Truyền hình thực tế “chờ đợi” sự bùng nổ ỏ Việt Nam
Họ được lựa chọn từ những người dân, người xem truyền hình… theo những tiêu chí riêng phù hợp với mục đích của từng chương trình. Mỗi chương trình truyền hình thực tế có cách tiếp cận nhân vật, lên kế hoạch kịch bản và tổ chức ê kíp sản xuất phù hợp với điều kiện của mình.
Trên thế giới, khởi đầu cách làm truyền hình thực tế xuất phát từ ý tưởng một chương trình phát thanh của Đài CBS - Mỹ: Candid microphone (micro thu lén). Năm 1948, Allen Funt cho ra đời chương trình truyền hình Candid camera (Máy quay lén) ghi lại phản ứng của người chơi truyền hình khi họ dính phải những trò chơi khăm. Sau đó, vào những năm 1950, xuất hiện chương trình trò chơi Beat the Clock và Truth or Consequences với các đối thủ cạnh tranh trong các trò chơi nguy hiểm và trò chơi khăm.
Chương trình Nightwatch (Gác đêm) năm 1954 - 1955, ghi lại hoạt động thường ngày của các sỹ quan cảnh sát thành phố Culver, California đã mở thêm hướng đi mới cho truyền hình thực tế.
Năm 1964, chương trình truyền hình dài tập Seven up của hãng Granada TV đã phát sóng tại Anh. Chương trình này phỏng vấn 12 cậu bé (7 tuổi) trên khắp cả nước, tìm hiểu phản ứng của họ với cuộc sống hàng ngày và sau đó sản xuất các bộ phim tài liệu quay về cuộc sống của những cậu bé này trong những năm đó, với tựa đề 7 Plus Sevan, 21 Up…
Chương trình truyền hình thực tế đầu tiên theo hướng hiện đại có thể là chương trình An American Family (Một gia đình Mỹ) dài 12 kỳ của đài truyền hình PBS được phát sóng năm 1973. Loạt chương trình này cho thấy những cảnh sinh hoạt thật của một gia đình với những tình huống hàng ngày hay cả những cảnh làm thủ tục li hôn. Năm 1974, chương trình kiểu này cũng xuất hiện ở Anh với tên The Family, quay cảnh gia đình Wilkin thuộc tầng lớp lao động.
Những năm 1980 - 1990 một số chương trình truyền hình thực tế làm theo hướng ghi lại những gì đang diễn ra trong thực tế. Chương trình COPS (Cớm) phát sóng năm 1989 ở Mỹ mô tả cảnh các sỹ quan cảnh sát làm nhiệm vụ truy bắt tội phạm. Ở Hà Lan vào năm 1991, show truyền hình Nummer 28 mô tả cảnh những con người khác nhau được đưa vào sống trong một môi trường, một thời gian nhất định, mọi hoạt động đều được ghi hình kỹ và dựng phim phát sóng. Một năm sau, MTV ra một loạt chương trình mới The Real World và tác giả của Nummer 28 cho rằng The Real World đã sao chép dựa trên phiên bản của ông. Tuy nhiên, nhà sản xuất The Real World thì cho rằng họ lấy nguồn cảm hứng sáng tác từ An American Family.
Chương trình truyền hình của Thụy Điển Expedition Robison (Robinson trên hoang đảo) đã được nhà sản xuất Charlie Parson phát sóng vào năm 1997 và sau này được phát sóng rộng rãi ở nhiều nước với tên gọi Survivor (Người sống sót). Đây là dạng chương trình mà các nhân vật phải cạnh tranh và loại bỏ nhau. Từng người sẽ bị loại dần và sau cùng còn lại người chiến thắng.
Năm 1996, ở Anh xuất hiện chương trình Changing rooms (Thay đổi các căn phòng), quay cảnh các cặp vợ chồng cùng nhau trang trí lại ngôi nhà và đây được coi là những chương trình truyền hình thực tế đầu tiên theo kiểu: “Vượt lên chính mình”.
Bước sang năm 2000, truyền hình thực tế bùng nổ với hàng loạt chương trình lớn ra đời, hai chương trình luôn đứng vị trí hàng đầu là: Survivor (Người sống sót) và American Idol (Thần tượng Mỹ). Ở Mỹ, Survivor dẫn đầu bảng hâm mộ của công chúng năm 2001 - 2002, còn American Idol dẫn đầu tiếp 3 năm liên tiếp theo từ 2004 đến 2007. Nhiều quốc gia đã lập ra những kênh riêng chuyên phát chương trình truyền hình thực tế, như kênh Zone Reality (Anh) hay Fox Reality (Mỹ).
Có thể hiểu truyền hình thực tế là kiểu làm truyền hình người thật việc thật, máy quay ghi lại diễn biến câu chuyện, nhân vật và những người tham gia ít để ý tới người quay phim, thậm chí không biết mình đang bị ghi hình. Đó có thể là những con người trong một cuộc thi thể thao, sắc đẹp, giọng hát; trong các trò chơi trí não hay vận động; trong các chuyến phiêu lưu, khám phá thế giới hay trong những cuộc phỏng vấn nảy lửa, hoặc chỉ đơn thuần là vô tình rơi vào những tình huống dở khóc dở cười...
Truyền hình thực tế có thể chia ra rất nhiều kiểu khác nhau, trong đó có 7 kiểu làm tiêu biểu: Kiểu "Tư liệu" (Documentary), kiểu "Thi thố" (Elimination), kiểu "Tìm nghề" (Job search), kiểu "Vượt lên chính mình" (Self-improvement/makeover), kiểu "Trò chuyện" (Talk show), kiểu "Quay lén" (Hidden cameras), kiểu "Chơi khăm" (Hoaxes).
Các nhà nghiên cứu về truyền hình thực tế trên thế giới cho rằng truyền hình thực tế đã thành công ở nhiều nước trên thế giới, tuy nhiên do khác biệt về văn hoá mà một số chương trình phù hợp ở quốc gia này lại không thích hợp ở quốc gia khác. Ví dụ, kiểu chương trình ghi hình bối cảnh người chơi là nam và nữ sống chung với nhau. Ở Trung Quốc, sau khi kết thúc mùa giải 2005, chương trình Super Girl đã thu hút khoảng 400 triệu người xem và 8 triệu lượt tin nhắn bình chọn. Tờ báo tiếng Anh Beijing Today đã viết: Liệu chương trình Super Girl có phải là thế lực của chủ nghĩa dân chủ? Chính phủ Trung Quốc đã chỉ trích chương trình này, phê phán sự thô tục, và cuối năm 2006 đã cấm hoàn toàn. Hay ở Ả Rập, một phiên bản của Big Brother mới phát sóng được 2 tuần thì đã bị công chúng phản đối trên đường phố và phải dừng phát sóng.
Cũng có ý kiến cho rằng, thành công của truyền hình thực tế là do khả năng “cười trên nỗi đau của người khác” thông qua việc thỏa mãn mong muốn của người xem được nhìn thấy người khác bị “làm nhục”. Tuy có những nhận xét khác nhau nhưng truyền hình thực tế vẫn đang xuất hiện ngày càng nhiều trên các kênh truyền hình. Các phiên bản truyền hình thực tế ăn khách đang được sản xuất ở nhiều quốc gia, mang lại lợi nhuận cho các nhà sản xuất.
Truyền hình thực tế ở Việt Nam
Ngày nay, người xem truyền hình Việt Nam không còn xa lạ với truyền hình thực tế như kiểu: Khởi nghiệp, Phụ nữ thế kỷ 21, Như chưa hề có cuộc chia ly của Đài Truyền hình Việt Nam… Hành trình kết nối những trái tim, Kế hoạch gia đình hạnh phúc... của Đài Truyền hình TPHCM.
Truyền hình thực tế đang là “mảnh đất” rộng để các đài truyền hình sáng tạo những chương trình mới hấp dẫn người xem bởi yếu tố bất ngờ không có trong kịch bản. Kênh VTV6 (Đài Truyền hình Việt Nam) vừa sản xuất một số chương trình truyền hình thực tế: Sinh ra từ làng, Cầu vồng, Ngày mới…
Tuy truyền hình thực tế đang thu hút khán giả, nhưng những nhà sản xuất gặp không ít khó khăn khi phải thực hiện cảnh quay trong tình huống thật, thêm vào đó là khối lượng hình ảnh “khổng lồ” hàng trăm giờ quay phải xem băng và xử lý tại phòng dựng. Việc tốn kém thời gian và đòi hỏi quay phim liên tục tại hiện trường là một áp lực lớn với những người làm truyền hình thực tế.
Sự hấp dẫn của truyền hình thực tế chính là những tình huống đang diễn ra thật trong cuộc sống. Ví dụ, trong chương trình Sinh ra từ làng của VTV6 - Đài truyền hình Việt Nan, ê kíp làm phim đã gặp sự cố không ngờ. Hôm đó, nhóm làm phim theo chân nhân vật vào gặp gỡ một gia đình ở Đông Anh - Hà Nội, đã nhiều con gái nhưng ông chồng vẫn đòi đẻ con trai. Vừa gõ cửa giới thiệu, ông chồng đã đuổi đoàn ra và cầm gậy đòi đánh quay phim. Người vợ bị đuổi khỏi nhà, phải lấy xe đạp đèo hai đứa con về nhà mẹ đẻ. Hay ở một tình huống khác, nhân vật đã phải khóc nức nở khi đang bán hoa quả ở chợ quê thì bị một chủ hàng khác ra giằng co vứt hoa quả xuống đất để đòi chỗ ngồi. Đây là một trong nhiều tình huống thật không hề có trong kịch bản.
Chương trình Như chưa hề có cuộc chia ly của VTV1 cũng là những câu chuyện cảm động thực sự khi chương trình tìm kiếm người thân với những cuộc gặp gỡ bất ngờ, buồn vui tràn đầy nước mắt. Đây là một trong những chương trình truyền hình thực tế thành công và đang tiếp tục thu hút người xem bởi tính nhân văn và tình huống thật mà chương trình đem lại.
Có thể nhận ra xu hướng phát triển của truyền hình thực tế ở Việt Nam, khi những đài lớn như VTV, HTV (TPHCM), HTV (Hà Nội)… đầu tư ngày càng nhiều cho các chương trình truyền hình thực tế. Truyền hình thực tế được sản xuất phát sóng nhiều kỳ. Sự tham gia sản xuất chương trình của các công ty truyền thông cũng là một yếu tố làm cho diện mạo chương trình truyền hình thực tế có nhiều thay đổi, chẳng hạn chương trình Chinh phục Everest của HTV (TPHCM).
“Chờ đợi” sự bùng nổ …
Sau một thời gian phát triển mạnh chương trình Show games, ở Việt Nam, công chúng có vẻ đã “bão hòa” với trò chơi trên truyền hình. Các đài truyền hình đang tìm đến với những cách làm mới, trong đó có Truyền hình thực tế. Mua bản quyền những chương trình ăn khách của các nước, học tập và tạo ra những chương trình của Việt Nam. Truyền hình thực tế mới xuất hiện vài năm gần đây nhưng những gì “thu hoạch” được ở Việt Nam đang làm nhiều nhà sản xuất quan tâm. Truyền hình Cáp (VTV) đang quảng cáo cho chương trình Reality TV phát sóng từ 20.7.2009. Nhiều công ty truyền thông đã bắt tay với các đài truyền hình địa phương để phát sóng các chương trình truyền hình thực tế chia sẻ lợi nhuận từ các nhà tài trợ và quảng cáo.
Kiểu chương trình truyền hình thực tế Vượt lên chính mình đang được sản xuất và phát sóng trên Đài Truyền hình TPHCM và một số đài địa phương, nhân vật là những người dân nghèo đang nợ ngân hàng, chương trình sẽ mời họ tham gia trò chơi để vượt qua và giành chiến thắng, họ sẽ được xóa nợ và nhận giải thưởng của chương trình.
Chương trình Ngày mới do VTV6, Đài Truyền hình Việt Nam sản xuất theo kiểu “tìm nghề”, chương trình tìm nhân vật trong hoàn cảnh phải tìm cho mình một nghề mới và họ phải trải nghiệm trong một không gian và thời gian nhất định để đạt được mục đích. Những trải nghiệm trên truyền hình cũng là bài học cho nhiều khán giả khi gặp tình huống tương tự.
Ngày nay, công nghệ thông tin phát triển đã giúp cho những người sản xuất chương trình truyền hình thực tế tăng tính tương tác với khán giả. Kiểu chương trình “Thi thố” như Việt Nam Idol, Phụ nữ thế kỷ 21… một lượng lớn khán giả đã tham gia bầu chọn cho người mình yêu thích, giải thưởng của các nhà sản xuất không chỉ dành cho người thắng cuộc mà còn có phần thưởng cho khán giả.
Truyền hình thực tế có mặt ở Việt Nam chưa lâu nhưng những thành công ban đầu đã đánh dấu sự khởi đầu tốt đẹp. Năm 2009 sẽ là năm tiếp tục có thêm những chương trình truyền hình thực tế mới./.
____________________
Bài đăng trên Lý luận chính trị và Truyền thông 8.2009
ThS Đinh Ngọc Sơn
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Bài liên quan
- Chiến lược truyền thông về du lịch Halal trên thế giới và gợi mở cho truyền thông Việt Nam
- Tạp chí điện tử Văn hoá và Phát triển với vai trò bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Mường
- Ứng dụng storytelling trong truyền thông y tế về tình trạng dị tật khe hở môi - vòm miệng
- Chiến dịch truyền thông về phòng chống bạo lực trẻ em tại Việt Nam: hiệu quả, thách thức và bài học kinh nghiệm
- Thực trạng và một số giải pháp nâng cao chất lượng thông tin về sức khỏe tâm thần trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay
Xem nhiều
-
1
Ứng dụng storytelling trong truyền thông y tế về tình trạng dị tật khe hở môi - vòm miệng
-
2
Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV: củng cố nền tảng, khơi thông động lực, thúc đẩy phát triển bền vững
-
3
Tạp chí điện tử Văn hoá và Phát triển với vai trò bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Mường
-
4
Xu hướng nghiên cứu về tài sản thương hiệu bệnh viện tư và ảnh hưởng của các công cụ truyền thông tiếp thị tích hợp
-
5
Thông tin về phòng, chống tội phạm công nghệ cao trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay
-
6
Bế mạc Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV: Thống nhất cao về những vấn đề lớn, hệ trọng
Liên kết
- Báo điện tử đảng cộng sản việt nam
- Báo nhân dân
- Báo Quân đội nhân dân
- Cổng thông tin điện tử Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia hồ chí minh
- Tạp chí Cộng sản
- Tạp chí Giáo dục lý luận
- Tạp chí Giáo dục và Xã hội
- Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
- Tạp chí Lý luận chính trị
- Tạp chí Nghiên cứu con người
- TẠP CHÍ Nghiên cứu dân tộc
- Tạp chí Người làm báo
- Tạp chí Nội chính
- Tạp chí Quản lý Nhà nước
- Tạp chí Tổ chức Nhà nước
- Tạp chí Tuyên giáo
- Tạp chí Xây Dựng Đảng
- Thư viện số Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Trang thông tin điện tử Hội đồng Lý luận Trung ương
Giải pháp đẩy mạnh tuyên truyền chuyển đổi số cho các thành viên Liên minh hợp tác xã miền núi phía Bắc
Chuyển đổi số đang trở thành xu thế tất yếu, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0. Khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam, với đặc thù kinh tế tập thể và mô hình hợp tác xã là phổ biến, đang đối mặt với nhiều thách thức về hạ tầng công nghệ, nhận thức và nhân lực. Để hiện thực hóa chủ trương này, công tác tuyên truyền về chuyển đổi số là bước khởi đầu quan trọng nhằm nâng cao nhận thức và tạo động lực cho các thành viên liên minh hợp tác xã. Bài viết khái quát ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong việc chuyển đổi số, từ đó, đề xuất các giải pháp đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chuyển đổi số cho các thành viên Liên minh Hợp tác xã ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam thời gian tới.
Chiến lược truyền thông về du lịch Halal trên thế giới và gợi mở cho truyền thông Việt Nam
Chiến lược truyền thông về du lịch Halal trên thế giới và gợi mở cho truyền thông Việt Nam
Bài viết tổng thuật các chiến lược truyền thông du lịch Halal tại ba điểm đến tiêu biểu trên thế giới là Malaysia, Indonesia và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm và gợi mở cho truyền thông Việt Nam. Nghiên cứu cho thấy 5 nguyên tắc cốt lõi của truyền thông du lịch Halal hiệu quả, bao gồm: xây dựng hệ thống chứng nhận Halal đáng tin cậy, lồng ghép du lịch Halal vào thương hiệu quốc gia, truyền thông đa ngôn ngữ, đa văn hóa, tiếp thị theo mùa lễ Hồi giáo và ưu tiên kênh kỹ thuật số cùng nội dung do người dùng tạo. Giá trị thực tiễn của nghiên cứu thể hiện ở việc các khuyến nghị có thể hỗ trợ cơ quan quản lý và doanh nghiệp du lịch Việt Nam xây dựng chiến lược marketing hiệu quả, qua đó phát triển phân khúc du lịch Halal đầy tiềm năng.
Tạp chí điện tử Văn hoá và Phát triển với vai trò bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Mường
Tạp chí điện tử Văn hoá và Phát triển với vai trò bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Mường
Văn hóa dân tộc Mường (ở tỉnh Hòa Bình, nay là Phú Thọ) là di sản văn hóa quý báu của dân tộc, không chỉ lưu giữ nhiều lớp trầm tích văn hóa, mà còn là nguồn lực cho phát triển bền vững ở địa phương… Việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Mường, do vậy, có sự cộng đồng trách nhiệm của chính quyền địa phương, các cơ quan quản lý văn hóa, người dân, báo chí truyền thông, trong đó gồm cả Tạp chí điện tử Văn hóa và Phát triển (vanhoavaphattrien.vn). Thời gian qua, Tạp chí đã xây dựng chuyên mục về Di sản - Du lịch, đăng nhiều tác phẩm về văn hóa Mường, góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di sản. Tuy nhiên, vẫn còn đó một số hạn chế. Nghiên cứu này sẽ nhận diện thực trạng vai trò của Tạp chí thông qua phương pháp phân tích nội dung thông điệp, từ đó, thảo luận về một số vấn đề liên quan, góp phần giúp Tạp chí nâng cao hơn nữa vai trò truyền thông di sản.
Ứng dụng storytelling trong truyền thông y tế về tình trạng dị tật khe hở môi - vòm miệng
Ứng dụng storytelling trong truyền thông y tế về tình trạng dị tật khe hở môi - vòm miệng
Nghiên cứu này khảo sát tiềm năng của Phương pháp kể chuyện (Storytelling) như một công cụ hiệu quả trong truyền thông y tế về tình trạng dị tật khe hở môi - vòm miệng (KHM - VM), dựa trên nền tảng “khung lý thuyết kể chuyện như Hero's Journey” (Campbell, 1949) và “StoryBrand Framework” (Miller, 2017) để xây dựng thông điệp và định hình sản phẩm truyền thông thử nghiệm. Trẻ em mắc KHM - VM được xem là trung tâm của câu chuyện và hệ thống y tế là người dẫn dắt đáng tin cậy. Thông qua phỏng vấn nhóm với chuyên gia, phụ huynh và công chúng, nghiên cứu đánh giá chất lượng thông tin/câu chuyện (cấu trúc câu chuyện, tính chân thực, tính liền mạch) và hiệu quả tác động của câu chuyện (niềm tin, thiện cảm và ý định hành vi), qua đó khẳng định phương pháp kể chuyện được đánh giá cao về khả năng truyền tải thông điệp nhân văn, củng cố niềm tin vào hành trình điều trị và gia tăng thiện cảm của công chúng.
Chiến dịch truyền thông về phòng chống bạo lực trẻ em tại Việt Nam: hiệu quả, thách thức và bài học kinh nghiệm
Chiến dịch truyền thông về phòng chống bạo lực trẻ em tại Việt Nam: hiệu quả, thách thức và bài học kinh nghiệm
Bạo lực trẻ em là một trong những vấn đề xã hội nghiêm trọng toàn cầu, trong đó có Việt Nam. Truyền thông giữ vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa và nâng cao nhận thức cộng đồng. Nghiên cứu này phân tích hai chiến dịch tiêu biểu: “Cái ôm ấm áp” của ChildFund (trong các năm 2022, 2023) và “Trái tim xanh” của UNICEF (trong các năm 2020, 2022), nhằm đánh giá hiệu quả truyền thông, xác định giá trị thông điệp, cách thức triển khai, đồng thời rút ra bài học và khuyến nghị cho các chiến dịch tương lai. Nghiên cứu kết hợp giữa phương pháp phân tích nội dung, thống kê dữ liệu và khảo sát xã hội học với 221 mẫu tại Hà Nội. Kết quả cho thấy, cả hai chiến dịch đều tạo được hiệu quả tích cực trong truyền tải thông điệp, song vẫn tồn tại hạn chế về phạm vi tiếp cận và tính bền vững trong thay đổi hành vi. Nghiên cứu đề xuất cần đa dạng hóa kênh truyền thông, thiết kế thông điệp rõ ràng và tăng cường hợp tác liên ngành để đạt hiệu quả lâu dài.
llcttt1994dientu@gmail.com
024.38348033
Bình luận