Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa với phát triển kinh tế
Trước hết, nói về khái niệm văn hoá tư tưởng Hồ Chí Minh, Người đã đưa ra một khái niệm văn hoá rất rộng, rất khái quát đồng thời lại rất cụ thể, rất đời thường: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, phát luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó là loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn"(1).
Đặc biệt, trong khái niệm văn hoá của Hồ Chí Minh, chúng ta thấy được mối quan hệ của văn hoá với các yếu tố khác như con người, truyền thống dân tộc, chính trị, kinh tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Văn hoá không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị". Văn hoá trong tư tưởng Hồ Chí Minh là một phần của đời sống và xã hội, nó cùng với kinh tế, chính trị tạo nên nền tảng của dân tộc ta. Trong lời phát biểu tại buổi lễ khai mạc phòng triển lãm văn hoá ở Hà Nội Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu: "Trong công cuộc kiến thiết nước nhà có bốn vấn đề cùng phải chú ý đến, cùng phải coi là quan trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá. Nhưng văn hoá là một kiến trúc tượng tầng; những cơ sở hạ tầng của xã hội có kiến thiết rồi, văn hoá mới kiến thiết được và đủ điều kiện phát triển được"(2).
Khi nói chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá phải coi trọng như nhau, Hồ Chí Minh luôn cho rằng các quan hệ kinh tế, cơ cấu kinh tế là nền tảng để phát triển văn hoá, Người khẳng định: "Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải phát triển kinh tế và văn hoá, vì sao không nói đến phát triển văn hoá, vì sao không nói phát triển văn hoá và kinh tế? Tục ngữ ta có câu: có thực mới vực được đạo, vì thế kinh tế phải đi trước. Nhưng phát triển để làm gì? Phát triển kinh tế và văn hoá để nâng cao đời sống vật chất và đời sống văn hoá của nhân dân ta".
Không chỉ thấy được sự tác động quyết định của kinh tế đối với văn hoá, Người còn nhận thức rất sâu sắc vai trò của văn hoá đối với sự phát triển kinh tế, Bác khẳng định: "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa". Đó là quan niệm về một sự phát triển hài hoà giữa kinh tế và văn hoá, đồng thời khẳng định vai trò quan trọng của văn hoá trong sự phát triển.
Cốt lõi của văn hoá là đạo đức và là cốt lõi của con người. Bàn về văn hoá, về đạo đức là để nói đến con người, nói tới vai trò của văn hoá trong sự phát triển kinh tế trước hết là nói tới vai trò của con người - nguồn lực quan trọng nhất để phát triển đất nước. Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh là động lực, là đối tượng phục vụ cách mạng, việc giáo dục, bồi dưỡng và xây dựng con người xã hội chủ nghĩa là một nội dung quan trọng trong tư tưởng văn hoá Hồ Chí Minh. Bởi theo Người: "Đầu tiên là công việc đối với con người" và "vì lợi ích trăm năm trồng người", Bác khẳng định: "Phải xúc tiến công tác văn hoá để đào tạo con người mới và cán bộ mới cho công cuộc kháng chiến kiến quốc"(3). Con người theo tư tưởng Hồ Chí Minh, có cấu trúc nhân cách là đức và tài, trong đó đức là nền tảng. Người đặc biệt coi trọng đạo đức, nhưng cũng luôn luôn đề cao tài năng, Bác từng nói: Người có đức mà không có tài giống như ông bụt vậy; Mình có quyền dùng người thì phải dùng những người có tài năng, làm được việc.
Để xây dựng được con người mới xã hội chủ nghĩa thì công tác giáo dục - đào tạo phải được coi trọng đặc biệt. Sự nghiệp giáo dục con người được Hồ Chí Minh đánh giá rất cao, trong đó giáo dục nâng cao trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật là yêu cầu hàng đầu. Theo Hồ Chí Minh, suy cho cùng công việc quyết định nhất của xã hội, chính là giáo dục mọi người "thành người, làm người và ở đời", làm cho mọi người thành nhân cách có văn hoá. Giáo dục và tự giáo dục thành người, làm người, trước hết là hình thành cho được ở mỗi người tư cách đạo đức, tính cách cùng năng lực và tài năng.
Để trở thành người xây dựng đất nước cần phải có kiến thức văn hoá, Bác chỉ rõ: "Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà"(4). Học tập nâng cao kiến thức trình độ là điều kiện hàng đầu để đưa nước ta sánh vai với các cường quốc trên thế giới. Muốn vậy, chúng ta phải coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu, phải xây dựng một hệ thống giáo dục từ thấp đến cao, từ mầm non, tiểu học, trung học, đại học và sau đại học. Hồ Chí Minh khẳng định: "Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng"(5). Mục đích của giáo dục bây giờ là phục vụ nhân dân, phục vụ tổ quốc, đào tạo lớp người, lớp cán bộ mới"(6).
Không chỉ nhấn mạnh vai trò của con người, của giáo dục đào tạo trong sự phát triển kinh tế, Hồ Chí Minh chỉ rõ vai trò của khoa học kỹ thuật đối với sự phát triển kinh tế. Là một bộ phận của văn hoá, khoa học kỹ thuật có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, để phát triển kinh tế, để xây dựng chủ nghĩa xã hội, theo Bác cần phải nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật cho cán bộ, đảng viên và người lao động. Phải biết phát triển khoa học công nghệ và ứng dụng chúng vào sản xuất, vào cuộc sống. Bác khẳng định: "Cách mạng xã hội chủ nghĩa gắn liền với sự phát triển khoa học kỹ thuật, với sự phát triển văn hoá của nhân dân"(7). Khoa học công nghệ là yếu tố quan trọng để phát triển kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội, bởi vậy cần phải phát triển khoa học công nghệ coi đó là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Khoa học công nghệ sẽ góp phần của tiến cách thức làm việc, nâng cao năng suất lao động, phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân. Hồ Chí Minh khẳng định: "Khoa học phải từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng, nhằm nâng cao năng suất lao động và không ngừng cải tiến đời sống nhân dân, bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi"(8).
Với tư cách là một bộ phận của văn hoá, khoa học công nghệ có ảnh hưởng quan trọng đến lối sống, đến đời sống tinh thần của nhân dân, góp phần xây dựng nền văn minh tiến bộ của đất nước. Khoa học công nghệ có nhiệm vụ phục vụ sự phát triển của xã hội, phải góp phần bảo vệ đất nước và đặc biệt khoa học công nghệ phải liên kết chặt chẽ với sản xuất, với phát triển kinh tế, nó phục vụ sản xuất phát triển, đồng thời sản xuất lại cũng là động lực thúc đẩy khoa học công nghệ phát triển. Khoa học công nghệ làm cho sản xuất phải triển, tạo điều kiện nâng cao đời sống của nhân dân lao động, góp phần tăng trưởng kinh tế. Tất cả đều nhằm mục đích cuối cùng là tạo ra các điều kiện vật chất kỹ thuật để xây dựng chủ nghĩa xã hội thắng lợi.
Hiện nay, trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, tìm hiểu, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa với phát triển kinh tế nói riêng có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Văn kiện TW 5 khoá VIII nhấn mạnh: "làm cho văn hoá thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và từng cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội"(9).
Khi coi văn hoá là động lực của sự phát triển, Văn kiện Đại hội IX chỉ rõ: "Phát triển giáo dục đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững"(10). Phát triển khoa học và công nghệ cùng với phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước"(11).
Như vậy, văn hoá có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, nói tới vai trò của văn hoá trong phát triển kinh tế trước hết là vai trò của nguồn lực con người, vai trò của giáo dục - đào tạo, vai trò của khoa học và công nghệ trong sự phát triển kinh tế, trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhận thức rõ quan điểm này giúp chúng ta có những định hướng chiến lược trong lĩnh vực văn hoá trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam thực hiện mục tiên dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội./.
____________________________
(1), (2), (3), (5), Hồ Chí Minh Toàn tập (1995), Nxb. CTQG, Hà Nội, T.3, tr.431, tr.345, tr.173, tr.36,
(8), (9), Hồ Chí Minh Toàn tập (1996), Nxb. CTQG, Hà Nội, T.3, tr.403, tr.183, tr.586, tr.78.
(4), (6), (10) Các Nghị quyết của TW Đảng 1996 - 1999, Nxb. CTQG, tr.167
(7) (11) Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001), Nxb. CTQG, Hà Nội, tr.108, tr.112.
Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Báo chí và Tuyên truyền tháng 1,2 năm 2006
Bài liên quan
- Kiên định tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh giữ gìn “hồn dân tộc”, đón nhận “trí tuệ nhân loại” trong kỷ nguyên số
- Phát huy giá trị di tích Hồ Chí Minh trong nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập lý luận chính trị cho sinh viên hiện nay
- Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên lý luận chính trị ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền hiện nay
- Vai trò của đoàn kết dân tộc trong xây dựng, bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Những vấn đề đặt ra trong nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm phát triển báo chí, truyền thông Việt Nam hiện nay
Xem nhiều
-
1
Cơ sở lý luận và thực tiễn về Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc trong Báo cáo Chính trị Đại hội XIV của Đảng
-
2
Ngôn ngữ truyền thông thương hiệu ca sĩ Việt Nam trên mạng xã hội và hàm ý quản trị
-
3
Giải pháp nâng cao vai trò của báo mạng điện tử đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam
-
4
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích phản hồi công chúng đối với hoạt động truyền thông trách nhiệm xã hội về môi trường (ECSR) tại Việt Nam
-
5
Thách thức trong xây dựng mô hình tòa soạn số báo chí ở Việt Nam hiện nay
-
6
Vai trò của người lãnh đạo trong công tác truyền thông chính sách tại Việt Nam
Liên kết
- Báo điện tử đảng cộng sản việt nam
- Báo nhân dân
- Báo Quân đội nhân dân
- Cổng thông tin điện tử Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia hồ chí minh
- Tạp chí Cộng sản
- Tạp chí Giáo dục lý luận
- Tạp chí Giáo dục và Xã hội
- Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
- Tạp chí Lý luận chính trị
- Tạp chí Nghiên cứu con người
- TẠP CHÍ Nghiên cứu dân tộc
- Tạp chí Người làm báo
- Tạp chí Nội chính
- Tạp chí Quản lý Nhà nước
- Tạp chí Tổ chức Nhà nước
- Tạp chí Tuyên giáo
- Tạp chí Xây Dựng Đảng
- Thư viện số Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Trang thông tin điện tử Hội đồng Lý luận Trung ương
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích phản hồi công chúng đối với hoạt động truyền thông trách nhiệm xã hội về môi trường (ECSR) tại Việt Nam
Trong bối cảnh chuyển đổi số, việc phân tích phản hồi của công chúng ngày càng trở thành yếu tố quan trọng trong đánh giá hiệu quả truyền thông trách nhiệm xã hội về môi trường (ECSR). Nghiên cứu này nhằm làm rõ vai trò của trí tuệ nhân tạo (AI), đặc biệt là các kỹ thuật nhận diện cảm xúc, trong phân tích phản hồi công chúng trên môi trường số. Bài viết kết hợp phương pháp tổng quan tài liệu với phân tích thực nghiệm trên 2.151 bình luận tiếng Việt thu thập từ 21 bài đăng Facebook của Vinamilk và Heineken Việt Nam trong giai đoạn 11/2025–3/2026. Kết quả cho thấy phản hồi tích cực chiếm ưu thế, tuy nhiên vẫn tồn tại các biểu hiện hoài nghi liên quan đến tính xác thực của thông điệp ECSR. Cấu trúc cảm xúc và nội dung phản hồi thể hiện tính đa chiều, tập trung vào các chủ đề như cam kết môi trường, minh bạch thông tin và nghi ngờ greenwashing. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông ECSR tại Việt Nam.
Kiên định tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh giữ gìn “hồn dân tộc”, đón nhận “trí tuệ nhân loại” trong kỷ nguyên số
Kiên định tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh giữ gìn “hồn dân tộc”, đón nhận “trí tuệ nhân loại” trong kỷ nguyên số
Bài viết tập trung phân tích giá trị thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa giữ gìn “hồn dân tộc” và tiếp thu “trí tuệ nhân loại” trước tác động mạnh mẽ của cách mạng công nghiệp 4.0. Từ việc nhận diện các nguy cơ “xâm lăng văn hóa” và “lai căng giá trị”, bài viết đề xuất phương thức sử dụng công nghệ số để lan tỏa di sản và thiết lập “bộ lọc văn hóa” để tiếp nhận tri thức nhân loại trên cơ sở có chọn lọc. Từ đó, khẳng định việc kiên định tư tưởng Hồ Chí Minh là giải pháp then chốt để xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc, giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng mà không bị hòa tan trong kỷ nguyên số.
Phát huy giá trị di tích Hồ Chí Minh trong nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập lý luận chính trị cho sinh viên hiện nay
Phát huy giá trị di tích Hồ Chí Minh trong nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập lý luận chính trị cho sinh viên hiện nay
Với gần 900 bảo tàng, di tích, điểm di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở mọi miền đất nước, hệ thống di tích Hồ Chí Minh đã góp phần làm phong phú thêm về cuộc đời cao đẹp, sự nghiệp vĩ đại, tư tưởng tiến bộ, đạo đức sáng ngời, phong cách giản dị, cao quý của Người. Không chỉ là “địa chỉ đỏ” để quy tụ tình cảm, giáo dục truyền thống, khơi dậy khát vọng cống hiến, sáng tạo của các thế hệ người Việt Nam nói chung, thế hệ trẻ nói riêng, hệ thống này còn lan tỏa các giá trị trường tồn của di sản Hồ Chí Minh đến các dân tộc trên thế giới. Vì vậy, tiếp tục nghiên cứu, bảo tồn, gìn giữ và phát huy giá trị di tích Hồ Chí Minh hiện nay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Từ đó giúp mỗi người chúng ta, đặc biệt là thế hệ trẻ, tin tưởng, tích cực, chủ động trong học tập và làm theo Bác với tất cả sự kính trọng, tình cảm, trách nhiệm và niềm tin vào con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn.
Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên lý luận chính trị ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền hiện nay
Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên lý luận chính trị ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền hiện nay
Giảng viên lý luận chính trị ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền là lực lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng trong sự nghiệp giáo dục lý luận chính trị của Học viện. Trước yêu cầu, nhiệm vụ chính trị ngày càng cao trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đội ngũ giảng viên lý luận chính trị phải thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực nghiên cứu, trong đó, việc nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học giữ vai trò then chốt. Bài viết phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động nghiên cứu của giảng viên lý luận chính trị tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, đồng thời đề xuất một số giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng nghiên cứu khoa học của đội ngũ này trong thời gian tới.
Vai trò của đoàn kết dân tộc trong xây dựng, bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Vai trò của đoàn kết dân tộc trong xây dựng, bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Đoàn kết dân tộc giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc củng cố nền tảng chính trị - xã hội, tạo sự đồng thuận cho quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thông qua việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết, giúp tăng cường niềm tin của Nhân dân, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Đoàn kết dân tộc cũng góp phần bảo vệ vững chắc an ninh, ổn định xã hội trong bối cảnh mới. Bài viết phân tích vai trò và đề xuất giải pháp phát huy vai trò đoàn kết dân tộc trong xây dựng, bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
llcttt1994dientu@gmail.com
024.38348033
Bình luận