Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng dân tộc
Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm thấy được vị thế của vấn đề bình đẳng dân tộc, bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945 của Người đã minh chứng điều đó. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vấn đề bình đẳng dân tộc là một trong những nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng bảo vệ Tổ quốc.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và bình đẳng dân tộc là sự vận dụng và phát triển sáng tạo những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc; đồng thời kết tinh và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc về giải quyết các mối quan hệ dân tộc.
1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bình đẳng dân tộc
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, dân tộc là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người. C.Mác đã khẳng định: lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử của những cuộc đấu tranh giai cấp. Như vậy, ngay từ khi xã hội loài người có sự phân chia giai cấp, con người đã luôn tìm cách đấu tranh nhằm vươn tới sự giải phóng. Trong những mục tiêu của sự nghiệp giải phóng ấy, bình đẳng và công bằng xã hội vừa là vấn đề cơ bản, vừa là vấn đề lâu dài. Đối với chủ nghĩa xã hội, bình đẳng và công bằng xã hội luôn luôn là nguyện vọng thiết tha của quần chúng nhân dân, đồng thời cũng là một trong những mục tiêu và động lực quan trọng của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Bình đẳng, vốn nghĩa là sự ngang bằng nhau về một phương diện nào đó giữa hai hay một số sự vật cùng tham gia một quan hệ nhất định. Như vậy, bình đẳng xã hội được hiểu là sự ngang bằng nhau giữa các cá nhân hay các nhóm cộng đồng xã hội về một phương diện xã hội nhất định nào đó, chẳng hạn như bình đẳng về quyền và nghĩa vụ công dân, về địa vị xã hội, về cơ hội, về mức độ thỏa mãn những nhu cầu cụ thể nhất định trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội… Theo đó, có thể nói sự ngang bằng nhau giữa người với người (hoặc giữa các nhóm cộng đồng xã hội với nhau) về mọi phương diện, là nói đến một sự bình đẳng xã hội toàn diện, hoàn toàn. Bình đẳng xã hội chỉ đặt ra trong so sánh về phương diện xã hội. Ngoài sự khác nhau về mặt xã hội thì bình đẳng xã hội cũng không loại trừ sự khác biệt về mặt tự nhiên và sinh vật.
Trong tác phẩm “Phê phán Cương lĩnh Gôta”, C.Mác đã đấu tranh chống lại quan điểm rất trừu tượng của Lát-xan về vấn đề bình đẳng xã hội. Ông cho rằng, công bằng và bình đẳng xã hội trong chủ nghĩa xã hội phải gắn liền với việc xóa bỏ giai cấp bóc lột, điều đó không có nghĩa là xã hội sẽ có sự bình đẳng hoàn toàn. Do đó, có thể xem bình đẳng xã hội là một giá trị có tính chất định hướng để con người thỏa mãn những nhu cầu cơ bản về đời sống vật chất và tinh thần trong mối quan hệ tương đối hợp lý giữa cá nhân và nhóm xã hội, phù hợp với khả năng hiện thực của những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Sự phân tích khoa học và cụ thể về vấn đề bình đẳng xã hội trong tư tưởng của C.Mác giúp chúng ta hiểu rõ hơn khái niệm bình đẳng xã hội và mối quan hệ của nó với những khái niệm khác, đặc biệt là khái niệm bình đẳng dân tộc.
Học thuyết Mác - Lênin về vấn đề dân tộc được thể hiện trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như vấn đề bình đẳng dân tộc, tự quyết dân tộc, liên hiệp công nhân các dân tộc, dân tộc tư bản chủ nghĩa, dân tộc xã hội chủ nghĩa… Trong đó vấn đề bình đẳng dân tộc là một trong những nguyên lý rất quan trọng của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Trong nhiều tác phẩm, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin đã gắn vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp, gắn mục tiêu đấu tranh cho bình đẳng dân tộc với mục tiêu đấu tranh cho bình đẳng xã hội. Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” C.Mác đã khẳng định giai cấp vô sản của mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự xây dựng thành một giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc. Đồng thời các ông cũng chỉ ra cho giai cấp công nhân thấy rõ muốn xây dựng mối quan hệ giai cấp, quan hệ xã hội mới trên tinh thần: “Hãy xóa bỏ tình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này nô dịch dân tộc kia cũng sẽ mất theo”(1).
Trong tác phẩm “Về quyền dân tộc tự quyết”, V.I.Lênin đã chỉ rõ, các dân tộc có quyền bình đẳng…, đây cũng là nội dung cơ bản trong cương lĩnh dân tộc của Lênin.
Như vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, bình đẳng giữa các dân tộc, trước hết là thủ tiêu tình trạng áp bức giai cấp, trên cơ sở đó nhằm xóa bỏ sự nô dịch của dân tộc này với dân tộc khác, từ đó khắc phục tình trạng chênh lệch về trình độ phát triển giữa các dân tộc, tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc ở trình độ lạc hậu kém phát triển nỗ lực vượt lên trên con đường tiến bộ, văn minh. Sự bình đẳng toàn diện giữa các dân tộc không chỉ được ghi nhận về pháp lý, mà quan trọng hơn là phải được thể hiện trong thực tế cuộc sống.
Xét về nội dung, công bằng bình đẳng dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin là bình đẳng toàn diện, nhưng trên hết, trước hết là bình đẳng trong lĩnh vực kinh tế. Ở phương diện này, bình đẳng dân tộc phụ thuộc vào sự đồng đều về trình độ phát triển kinh tế của các dân tộc, cốt lõi là sự phát triển về lực lượng sản xuất. Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, C.Mác đã viết: “Những quan hệ qua lại giữa các dân tộc khác nhau đều phụ thuộc vào trình độ phát triển của mỗi dân tộc đó về mặt lực lượng sản xuất, sự phân công lao động và sự giao tiếp nội bộ…”(2). Điều mà C.Mác nói ở đây có thể hiểu là không ngừng phát triển lực lượng sản xuất, vượt qua tình trạng lạc hậu về kinh tế, vươn lên trình độ sản xuất tiên tiến của thời đại là con đường đưa mỗi dân tộc vươn lên địa vị bình đẳng với các dân tộc khác.
Nhấn mạnh tầm quan trọng của bình đẳng trong lĩnh vực kinh tế, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin không xem nhẹ ý nghĩa của bình đẳng trên lĩnh vực chính trị, bởi lẽ, bình đẳng trên lĩnh vực chính trị là quyền rất cơ bản của mỗi dân tộc, tộc người, đặc biệt đối với các dân tộc bị áp bức, bị lệ thuộc, đấu tranh giành quyền bình đẳng chính trị là điều kiện để thực hiện bình đẳng trên các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Mỗi biểu hiện của tư tưởng dân tộc cực đoan, dân tộc nước lớn; kỳ thị dân tộc, phân biệt đối xử giữa các dân tộc, tộc người, những mưu đồ chính trị của các thế lực phản động, việc can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia dân tộc, tộc người đều vi phạm quyền bình đẳng chính trị của các dân tộc. Quyền bình đẳng chính trị theo Lênin là các dân tộc có quyền tự quyết vận mệnh của dân tộc mình; quyền lựa chọn chế độ chính trị, lựa chọn con đường, bước đi, nhịp độ của sự phát triển, nó cũng đồng nghĩa với quyền tự quyết dân tộc.
Bình đẳng trên lĩnh vực văn hóa - xã hội cũng có tầm quan trọng đặc biệt. Nó liên quan tới nhiều yếu tố văn hóa dân tộc - tộc người. Bởi văn hóa là biểu hiện kết tinh những giá trị truyền thống của mỗi dân tộc. Chính trên lĩnh vực văn hóa, các yếu tố tộc người - những yếu tố mà ở đó phân biệt rõ dân tộc này với dân tộc khác được biểu hiện đầy đủ nhất. Nền văn hóa với các bản sắc dân tộc mất đi thì dần dần dân tộc cũng tan biến với tính cách một cộng đồng riêng, độc lập, đó chính là thảm họa của tình trạng bị đồng hóa, cưỡng bức dân tộc. Trong quan hệ dân tộc, văn hóa là một nhân tố có ý nghĩa quyết định địa vị bình đẳng của dân tộc này với dân tộc khác.
Lênin đã khẳng định vấn đề bình đẳng trong văn hóa phải gắn chặt với bình đẳng về kinh tế và chính trị. Lênin viết: “Tách lĩnh vực trường học riêng ra, trước nhất đó là một điều không tưởng phi lý, vì không thể nào tách trường học (cũng như “văn hóa dân tộc” nói chung) ra khỏi kinh tế và chính trị được”(3).
Liên quan đến bình đẳng văn hóa là quyền bình đẳng về ngôn ngữ - một quyền tự nhiên của con người. Vấn đề ngôn ngữ và sử dụng ngôn ngữ dân tộc là nhu cầu máu thịt, thiêng liêng của cư dân các dân tộc. Bởi vì quyền bình đẳng về ngôn ngữ là sự đóng góp tích cực của những người dân chủ triệt để. Theo Lênin, những người không thừa nhận, không bảo vệ quyền bình đẳng dân tộc, bình đẳng về ngôn ngữ, không đấu tranh chống mọi bất bình đẳng dân tộc, thì người đó không phải là người mácxít chân chính. Ý nghĩa sâu xa của Lênin về bình đẳng dân tộc, thực chất là cần thủ tiêu giai cấp.
Như vậy, theo các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin, vấn đề bình đẳng dân tộc nằm trong khuôn khổ bình đẳng xã hội. Do đó, các ông đã đưa tiến trình của cuộc đấu tranh giành quyền bình đẳng dân tộc hòa nhập vào tiến trình chung của cuộc đấu tranh cách mạng giải phóng con người.
2. Kế thừa giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Việt Nam
Với truyền thống hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, giá trị cốt lõi xuyên suốt, cội nguồn của tư tưởng bình đẳng dân tộc là chủ nghĩa yêu nước - giá trị đầu bảng của thang giá trị Việt Nam. Đoàn kết, yêu nước, lòng nhân ái, cố kết cộng đồng đã được hun đúc qua bao thế hệ con người Việt Nam, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân cho truyền thống ấy, giá trị ấy.
Ngay từ thời Vua Hùng dựng nước, tất cả các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, từng có nguồn gốc lịch sử, phong tục tập quán, tiếng nói, chữ viết, cư trú trên những vùng miền khác nhau, cho dù là dân tộc đa số hay thiểu số, họ đều đoàn kết gắn bó với nhau thành một khối thống nhất, cùng nhau chống mọi kẻ thù, cùng nhau khắc phục khó khăn để phát triển kinh tế, xã hội.
Yêu cầu chống giặc ngoại xâm, bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, đã tạo nên tinh thần tự lực, tự cường, chung lòng chung sức đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, Việt Nam đã trải qua 12 thế kỷ liên tục chống giặc ngoại xâm, phải đương đầu với các thế lực xâm lược hùng mạnh như: Tần, Hán, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, Pháp, Nhật, Mỹ, nhưng nhân dân Việt Nam dù ở miền xuôi hay miền ngược, dân tộc đa số hay thiểu số đã liên kết chặt chẽ, cố kết cộng đồng đã giành những thắng lợi vô cùng oanh liệt, vẻ vang, làm rạng danh non sông đất nước.
Do yêu cầu của cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên, nhân dân các dân tộc Việt Nam đã đoàn kết, hợp sức, hợp lực chống lại sự khắc nghiệt của thiên nhiên như bão lũ, hạn hán để giành giật cuộc sống mưu sinh với tấm lòng “nhường cơm sẻ áo”, “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”… Tất cả những giá trị ấy đã vun đắp nên truyền thống yêu nước, cố kết cộng đồng dân tộc. Không chỉ là một tình cảm, một phẩm chất tinh thần, mà đã phát triển nâng lên trở thành chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa dân tộc chân chính, trở thành dòng chủ lưu của tư tưởng Việt Nam.
Sau này, khi đề cập đến vấn đề dân tộc ở nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, tất cả các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam đều là một nhà. Cụm từ “con Rồng cháu Tiên” được Người nhiều lần sử dụng để nói lên mối quan hệ máu thịt giữa các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Bên cạnh những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh kết tinh, phát huy thì những giá trị văn hóa của phương Đông, phương Tây cũng góp phần tạo nên tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng dân tộc. Bởi vậy, một nhà văn, nhà báo phương Tây đã khái quát rằng, hình ảnh Hồ Chí Minh là sự kết hợp hoàn chỉnh đức khôn ngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, Triết học của Mác, thiên tài cách mạng của Lênin và tình cảm của một chủ gia tộc, tất cả được bao bọc trong một dáng dấp rất tự nhiên.
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những thành quả tri thức của nhân loại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm cho vốn trí tuệ của mình ngày một giàu có và sâu sắc. Trước hết, Người sớm hấp thụ tư tưởng Nho học, nắm vững nguyên lý cơ bản, tiếp thu sáng tạo những mặt tích cực của Nho giáo, chủ yếu ở triết lý hành động, tư tưởng nhân đạo, những nguyên tắc, đạo lý thương dân, yêu nước, lý tưởng về xã hội thái bình, thịnh trị. Hồ Chí Minh còn tiếp thu những tư tưởng của Phật giáo, tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ, cứu nạn, mong sao đem lại ấm no cho mọi người. Ngoài ra, Người còn khai thác nhiều yếu tố tích cực của các nhà tư tưởng phương Đông cổ đại như: Lão Tử, Mặc Tử… và cận hiện đại như Tôn Trung Sơn…
Tất cả những giá trị, phẩm chất tốt đẹp đã hun đúc nên chủ nghĩa yêu nước ở Hồ Chí Minh. Vốn kiến thức phong phú cùng với trình độ uyên thâm về Nho học, đã tạo cơ sở để Người tiếp nhận những giá trị văn hóa phương Tây ở nơi đất khách quê người, nhất là tiếp thu tư tưởng dân chủ, tinh thần “tự do, bình đẳng, bác ái” của các cuộc đấu tranh cách mạng tư sản.
Như vậy, sự kết tinh những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam, nổi bật là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần nhân ái và tính cố kết cộng đồng cùng với những giá trị tích cực tiếp thu từ kho tàng văn hóa thế giới, đã trở thành nền tảng vững chắc để từ đó, Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin mà trước hết là những nguyên lý, lý luận về vấn đề dân tộc và bình đẳng dân tộc./.
___________________________________________________
(1) C.Mác - Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, Nxb. Sự Thật, Hà Nội, T.3, tr.565.
(2) C.Mác - Ph Ăngghen (1995), Sđd, T.1, tr.30.
(3) V.I.Lênin (1980), Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, M., T.24, tr.171 - 172.
Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông số tháng 2/2022
Bài liên quan
- Kiên định tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh giữ gìn “hồn dân tộc”, đón nhận “trí tuệ nhân loại” trong kỷ nguyên số
- Phát huy giá trị di tích Hồ Chí Minh trong nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập lý luận chính trị cho sinh viên hiện nay
- Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên lý luận chính trị ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền hiện nay
- Vai trò của đoàn kết dân tộc trong xây dựng, bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Những vấn đề đặt ra trong nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm phát triển báo chí, truyền thông Việt Nam hiện nay
Xem nhiều
-
1
Tạp chí điện tử Văn hoá và Phát triển với vai trò bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Mường
-
2
Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV: củng cố nền tảng, khơi thông động lực, thúc đẩy phát triển bền vững
-
3
Kiên định tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh giữ gìn “hồn dân tộc”, đón nhận “trí tuệ nhân loại” trong kỷ nguyên số
-
4
Cơ sở lý luận và thực tiễn về Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc trong Báo cáo Chính trị Đại hội XIV của Đảng
-
5
Chiến lược truyền thông về du lịch Halal trên thế giới và gợi mở cho truyền thông Việt Nam
-
6
Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông nguy cơ tại Việt Nam hiện nay
Liên kết
- Báo điện tử đảng cộng sản việt nam
- Báo nhân dân
- Báo Quân đội nhân dân
- Cổng thông tin điện tử Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia hồ chí minh
- Tạp chí Cộng sản
- Tạp chí Giáo dục lý luận
- Tạp chí Giáo dục và Xã hội
- Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
- Tạp chí Lý luận chính trị
- Tạp chí Nghiên cứu con người
- TẠP CHÍ Nghiên cứu dân tộc
- Tạp chí Người làm báo
- Tạp chí Nội chính
- Tạp chí Quản lý Nhà nước
- Tạp chí Tổ chức Nhà nước
- Tạp chí Tuyên giáo
- Tạp chí Xây Dựng Đảng
- Thư viện số Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Trang thông tin điện tử Hội đồng Lý luận Trung ương
Xây dựng văn hóa liêm chính trong cộng đồng ở Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào - nền tảng xã hội của phòng, chống tham nhũng
Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng, vai trò và hệ thống giải pháp nhằm xây dựng văn hóa liêm chính trong cộng đồng ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Trên cơ sở phân tích - tổng hợp tài liệu thứ cấp, đối chiếu quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng (UNCAC), tư liệu về hoạt động của Cơ quan Thanh tra Nhà nước và Phòng, chống tham nhũng Lào cùng một số nguồn nghiên cứu lý luận, bài viết cho thấy Lào đã từng bước hoàn thiện khung thể chế, tăng cường giáo dục liêm chính và mở rộng truyền thông phòng, chống tham nhũng. Tuy nhiên, việc chuyển hóa nỗ lực thể chế thành chuẩn mực xã hội bền vững trong cộng đồng vẫn còn gặp những rào cản về tiếp cận thông tin, kỹ năng giám sát xã hội, cơ chế bảo vệ người phản ánh, tố cáo và sự liên thông giữa giáo dục, truyền thông với thực thi pháp luật. Từ đó, bài viết đề xuất năm nhóm giải pháp theo hướng gắn xây dựng văn hóa liêm chính với nhà trường, cơ quan công quyền, tổ chức xã hội, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư.
Kiên định tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh giữ gìn “hồn dân tộc”, đón nhận “trí tuệ nhân loại” trong kỷ nguyên số
Kiên định tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh giữ gìn “hồn dân tộc”, đón nhận “trí tuệ nhân loại” trong kỷ nguyên số
Bài viết tập trung phân tích giá trị thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa giữ gìn “hồn dân tộc” và tiếp thu “trí tuệ nhân loại” trước tác động mạnh mẽ của cách mạng công nghiệp 4.0. Từ việc nhận diện các nguy cơ “xâm lăng văn hóa” và “lai căng giá trị”, bài viết đề xuất phương thức sử dụng công nghệ số để lan tỏa di sản và thiết lập “bộ lọc văn hóa” để tiếp nhận tri thức nhân loại trên cơ sở có chọn lọc. Từ đó, khẳng định việc kiên định tư tưởng Hồ Chí Minh là giải pháp then chốt để xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc, giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng mà không bị hòa tan trong kỷ nguyên số.
Phát huy giá trị di tích Hồ Chí Minh trong nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập lý luận chính trị cho sinh viên hiện nay
Phát huy giá trị di tích Hồ Chí Minh trong nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập lý luận chính trị cho sinh viên hiện nay
Với gần 900 bảo tàng, di tích, điểm di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở mọi miền đất nước, hệ thống di tích Hồ Chí Minh đã góp phần làm phong phú thêm về cuộc đời cao đẹp, sự nghiệp vĩ đại, tư tưởng tiến bộ, đạo đức sáng ngời, phong cách giản dị, cao quý của Người. Không chỉ là “địa chỉ đỏ” để quy tụ tình cảm, giáo dục truyền thống, khơi dậy khát vọng cống hiến, sáng tạo của các thế hệ người Việt Nam nói chung, thế hệ trẻ nói riêng, hệ thống này còn lan tỏa các giá trị trường tồn của di sản Hồ Chí Minh đến các dân tộc trên thế giới. Vì vậy, tiếp tục nghiên cứu, bảo tồn, gìn giữ và phát huy giá trị di tích Hồ Chí Minh hiện nay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Từ đó giúp mỗi người chúng ta, đặc biệt là thế hệ trẻ, tin tưởng, tích cực, chủ động trong học tập và làm theo Bác với tất cả sự kính trọng, tình cảm, trách nhiệm và niềm tin vào con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn.
Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên lý luận chính trị ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền hiện nay
Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên lý luận chính trị ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền hiện nay
Giảng viên lý luận chính trị ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền là lực lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng trong sự nghiệp giáo dục lý luận chính trị của Học viện. Trước yêu cầu, nhiệm vụ chính trị ngày càng cao trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đội ngũ giảng viên lý luận chính trị phải thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực nghiên cứu, trong đó, việc nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học giữ vai trò then chốt. Bài viết phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động nghiên cứu của giảng viên lý luận chính trị tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, đồng thời đề xuất một số giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng nghiên cứu khoa học của đội ngũ này trong thời gian tới.
Vai trò của đoàn kết dân tộc trong xây dựng, bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Vai trò của đoàn kết dân tộc trong xây dựng, bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Đoàn kết dân tộc giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc củng cố nền tảng chính trị - xã hội, tạo sự đồng thuận cho quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thông qua việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết, giúp tăng cường niềm tin của Nhân dân, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Đoàn kết dân tộc cũng góp phần bảo vệ vững chắc an ninh, ổn định xã hội trong bối cảnh mới. Bài viết phân tích vai trò và đề xuất giải pháp phát huy vai trò đoàn kết dân tộc trong xây dựng, bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
llcttt1994dientu@gmail.com
024.38348033
Bình luận