhu cầu giải trí và cập nhật tin tức xã hội nhiều hơn đáng kể so với việc tìm thông tin trực tiếp phục vụ việc học tập, định hướng nghề nghiệp. Thứ hai, nhu cầu tiếp nhận thông tin về học tập - nghề nghiệp trên báo chí của sinh viên chưa cao phần nào cũng phản ánh sự mất cân đối trong mối quan tâm của sinh viên đối với thông tin báo chí. Thứ ba, những nội dung phục vụ học tập - nghề nghiệp của sinh viên trên báo chí (phải chăng) còn nhiều hạn chế khiến sinh viên không có nhu cầu cao về tiếp cận nội dung thông tin này trên báo chí, trong khi họ có thể dễ dàng tìm những thông tin đó ở những loại hình sản phẩm thông tin khác. (Liên quan đến vấn đề này, cần có khảo sát chuyên sâu về những nội dung thông tin báo chí và mức độ đáp ứng nhu cầu thông tin của sinh viên mà trong khuôn khổ khảo sát này chưa có điều kiện đề cập đến). Điều này đặt ra yêu cầu báo chí cần tăng cường và nâng cao chất lượng nội dung thông tin về học tập - nghề nghiệp, cần cải tiến hình thức và tính hấp dẫn của thông tin về giáo dục, kỹ năng nghề nghiệp, cơ hội việc làm,… nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của sinh viên về vấn đề này.
Có 16,1% sinh viên có nhu cầu tiếp nhận tin thời sự - chính trị trên báo chí, gồm: thời sự trong nước (bầu cử, chính sách, pháp luật, các vấn đề xã hội,…); chính trị thế giới (xung đột, bầu cử, thay đổi lãnh đạo,…); quan hệ quốc tế, ngoại giao Việt Nam với các nước; tin nóng, tin khẩn cấp; vấn đề về tham nhũng, quản lý công, chính sách pháp luật; các phong trào xã hội, hoạt động về quyền con người; chính sách truyền thông và thay đổi trong quy định báo chí;…. Con số này khá tương đồng với kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thúy Hằng (2022) là 86,9% sinh viên tiếp nhận tin tức thời sự qua mạng xã hội, trong khi chỉ có 5,5% qua báo in và 21,3% qua phát thanh(2). Kết quả khảo sát đặt ra yêu cầu báo chí cần đổi mới cách truyền tải thông tin thời sự - chính trị sao cho phù hợp với giới trẻ, đặc biệt là sinh viên; đồng thời, các cơ quan báo chí cần tận dụng nền tảng số và tích hợp nội dung trên mạng xã hội để tiếp cận sinh viên hiệu quả hơn.
Chỉ có 6,9% sinh viên có nhu cầu tiếp nhận tin tức kinh tế trên báo chí. Trong đó, 43,2% sinh viên quan tâm đến tin tức thị trường, giá cả, chứng khoán, đầu tư tài chính; 40% sinh viên quan tâm đến xu hướng tiêu dùng, thương mại điện tử, công nghệ tài chính; 38% quan tâm đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp lớn. Con số 6,9% này cho thấy, mảng kinh tế chưa thật sự hấp dẫn đối với sinh viên, bởi phần lớn sinh viên đang học tập, chưa trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất - kinh doanh.
So sánh kết quả khảo sát, có thể thấy, tỷ lệ sinh viên quan tâm đến tin kinh tế (6,9%) thấp hơn đáng kể so với tin thời sự - chính trị (16,1%). Điều này phản ánh rằng sinh viên nhìn chung vẫn dành sự chú ý nhiều hơn đến các vấn đề chính trị - xã hội gắn liền với đời sống cộng đồng, trong khi lĩnh vực kinh tế thường được xem là ít liên quan trực tiếp đến nhu cầu hằng ngày của họ. Đây là gợi ý quan trọng để báo chí tìm cách truyền tải nội dung chính trị và kinh tế một cách sinh động, thực tiễn và dễ hiểu, gần gũi và thiết thực hơn để thu hút sự chú ý của giới trẻ, trong đó có sinh viên.
Chỉ có 5,4% sinh viên có nhu cầu thông tin khoa học - công nghệ trên báo chí (trí tuệ nhân tạo và các ứng dụng; ứng dụng robot và tự động hóa trong cuộc sống; tin tức về khám phá vũ trụ, sứ mệnh không gian; bảo mật và an ninh mạng, quyền riêng tư số; công nghệ sinh học, chỉnh sửa gen, đa dạng sinh học; sự phát triển của công nghệ báo chí và kiểm duyệt tin tức; phát minh khoa học, vật liệu mới, nghiên cứu y sinh;…). Đây là tỷ lệ rất thấp, phản ánh rằng sinh viên chưa coi tin khoa học - công nghệ trên báo chí là nhu cầu thường xuyên. Trong mẫu khảo sát, nhóm khoa học tự nhiên - kỹ thuật - công nghệ - công nghiệp - giao thông - kiến trúc - xây dựng chiếm 19,1%. Điều đó cho thấy, ngay cả sinh viên thuộc nhóm ngành liên quan đến khoa học công nghệ cũng ít có nhu cầu thông tin về nội dung này trên báo chí. Điều này đặt ra yêu cầu đối với báo chí là cần đổi mới nội dung và hình thức thông tin về khoa học - công nghệ để thu hút nhóm độc giả là sinh viên.
Nhu cầu tin y tế - sức khỏe (thông tin về dịch bệnh, tình hình y tế cộng đồng; xu hướng sống khỏe, ăn uống, dinh dưỡng hợp lý; các vấn đề về sức khỏe tâm lý và tinh thần; những tiến bộ y khoa, công nghệ y tế mới; câu chuyện bệnh nhân, tấm gương truyền cảm hứng trong y học; thị trường dược phẩm, thuốc mới, vaccine; những thay đổi trong chính sách y tế và bảo hiểm sức khỏe;…) trên báo chí chiếm 8,1%. Tỷ lệ này cao hơn tin khoa học - công nghệ, cho thấy, sinh viên quan tâm hơn tới các vấn đề gắn trực tiếp với đời sống cá nhân: chăm sóc bản thân, dinh dưỡng, bệnh thường gặp, sức khỏe tinh thần,…
Như vậy, có sự khác biệt rõ rệt trong nhu cầu tiếp nhận các nội dung thông tin của sinh viên trên báo chí. Theo lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow, con người có hệ thống nhu cầu được sắp xếp theo thứ bậc từ thấp đến cao: bậc 1: nhu cầu sinh học; bậc 2: nhu cầu về an toàn, an ninh; bậc 3: nhu cầu về xã hội; bậc 4: nhu cầu được đánh giá, tôn trọng; bậc 5: nhu cầu về sự hoàn thiện(3). Theo đó, sinh viên thường ưu tiên các nhu cầu cơ bản và gần gũi như giải trí (giúp giải tỏa căng thẳng, tạo cảm giác thoải mái); học tập - nghề nghiệp (gắn với học tập, định hướng nghề nghiệp); chính trị - xã hội (gắn với môi trường sinh sống), hay y tế - sức khỏe (gắn với nhu cầu sinh lý và an toàn). Những thông tin kinh tế hay khoa học - công nghệ thuộc tầng cao hơn của nhu cầu nhận thức và tự khẳng định, chỉ được một bộ phận sinh viên quan tâm. Dưới góc độ lý thuyết sử dụng và hài lòng (Uses and Gratifications Theory - UGT) của Denis McQuail(4), nhu cầu tiếp nhận thông tin của công chúng gắn liền với mục tiêu thỏa mãn các nhu cầu cụ thể của họ trong đời sống hàng ngày: thông tin, giải trí, bản sắc cá nhân và quan hệ xã hội. Việc sinh viên lựa chọn thông tin giải trí với tỷ lệ cao nhất cho thấy, báo chí đang được sử dụng chủ yếu để thoả mãn nhu cầu giải trí và thư giãn hơn là để tìm hiểu tri thức hàn lâm hay cập nhật vấn đề vĩ mô. Điều này gợi ý cho các cơ quan báo chí và nhà quản lý truyền thông rằng cần xây dựng chiến lược nội dung phù hợp, vừa đáp ứng thị hiếu, vừa tăng cường định hướng xã hội cho thế hệ trẻ.
2. Nhu cầu tiếp cận thông tin của sinh viên qua các loại hình báo chí
Báo mạng điện tử là kênh thông tin được sinh viên sử dụng khá nhiều: 55,9% sinh viên đọc báo điện tử ít nhất vài lần mỗi tuần, trong đó 27,3% truy cập hàng ngày. Ngược lại, các phương tiện truyền thống như báo in, đài phát thanh (radio), truyền hình đang có mức độ sử dụng rất thấp ở nhóm sinh viên. Chỉ 17,1% sinh viên đọc báo in thường xuyên, trong đó chỉ 6,4% đọc hàng ngày; 41,6% sinh viên xem truyền hình thường xuyên, trong đó chỉ 16,7% xem hàng ngày; 29,7% sinh viên nghe đài phát thành thường xuyên, trong đó có 10,7% nghe hàng ngày. Tỷ lệ này phản ánh sự ưu tiên của sinh viên đối với loại hình truyền thông báo chí có tốc độ cập nhật nhanh và dễ dàng truy cập qua các thiết bị số; còn các phương tiện truyền thống như báo in, phát thanh và truyền hình có tỷ lệ thấp rõ rệt.
Kết quả khảo sát cũng cho thấy, có 94,3% sinh viên tiếp cận thông tin qua mạng xã hội thường xuyên, trong đó có 51,1% sinh viên khai thác thông tin hàng ngày qua mạng này. So sánh với tỷ lệ sinh viên tiếp cận thông tin qua các phương tiện truyền thông báo chí nêu trên, có thể thấy, sinh viên ưu tiên những nền tảng số để cập nhật tin tức và mạng xã hội là kênh được sinh viên sử dụng thường xuyên nhất vì tính nhanh chóng, tiện lợi, cập nhật liên tục và dễ dàng truy cập mọi lúc, mọi nơi qua thiết bị di động.
Kết quả khảo sát nêu trên phản ánh: Thứ nhất, sinh viên ưu tiên tiếp nhận thông tin qua báo điện tử và mạng xã hội cho thấy sự chuyển dịch tất yếu của hành vi truyền thông trong kỷ nguyên số, đồng thời khẳng định vai trò trung tâm của các nền tảng số trong đời sống thông tin của thế hệ trẻ. Thứ hai, mức độ suy giảm đáng kể của báo in, phát thanh và truyền hình gợi mở rằng, nếu muốn duy trì ảnh hưởng trong môi trường truyền thông hiện đại, các phương tiện thông tin báo chí truyền thống cần thích ứng và đổi mới, cụ thể là cần tận dụng nền tảng số và tích hợp nội dung lên mạng xã hội, tăng cường tích hợp công nghệ, đẩy mạnh tính tương tác và cá nhân hóa nội dung nhằm tiếp cận sinh viên hiệu quả hơn.
Theo UGT(5), có thể thấy, việc đa số sinh viên ưu tiên báo điện tử và mạng xã hội phản ánh nhu cầu được thỏa mãn về tính tiện lợi, tốc độ cập nhật, khả năng tương tác và cá nhân hóa nội dung - những yếu tố mà báo chí truyền thống khó đáp ứng. Ngược lại, sự suy giảm trong mức độ tiếp nhận báo in, phát thanh và truyền hình cho thấy, các loại hình này chưa đáp ứng tốt những nhu cầu thông tin mới, vốn mang tính linh hoạt và gắn liền với thói quen sử dụng thiết bị số của sinh viên. Như vậy, từ góc độ lý thuyết, đây là sự lựa chọn có chủ đích nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân trong môi trường truyền thông số hóa. Điều này cũng đặt ra thách thức đối với các cơ quan truyền thông trong nước: nếu không kịp thời đổi mới về hình thức thể hiện, ứng dụng công nghệ số, cá nhân hóa nội dung và tăng cường tương tác với độc giả trẻ, các phương tiện truyền thống như báo in, phát thanh và truyền hình sẽ ngày càng mất đi vị thế vốn có.
Tóm lại, kết quả khảo sát nhu cầu tiếp nhận thông tin báo chí của sinh viên hiện nay cho thấy: Về nội dung, sinh viên quan tâm đến các nhóm thông tin thiết thực đối với giới trẻ như văn hóa, thể thao, giải trí; học tập, nghề nghiệp; thời sự - chính trị, y tế - sức khỏe. Các thông tin về kinh tế, khoa học công nghệ ít được sinh viên quan tâm. Về các loại hình báo chí - truyền thông, sinh viên ưu tiên tiếp nhận thông tin qua các nền tảng trực tuyến, đặc biệt là báo điện tử và mạng xã hội, với yêu cầu ngắn gọn, trực quan, dễ truy cập và có tính tương tác. Kết quả khảo sát cũng cho thấy, báo chí cần đồng thời bảo đảm tính chính thống, độ tin cậy của nội dung và đổi mới hình thức thể hiện nhằm phù hợp với thói quen truyền thông số của công chúng trẻ. Đồng thời, cần vừa tận dụng ưu thế của các nền tảng số để truyền tải thông tin nhanh chóng, hấp dẫn, vừa chú trọng định hướng giá trị, nâng cao kỹ năng truyền thông số và năng lực phản biện nhằm giúp sinh viên tiếp cận, chọn lọc và xử lý thông tin một cách đúng đắn, góp phần xây dựng môi trường truyền thông lành mạnh trong kỷ nguyên số./.
_____________________________
(1) Nguyễn Thị Huyền (2025), Bộ số liệu đề tài phục vụ luận án tiến sỹ “Nhu cầu và điều kiện tiếp nhận thông tin báo chí của sinh viên đại học Việt Nam hiện nay”, Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
(2) Nguyễn Thị Thúy Hằng (2022), “Những đặc điểm của xã hội số và cơ hội, thách thức đối với chiến lược chuyển đổi số báo chí Việt Nam từ góc nhìn độc giả”, trong Kỷ yếu hội thảo khoa học “Diễn đàn báo chí tháng Sáu: Chuyển đổi số báo chí Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, do Viện Đào tạo Báo chí và Truyền thông - Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) và Tạp chí Thông tin và Truyền thông (Bộ Thông tin và Truyền thông) xuất bản, tr. 114.
(3) Maslow A. H. (1943), “A Theory of Human Motivation” (“Lý thuyết về động cơ của con người”), Psychological Review (Tạp chí Tâm lý học), 50(4), tr.370-396.
(4); (5) McQuail D. (2010), McQuail’s mass communication theory (6th ed.) (Lý thuyết truyền thông đại chúng của McQuail (ấn bản lần thứ sáu)), tr. 397-418, London, Sage Publications (Nhà xuất bản Sage).
Nguồn: Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông điện tử
Bài liên quan
- Chiến lược truyền thông về du lịch Halal trên thế giới và gợi mở cho truyền thông Việt Nam
- Tạp chí điện tử Văn hoá và Phát triển với vai trò bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Mường
- Ứng dụng storytelling trong truyền thông y tế về tình trạng dị tật khe hở môi - vòm miệng
- Chiến dịch truyền thông về phòng chống bạo lực trẻ em tại Việt Nam: hiệu quả, thách thức và bài học kinh nghiệm
- Thực trạng và một số giải pháp nâng cao chất lượng thông tin về sức khỏe tâm thần trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay
Xem nhiều
-
1
Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV: củng cố nền tảng, khơi thông động lực, thúc đẩy phát triển bền vững
-
2
Tạp chí điện tử Văn hoá và Phát triển với vai trò bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Mường
-
3
Kiên định tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh giữ gìn “hồn dân tộc”, đón nhận “trí tuệ nhân loại” trong kỷ nguyên số
-
4
Cơ sở lý luận và thực tiễn về Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc trong Báo cáo Chính trị Đại hội XIV của Đảng
-
5
Thông tin về phòng, chống tội phạm công nghệ cao trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay
-
6
Bế mạc Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV: Thống nhất cao về những vấn đề lớn, hệ trọng
Liên kết
- Báo điện tử đảng cộng sản việt nam
- Báo nhân dân
- Báo Quân đội nhân dân
- Cổng thông tin điện tử Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia hồ chí minh
- Tạp chí Cộng sản
- Tạp chí Giáo dục lý luận
- Tạp chí Giáo dục và Xã hội
- Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
- Tạp chí Lý luận chính trị
- Tạp chí Nghiên cứu con người
- TẠP CHÍ Nghiên cứu dân tộc
- Tạp chí Người làm báo
- Tạp chí Nội chính
- Tạp chí Quản lý Nhà nước
- Tạp chí Tổ chức Nhà nước
- Tạp chí Tuyên giáo
- Tạp chí Xây Dựng Đảng
- Thư viện số Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Trang thông tin điện tử Hội đồng Lý luận Trung ương
Tạp chí điện tử Văn hoá và Phát triển với vai trò bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Mường
Văn hóa dân tộc Mường (ở tỉnh Hòa Bình, nay là Phú Thọ) là di sản văn hóa quý báu của dân tộc, không chỉ lưu giữ nhiều lớp trầm tích văn hóa, mà còn là nguồn lực cho phát triển bền vững ở địa phương… Việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Mường, do vậy, có sự cộng đồng trách nhiệm của chính quyền địa phương, các cơ quan quản lý văn hóa, người dân, báo chí truyền thông, trong đó gồm cả Tạp chí điện tử Văn hóa và Phát triển (vanhoavaphattrien.vn). Thời gian qua, Tạp chí đã xây dựng chuyên mục về Di sản - Du lịch, đăng nhiều tác phẩm về văn hóa Mường, góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di sản. Tuy nhiên, vẫn còn đó một số hạn chế. Nghiên cứu này sẽ nhận diện thực trạng vai trò của Tạp chí thông qua phương pháp phân tích nội dung thông điệp, từ đó, thảo luận về một số vấn đề liên quan, góp phần giúp Tạp chí nâng cao hơn nữa vai trò truyền thông di sản.
Chiến lược truyền thông về du lịch Halal trên thế giới và gợi mở cho truyền thông Việt Nam
Chiến lược truyền thông về du lịch Halal trên thế giới và gợi mở cho truyền thông Việt Nam
Bài viết tổng thuật các chiến lược truyền thông du lịch Halal tại ba điểm đến tiêu biểu trên thế giới là Malaysia, Indonesia và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm và gợi mở cho truyền thông Việt Nam. Nghiên cứu cho thấy 5 nguyên tắc cốt lõi của truyền thông du lịch Halal hiệu quả, bao gồm: xây dựng hệ thống chứng nhận Halal đáng tin cậy, lồng ghép du lịch Halal vào thương hiệu quốc gia, truyền thông đa ngôn ngữ, đa văn hóa, tiếp thị theo mùa lễ Hồi giáo và ưu tiên kênh kỹ thuật số cùng nội dung do người dùng tạo. Giá trị thực tiễn của nghiên cứu thể hiện ở việc các khuyến nghị có thể hỗ trợ cơ quan quản lý và doanh nghiệp du lịch Việt Nam xây dựng chiến lược marketing hiệu quả, qua đó phát triển phân khúc du lịch Halal đầy tiềm năng.
Tạp chí điện tử Văn hoá và Phát triển với vai trò bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Mường
Tạp chí điện tử Văn hoá và Phát triển với vai trò bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Mường
Văn hóa dân tộc Mường (ở tỉnh Hòa Bình, nay là Phú Thọ) là di sản văn hóa quý báu của dân tộc, không chỉ lưu giữ nhiều lớp trầm tích văn hóa, mà còn là nguồn lực cho phát triển bền vững ở địa phương… Việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Mường, do vậy, có sự cộng đồng trách nhiệm của chính quyền địa phương, các cơ quan quản lý văn hóa, người dân, báo chí truyền thông, trong đó gồm cả Tạp chí điện tử Văn hóa và Phát triển (vanhoavaphattrien.vn). Thời gian qua, Tạp chí đã xây dựng chuyên mục về Di sản - Du lịch, đăng nhiều tác phẩm về văn hóa Mường, góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di sản. Tuy nhiên, vẫn còn đó một số hạn chế. Nghiên cứu này sẽ nhận diện thực trạng vai trò của Tạp chí thông qua phương pháp phân tích nội dung thông điệp, từ đó, thảo luận về một số vấn đề liên quan, góp phần giúp Tạp chí nâng cao hơn nữa vai trò truyền thông di sản.
Ứng dụng storytelling trong truyền thông y tế về tình trạng dị tật khe hở môi - vòm miệng
Ứng dụng storytelling trong truyền thông y tế về tình trạng dị tật khe hở môi - vòm miệng
Nghiên cứu này khảo sát tiềm năng của Phương pháp kể chuyện (Storytelling) như một công cụ hiệu quả trong truyền thông y tế về tình trạng dị tật khe hở môi - vòm miệng (KHM - VM), dựa trên nền tảng “khung lý thuyết kể chuyện như Hero's Journey” (Campbell, 1949) và “StoryBrand Framework” (Miller, 2017) để xây dựng thông điệp và định hình sản phẩm truyền thông thử nghiệm. Trẻ em mắc KHM - VM được xem là trung tâm của câu chuyện và hệ thống y tế là người dẫn dắt đáng tin cậy. Thông qua phỏng vấn nhóm với chuyên gia, phụ huynh và công chúng, nghiên cứu đánh giá chất lượng thông tin/câu chuyện (cấu trúc câu chuyện, tính chân thực, tính liền mạch) và hiệu quả tác động của câu chuyện (niềm tin, thiện cảm và ý định hành vi), qua đó khẳng định phương pháp kể chuyện được đánh giá cao về khả năng truyền tải thông điệp nhân văn, củng cố niềm tin vào hành trình điều trị và gia tăng thiện cảm của công chúng.
Chiến dịch truyền thông về phòng chống bạo lực trẻ em tại Việt Nam: hiệu quả, thách thức và bài học kinh nghiệm
Chiến dịch truyền thông về phòng chống bạo lực trẻ em tại Việt Nam: hiệu quả, thách thức và bài học kinh nghiệm
Bạo lực trẻ em là một trong những vấn đề xã hội nghiêm trọng toàn cầu, trong đó có Việt Nam. Truyền thông giữ vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa và nâng cao nhận thức cộng đồng. Nghiên cứu này phân tích hai chiến dịch tiêu biểu: “Cái ôm ấm áp” của ChildFund (trong các năm 2022, 2023) và “Trái tim xanh” của UNICEF (trong các năm 2020, 2022), nhằm đánh giá hiệu quả truyền thông, xác định giá trị thông điệp, cách thức triển khai, đồng thời rút ra bài học và khuyến nghị cho các chiến dịch tương lai. Nghiên cứu kết hợp giữa phương pháp phân tích nội dung, thống kê dữ liệu và khảo sát xã hội học với 221 mẫu tại Hà Nội. Kết quả cho thấy, cả hai chiến dịch đều tạo được hiệu quả tích cực trong truyền tải thông điệp, song vẫn tồn tại hạn chế về phạm vi tiếp cận và tính bền vững trong thay đổi hành vi. Nghiên cứu đề xuất cần đa dạng hóa kênh truyền thông, thiết kế thông điệp rõ ràng và tăng cường hợp tác liên ngành để đạt hiệu quả lâu dài.
llcttt1994dientu@gmail.com
024.38348033
Bình luận