Bảo đảm tính chân thật của báo chí - Đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân của người làm báo
Vậy thế nào là chân thật? Có phải chân thật là cái gì xảy ra trong cuộc sống đương đại đều được đưa lên báo? Tại sao có những sự kiện quan trọng xảy ra lại không được báo chí đưa ngay, thậm chí không đưa, như thế có phải là không chân thật, không khách quan? Có rất nhiều câu hỏi xung quanh tính chân thật của báo chí, nhiều khi không dễ trả lời. Nhưng nguyên tắc cơ bản của báo chí là phải bảo đảm tính chân thật, khách quan. Bởi báo chí là phương tiện để phản ánh sự thật, phản ánh cuộc sống và thông qua sự thật thúc đẩy xã hội phát triển.
Chân thật của báo chí là sự thật được nêu rõ bản chất, có tên người, địa chỉ, chi tiết, rõ ràng, cụ thể, người đọc, người nghe, người xem có thể tìm đến tận nơi để chiêm nghiệm, học hỏi, đúc kết, rút kinh nghiệm…Và chính điều này đã làm nên giá trị to lớn của báo chí mà không lĩnh vực nào có thể thay thế được. Tính chân thật của báo chí hoàn toàn khác với tính hiện thực của văn học – nghệ thuật. Với tính chân thật, không cho phép người làm báo xây dựng hình tượng, hư cấu, bịa đặt, tưởng tượng, suy diễn… dù chỉ là chi tiết, tình tiết nhỏ nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh – người thầy của báo chí cách mạng Việt Nam đã từng căn dặn người làm báo: “Quần chúng mong muốn những tác phẩm có nội dung chân thật và phong phú, cho nên người làm báo phải luôn viết rõ sự thật: việc đó ai làm, ở đâu? Ngày, tháng, năm nào... Nếu chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ thì chớ nói, chớ viết”(1).
Chính vì không nhận thức đầy đủ, rõ ràng về tính chân thật của báo chí nên thời gian qua đã có không ít nhà báo bị sai lệch trong hành nghề. Có nhà báo phải ra tòa vì cứ nghĩ do yêu cầu tuyên truyền có thể bịa ra một vài chi tiết cũng không sao, bèn cấu tạo bài viết của mình làm 2 phần. Phần trên có tên người, chức vụ, địa chỉ rõ ràng nhưng phần dưới bịa ra hành động của nhân vật. Thế là bài viết thuộc hai lĩnh vực: phần trên là báo chí, phần dưới là văn học, nhưng lại đăng trên báo đề là phóng sự. Thế là người viết bị bắt, bị khép vào tội vu cáo, bôi nhọ danh dự người được nêu tên trong đó. Cũng may, sau đó nhà báo này chỉ bị thu thẻ hành nghề, không bị truy cứu hình sự, vì động cơ viết không phải vì tiền hay thù oán gì, chỉ do sai sót về nghiệp vụ, nhận thức chưa đầy đủ về tính chân thật của báo chí.
Tính chân thật của báo chí còn được hiểu ở một khía cạnh quan trọng khác. Đó là không một ai, một tổ chức nào bỏ tiền, bỏ công sức lập ra tờ báo, đài phát thanh, truyền hình, báo điện tử…để bất kỳ ai muốn viết gì, muốn nói gì ở đó đều được cả. Vậy ở đây tính định hướng, tính giai cấp, tính chính trị của báo chí là đương nhiên. Người làm báo là người làm chính trị, không có báo chí phi chính trị, phi giai cấp. Vì thế, tính chân thật của báo chí trước tiên phải tuân thủ lợi ích của giai cấp, của đất nước, của dân tộc. Người làm báo phải luôn ý thức được rằng có những sự kiện, sự việc có thể nói ra, viết ra, nhưng cũng có sự kiện, sự việc, sự thật nhưng chưa thể viết, chưa thể nói ngay được do phải giữ bí mật về chính trị, kinh tế, quốc phòng, ngoại giao…hoặc vì lợi ích của đất nước, dân tộc, giai cấp…
Chân thật còn phải tuân thủ mức độ và chừng mực. Nói và viết trên báo chí phải trung thực, không phải vì yêu, ghét của cá nhân. Cố nhà báo Hữu Thọ cũng đã từng viết: “Bác Hồ dạy chúng ta rất nhiều, nhưng tôi tâm đắc nhất hai điều, một là trung thực, hai là chừng mực. Trung thực là có thế nào nói thế ấy, không vì yêu ghét, lợi ích mà bẻ cong ngòi bút. Còn chừng mực là khen chê phải đúng đắn, có mức độ. Và ở bất kỳ thời điểm nào cũng phải trung thực và giữ chừng mực(2).
Như vậy, để bảo đảm được tính chân thật của báo chí, liên quan tới rất nhiều vấn đề mà xuyên suốt, bao trùm lên tất thảy là liên quan đến năng lực, trình độ chính trị, nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp của người làm báo. Có người không nói dối nhưng do trình độ chưa vươn lên được nên có khi viết sai sự thật. Có những sự thật chưa đáng biểu dương, hoặc chưa đến mức phải phê phán đã biểu dương ca ngợi hoặc phê phán, đả kích…. Sự thật còn liên quan đến nhanh nhạy và kịp thời. Chức năng của báo chí là thông tin thời sự nên phải nhanh, nhưng phải chính xác, lột tả được bản chất của sự thật, điều đó đòi hỏi lao động gian lao của người làm báo. Cũng vì thế mà người làm báo là người phải suy nghĩ suốt ngày đêm, nhanh nhưng thiếu chính xác, thiếu điều tra, kiểm chứng thì rất nguy hiểm. Điều này đã được những người làm báo rút kinh nghiệm nghiêm túc qua những vụ đưa tin trước đây như “Vải Lục Ngạn”; “ Rau Thanh Trì”;…và gần đây là một số thông tin sai sự thật trên mạng in-tơ-net khiến báo chí cũng bị ảnh hưởng như “vụ bắt cóc trẻ em” ở tỉnh Hải Dương dẫn tới việc người dân đốt xe của một nhóm người đến mua đồ nội thất ở tỉnh này hay “vụ tung tin máy bay rơi ở sân bay Nội Bài” mà thực tế không có như vậy, đây chỉ là cuộc diễn tập khẩn cấp hàng không. Các cơ quan chức năng đã phải vào cuộc, truy tìm người tung tin giả…
Làm báo trong cơ chế thị trường nhưng lại không nêu cao được đạo đức nghề nghiệp dẫn đến một số thông tin thổi phồng, bịa đặt, vi phạm pháp luật của một vài nhà báo trước đây cũng đã được nhiều người làm báo coi đó là bài học kinh nghiệm về thực hiện tính chân thật và giữ bí mật trong thông tin. Nhất là thông tin về những vụ án, những vụ đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực… , càng phải điều tra, nghiên cứu, có chứng cứ, bằng chứng rõ ràng, chính xác.
Hiện nay, chúng ta đang sống trong “một thế giới phẳng”, nhu cầu truyền thông của công chúng hiện tại cũng thay đổi cả hình thức lẫn nội dung. Thông tin giả cũng đang trở thành vấn nạn trên mạng in-tơ-net, khiến báo chí bị ảnh hưởng không nhỏ. Nhu cầu của công chúng với báo chí hiện nay không chỉ là nhu cầu biết nhanh các thông tin mà quan trọng hơn là nhu cầu được tiếp nhận thông tin chính thống, có kiểm định, kiểm chứng, đúng sự thật. Tính chính thống và có kiểm chứng đúng sự thật của thông tin báo chí vẫn là môt giá trị mà mạng xã hội khó có thể cạnh tranh được.
Dày công trau dồi học tập, nâng cao trình độ về mọi mặt và luôn thực hiện đạo đức nghề nghiệp là điều kiện tiên quyết để hầu hết những người làm báo hiện nay thực hiện được tính chân thật trong tác phẩm báo chí của mình, nâng cao uy tín của nhà báo và niềm tin nơi bạn đọc. Bên cạnh đó, họ cũng rút được nhiều bài học quý báu khi một số ít đồng nghiệp mắc phải sai sót về tính chân thật, để kịp thời chấn chỉnh, đấu tranh với thông tin giả nhất là thông tin xấu, độc của các thế lực thù địch. Đi sâu vào thực tế cuộc sống, điều tra, nghiên cứu, tìm tòi phát hiện làm cho thông tin ngày càng phong phú, chân thật, chính xác, góp phần đem lại sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước. Đó cũng là đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân của người làm báo./.
_______________
(1) Bác Hồ - Nhà báo cách mạng vĩ đại, Nxb Sự thật, Hà Nội 1985 (tr.92).
(2) Nhà báo Hữu Thọ: “Thời điểm nào báo chí cũng phải trung thực”- Báo QĐND 20.4.2010.
Phạm Tài Nguyên
Nguyên Trưởng Ban nghiệp vụ, Hội Nhà báo Việt Nam
Nguồn: http://xaydungdang.org.vn
Bài liên quan
- Giải pháp nâng cao vai trò của báo mạng điện tử đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam
- Ngôn ngữ truyền thông thương hiệu ca sĩ Việt Nam trên mạng xã hội và hàm ý quản trị
- Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông nguy cơ tại Việt Nam hiện nay
- Vai trò của người học trong chuyển hóa trải nghiệm truyền thông thành tài sản thương hiệu đại học
- Các góc độ nghiên cứu quản trị tài chính cơ quan báo chí trong bối cảnh chuyển đổi số
Xem nhiều
-
1
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích phản hồi công chúng đối với hoạt động truyền thông trách nhiệm xã hội về môi trường (ECSR) tại Việt Nam
-
2
Thách thức trong xây dựng mô hình tòa soạn số báo chí ở Việt Nam hiện nay
-
3
Vai trò của người lãnh đạo trong công tác truyền thông chính sách tại Việt Nam
Liên kết
- Báo điện tử đảng cộng sản việt nam
- Báo nhân dân
- Báo Quân đội nhân dân
- Cổng thông tin điện tử Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia hồ chí minh
- Tạp chí Cộng sản
- Tạp chí Giáo dục lý luận
- Tạp chí Giáo dục và Xã hội
- Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
- Tạp chí Lý luận chính trị
- Tạp chí Nghiên cứu con người
- TẠP CHÍ Nghiên cứu dân tộc
- Tạp chí Người làm báo
- Tạp chí Nội chính
- Tạp chí Quản lý Nhà nước
- Tạp chí Tổ chức Nhà nước
- Tạp chí Tuyên giáo
- Tạp chí Xây Dựng Đảng
- Thư viện số Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Trang thông tin điện tử Hội đồng Lý luận Trung ương
Thách thức trong xây dựng mô hình tòa soạn số báo chí ở Việt Nam hiện nay
Bài viết thông qua phân tích kết quả đánh giá mức độ trưởng thành chuyển đổi số báo chí cùng một số tài liệu liên quan nêu lên ba thách thức trong xây dựng mô hình toà soạn số tại Việt Nam hiện nay. Đó là: khả năng làm chủ công nghệ của các cơ quan báo chí, năng lực kinh tế báo chí số và cuối cùng chưa có hình mẫu toà soạn số cụ thể làm ví dụ cho các cơ quan báo chí còn lại. Từ đó, tác giả đề xuất ba giải pháp nhằm thúc đẩy xây dựng toà soạn số báo chí tại Việt Nam là: các cơ quan báo chí cần chủ động nâng cao hiểu biết về công nghệ, xây dựng quỹ hỗ trợ và tăng cường hợp tác giữa cơ quan báo chí với các công ty công nghệ trong nước.
Giải pháp nâng cao vai trò của báo mạng điện tử đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam
Giải pháp nâng cao vai trò của báo mạng điện tử đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam
Thời gian qua, báo mạng điện tử đã thể hiện tinh thần đấu tranh phòng, chống tham nhũng quyết liệt theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và gặt hái được nhiều thành công đáng ghi nhận, khẳng định vai trò và vị thế tiên phong. Tuy nhiên, hoạt động đấu tranh phòng, chống tham nhũng của báo mạng điện tử cũng còn tồn tại một số hạn chế trong nội dung thông tin, cách thức đấu tranh và hình thức thể hiện. Do vậy, bằng phương pháp phân tích nội dung báo chí kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và định tính, bài viết sẽ chỉ ra những thành công, hạn chế, tìm ra nguyên nhân, làm cơ sở đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của báo mạng điện tử trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam thời gian tới.
Ngôn ngữ truyền thông thương hiệu ca sĩ Việt Nam trên mạng xã hội và hàm ý quản trị
Ngôn ngữ truyền thông thương hiệu ca sĩ Việt Nam trên mạng xã hội và hàm ý quản trị
Trong quản trị truyền thông thương hiệu cá nhân trên mạng xã hội, ngôn ngữ truyền thông đã trở thành công cụ chiến lược để nghệ sĩ định vị thương hiệu cá nhân. Bài viết tập trung phân tích đặc trưng ngôn ngữ truyền thông thương hiệu của ba ca sĩ Việt Nam tiêu biểu là Quốc Thiên, Đức Phúc và Bích Phương trên các nền tảng Facebook, YouTube và TikTok. Bằng phương pháp nghiên cứu tài liệu, phân tích nội dung và quan sát thực nghiệm, nghiên cứu chỉ ra sự chuyển dịch linh hoạt trong việc sử dụng ngôn ngữ: từ ngôn ngữ biểu cảm, gần gũi nhằm xây dựng cộng đồng người hâm mộ đến ngôn ngữ chuyên môn khẳng định giá trị nghệ thuật thực lực. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc cá nhân hóa ngôn ngữ truyền thông và sự nhất quán trong thông điệp đa nền tảng là yếu tố then chốt tạo nên tài sản thương hiệu bền vững. Đồng thời, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm chuẩn hóa ngôn ngữ truyền thông của nghệ sĩ, góp phần nâng cao văn hóa ứng xử trên không gian mạng và phát huy “sức mạnh mềm” của văn hóa Việt Nam.
Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông nguy cơ tại Việt Nam hiện nay
Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông nguy cơ tại Việt Nam hiện nay
Bài báo hệ thống hóa cơ sở lý luận về truyền thông nguy cơ từ lăng kính quản trị quốc gia, bảo vệ an ninh phi truyền thống và định hướng dư luận xã hội. Thông qua phân tích thực trạng công tác truyền thông nguy cơ tại Việt Nam trong bối cảnh ứng phó với các dịch bệnh lây nhiễm mới nổi và thảm họa y tế công cộng, nghiên cứu làm sáng tỏ những dấu ấn thành tựu trong việc huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị nhằm củng cố vững chắc thế trận lòng dân. Song song đó, bài viết nhận diện một cách khách quan, khoa học những điểm nghẽn mang tính cấu trúc về năng lực “gác cổng” thông tin, sự thiếu đồng bộ trong quy trình điều hành liên ngành và công tác kiểm soát khủng hoảng trên không gian mạng tại tuyến cơ sở. Dựa trên hệ quy chiếu lý luận và thực tiễn, nghiên cứu đề xuất hệ thống giải pháp chiến lược nhằm chuẩn hóa diễn ngôn học thuật, hoàn thiện thể chế ứng phó và nâng tầm bản lĩnh chính trị cho đội ngũ truyền thông, qua đó góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước mọi biến cố.
Vai trò của người học trong chuyển hóa trải nghiệm truyền thông thành tài sản thương hiệu đại học
Vai trò của người học trong chuyển hóa trải nghiệm truyền thông thành tài sản thương hiệu đại học
Trong bối cảnh tự chủ đại học được luật hóa và chuyển đổi số trở thành định hướng chiến lược, quản trị truyền thông thương hiệu trường đại học đang chuyển từ quảng bá hình ảnh sang kiến tạo giá trị và niềm tin của người học. Trên cơ sở tiếp cận lý thuyết tài sản thương hiệu dựa trên khách hàng và truyền thông tích hợp, bài báo phân tích vai trò trung gian của người học trong quá trình chuyển hóa các trải nghiệm truyền thông thành tài sản thương hiệu đại học. Nghiên cứu sử dụng phương pháp tổng quan và tổng hợp lý thuyết, gắn với bối cảnh chính sách giáo dục đại học hiện hành. Kết quả cho thấy, trải nghiệm người học là yếu tố then chốt kết nối thông điệp truyền thông với giá trị thương hiệu được cảm nhận, qua đó góp phần củng cố uy tín và niềm tin đối với nhà trường trong môi trường số.
llcttt1994dientu@gmail.com
024.38348033
Bình luận