Những nguy cơ mất an toàn trong sử dụng mạng xã hội trên không gian mạng của sinh viên hiện nay
1. Giới thiệu
Với sự phát triển, phổ biến của internet, sự phát triển mở rộng của các MXH cũng như ra đời nhiều MXH mới, tỉ lệ dân số Việt Nam tham gia sử dụng MXH ngày một tăng. Theo thống kê mới nhất vào đầu năm 2024, có 79,1% tổng dân số Việt Nam có tiếp cận với internet, và 73,3% dân số có sử dụng mạng xã hội (MXH). Mạng xã hội Facebook vẫn là MXH được sử dụng phổ biến nhất, với 72,7 triệu người sử dụng, chiếm 73,3% tổng dân số. Các MXH khác cũng có tỉ lệ người dân Việt Nam sử dụng rất phổ biến như: Youtuble (63,5%), Tiktok (68,3%), Instagram (11%)(1).
Việc sử dụng MXH ngày một phổ biến đi kèm với nó là sự gia tăng nguy cơ mất an toàn trên không gian mạng và nhiều vấn đề đặt ra về an ninh mạng.
Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, trong 6 tháng đầu năm 2023, tình hình lừa đảo trực tuyến tại Việt Nam tăng 64,78% so với cùng kỳ năm ngoái; tăng 37,82% so với 6 tháng cuối năm 2022(2). Theo thống kê của Cục An toàn thông tin (Bộ Thông tin và Truyền thông), trong 11 tháng đầu năm 2023, cơ quan này đã nhận được gần 16.000 phản ánh về các trường hợp lừa đảo trên mạng internet; trong đó, 91% liên quan đến giả mạo, lừa đảo trong lĩnh vực ngân hàng-tài chính(3).
Nhằm góp phần vào đảm bảo an toàn trên không gian mạng, tại Việt Nam, luật An toàn thông tin mạng được ban hành năm 2015 đã thể chế hóa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về an toàn thông tin mạng, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững kinh tế - xã hội, bảo vệ thông tin và hệ thống thông tin, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền và lợi ích quốc gia trên không gian mạng. Theo đó: “An toàn thông tin mạng mạng là sự bảo vệ thông tin, hệ thống thông tin trên mạng tránh bị truy nhập, sử dụng, tiết lộ, gián đoạn, sửa đổi hoặc phá hoại trái phép nhằm bảo đảm tính nguyên vẹn, tính bảo mật và tính khả dụng của thông tin”(4).
Bên cạnh đó, nhằm có giải pháp toàn diện đối với vấn đề an toàn, đảm bảo an ninh không gian mạng, ngày 18/2/2019. Ngày 10/8/2022, Thủ tướng chính phủ đã ký quyết định phê duyệt Chiến lược An toàn, An ninh mạng quốc gia, chủ động ứng phó với các thách thức từ không gian mạng đến năm 2025, tầm nhìn 2030, trong đó có xác định rõ ràng mục tiêu khái quát, mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn, nhiệm vụ, giải pháp nhằm đạt được mục tiêu(5).
Bên cạnh hành lang pháp lý, để môi trường internet, mạng xã hội thực sự an toàn cho người sử dụng thì còn phụ thuộc nhiều vào hành vi sử dụng internet và MXH an toàn của người dân. Thanh niên, đặc biệt sinh viên là đối tượng trẻ tuổi, thường thích ứng và nắm bắt nhanh đối với các xu hướng mới, đặc biệt là MXH. Họ thường sử dụng đồng thời nhiều MXH cùng lúc và dành nhiều thời gian trong ngày sử dụng MXH, do vậy hiểu biết và thực hành an toàn bảo vệ bản thân khỏi những nguy cơ, rủi ro trên không gian mạng là rất quan trọng.
Nhằm có thêm hiểu biết về hành vi sử dụng MXH và những nguy cơ, rủi ro cũng như hành vi bảo vệ bản thân trên không gian mạng của sinh viên, nhóm nghiên cứu đã thực hiện khảo sát đối với đối tượng sinh viên đang học tại các trường đại học, với cỡ mẫu là 598 mẫu, được khảo sát trực tuyến. Sinh viên tham gia nghiên cứu là sinh viên chính quy, từ năm thứ nhất đến năm thứ 4/5, học đa dạng ngành nghề trên địa bàn Hà Nội, bao gồm sinh viên từ 5 trường: Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Đại học Kinh tế Quốc dân, Trường Đại học Xây dựng Hà nội, Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần bổ sung thêm hiểu biết, xây dựng cơ sở khoa học và thực tiễn hướng đến bổ sung, đề xuất các giải pháp phù hợp nâng cao ý thức sử dụng MXH an toàn, góp phần đảm bảo an toàn trên không gian mạng nói chung.
2. Kết quả nghiên cứu
- Thực trạng sử dụng MXH của sinh viên hiện nay:
Sử dụng MXH đã trở nên rất phổ biến trong thanh niên nói chung và sinh viên nói riêng. Gần như rất hiếm có sinh viên nào trong bối cảnh hiện nay không sử dụng MXH. Thống kê từ số liệu khảo sát cho thấy 100% sinh viên trong mẫu nghiên cứu có sử dụng ít nhất là 3 MXH khác nhau để kết nối và thực hiện các hoạt động học tập, giải trí cũng như thoả mãn các nhu cầu khác trên không gian mạng.
Zalo là MXH có tỉ lệ sinh viên sử dụng cao nhất (98,8%), và thực tế cao hơn so với tỉ lệ sinh viên sử dụng Facebook, tuy nhiên Facebook vẫn là MXH có tần suất sử dụng thường xuyên cao nhất trong số 7 MXH (điểm trung bình mức độ sử dụng thường xuyên đạt 4,05/ 5 điểm). Có 5 trong số 7 MXH được sinh viên xác nhận có sử dụng với tỉ lệ lên đến trên 90% tổng số mẫu nghiên cứu. Cụ thể như sau:
Threads là MXH rất mới, được đưa vào xã hội bắt đầu từ 6/7/2023, tuy nhiên ngay lập tức đã trở thành MXH tương đối phổ biến trong sinh viên, với 62,9% tổng số sinh viên trong mẫu nghiên cứu xác nhận có sử dụng, và tỉ lệ này cao hơn so với tỉ lệ sinh viên sử dụng mạng Twitter.
Cũng theo dữ liệu được phân tích, trung bình một sinh viên trong mẫu nghiên cứu sử dụng song song gần 6 MXH (5,93 mạng). Tỉ lệ sinh viên sử dụng dưới 3 MXH là 0%, tỉ lệ sinh viên sử dụng từ 5 MXH trở lên là 92,3%. Như vậy, có thể thấy, việc sử dụng MXH không những phổ biến ở sinh viên, mà thực tế sinh viên đang sử dụng song song cùng một lúc rất nhiều MXH. Theo ước lượng của sinh viên trong mẫu nghiên cứu, sinh viên dành khá nhiều thời gian một ngày cho MXH: trung bình một ngày, sinh viên dành 6,13 tiếng (tương đương 6 giờ 8 phút) sử dụng MXH.
Biểu đồ trên cũng cho thấy có gần 1/3 sinh viên (32,5%) dành thời gian trên 7 tiếng/ngày sử dụng MXH. Số thời gian này có thể tương đương hoặc nhiều hơn so với thời gian sinh viên dành cho việc ngủ hay thời gian dành cho việc học trên lớp và tự học. Như vậy, có thể thấy MXH là một phần cuộc sống quan trọng và ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động sống của sinh viên hiện nay.
- Những nguy cơ trên không gian MXH
Có thể nói, với sự phổ biến của MXH như hiện nay, thể hiện ở thực tế số lượng MXH sinh viên tham gia sử dụng, thời gian mỗi ngày sinh viên dành cho việc sử dụng MXH, thì MXH đang ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của sinh viên ở mọi phương diện, bao gồm cả ảnh hưởng tích cực và những nguy cơ, rủi ro trên không gian mạng. Bài viết chủ yếu tập trung vào phân tích dữ liệu về những nguy cơ, rủi ro mà sinh viên đã và đang gặp phải.
Thực tế, khi tham gia một MXH, sinh viên sẽ phải cung cấp một số thông tin nhất định để xác thực bản thân trên không gian mạng. Bên cạnh những thông tin yêu cầu, sinh viên có thể cung cấp một số thông tin khác về bản thân. Đây được xem như việc giới thiệu bản thân họ trong mạng lưới bạn bè trên không gian mạng hay nói cách khác là quá trình tự công khai bản thân trên MXH. Việc công khai một số thông tin cá nhân trên MXH ở một khía cạnh nào đó giúp cá nhân phát triển bản sắc cá nhân, tạo được lòng tin và tăng cường được các mối quan hệ tin cậy trên MXH.
Tuy nhiên, ở khía cạnh bảo vệ an toàn bản thân trên MXH, khi thông tin cá nhân của sinh viên được công khai trên MXH thì rất có thể nó sẽ bị sao chép, phát tán, mạo danh gây ra nhiều những rủi ro trực tuyến. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, người trẻ tuổi thường chưa có kinh nghiệm để bảo vệ tốt sự riêng tư cũng như những chuẩn mực đạo đức trong giao tiếp trực tuyến [6]. Thực tế, sinh viên đã lựa chọn những thông tin cá nhân gì để giới thiệu trên không gian các MXH? Kết quả tổng hợp từ khảo sát của nhóm nghiên cứu như sau:
Có khoảng 51% tổng số sinh viên chia sẻ về nơi học/ làm việc trên MXH và đây cũng là thông tin được sinh viên chia sẻ phổ biến nhất trên MXH. Tiếp đến là thông tin về tình trạng mối quan hệ và tuổi/ năm sinh, với trên 40% tổng số sinh viên trong mẫu nghiên cứu trả lời có chia sẻ thông tin này trên MXH.
Ngoài 3 nhóm thông tin được sinh viên chia sẻ phổ biến ở trên, một số thông tin khác được sinh viên chia sẻ với tỉ lệ thấp hơn (trên dưới 20%), bao gồm: email, tài khoản cá nhân, địa chỉ cư trú, số điện thoại. Đây là những thông tin mang tính cá nhân, việc chia sẻ quá chi tiết lên MXH một mặt có thể tiện lợi cho sinh viên trong việc mở rộng mối quan hệ, tiện lợi trong việc liên hệ với nhau khi có nhu cầu, nhưng mặt khác, nguy cơ và rủi ro cũng khá cao khi sinh viên công khai các thông tin cá nhân này lên MXH: họ có thể bị nhắn tin làm phiền, quấy rối, bắt nạt, lừa đảo, lôi kéo vào các nhóm trực tuyến với mục đích xấu, giả mạo thông tin trên mạng nhằm vào mục đích xấu, vi phạm pháp luận, đạo đức.
Về những nguy cơ trên MXH, nghiên cứu cũng tìm hiểu các rủi ro hay tình huống mất an toàn trên MXH mà sinh viên gặp phải. Kết quả cho thấy, tỉ lệ sinh viên gặp phải các rủi ro hay mất an toàn trên không gian mạng là khá phổ biến:
* P value ≤ 0,05
Bảng trên liệt kê 13 tình huống rủi ro phổ biến sinh viên có thể gặp phải trên MXH hiện nay phân tích chung theo số liệu toàn mẫu và có so sánh sự khác biệt về tỉ lệ gặp phải giữa sinh viên nam và nữ.
Phân tích dữ liệu cho thấy, chỉ có 16,6% sinh viên cho biết chưa gặp tình huống nào trong số 13 tình huống mất an toàn trên MXH như đề cập ở Bảng trên, còn lại 83,4% sinh viên cho biết đã gặp ít nhất một tình huống mất an toàn trên MXH. Trung bình 1 sinh viên cho biết họ đã từng gặp phải 3,57 trường hợp nguy cơ mất an toàn trên không gian mạng. Như vậy, có thể thấy, nguy cơ mất an toàn trên không gian mạng là rất cao và khổ biến ở sinh viên, nhóm đối tượng dành nhiều thời gian trong ngày sử dụng MXH cũng như tham gia vào nhiều MXH.
Kết quả phân tích chung toàn mẫu cho thấy rủi ro mà sinh viên gặp phải phổ biến nhất là "Bị xâm nhập trái phép vào tài khoản MXH cá nhân và mất khả năng kiểm soát tài khoản MXH cá nhân", với 48,5% toàn bộ sinh viên trong mẫu nghiên cứu cho biết họ đã gặp tình huống rủi ro này. Ngoài ra, có 5 tình huống rủi ro khác có tỉ lệ sinh viên cho biết đã từng gặp phải với ước tính từ 30% đến 35% tổng sinh viên trong mẫu nghiên cứu, bao gồm:
- Nhận được tin nhắn từ một người bạn nhờ chuyển tiền, bạn đã làm theo nhưng sau đó nhận ra đó không phải là họ (34,4%)
- Bị tấn công/ bắt nạt/ đe doạ/ xúc phạm trên MXH (thông qua tin nhắn, cuộc gọi trên MXH) (31,6%)
- Bị lấy cắp hình ảnh, thông tin cá nhân sử dụng vào mục đích sai trái, không được phép của chính bạn (30,9%)
- Bị người khác lập tài khoản giả mạo là tài khoản của bản thân bạn (30,8%)
Các hành vi rủi ro còn lại được liệt kê ở bảng trên cũng cho thấy không phải là hiếm xảy ra ở sinh viên, với tỉ lệ từ 16% đến trên 29% sinh viên cho biết đã gặp phải.
So sánh sự khác biệt giữa sinh viên nam và nữ về nguy cơ mất an toàn trên không gian mạng, kết quả cho thấy, tỉ lệ nam giới cho biết đã gặp phải 13 tình huống rủi ro đe doạ đến an toàn của bản thân trên không gian mạng đều có xu hướng cao hơn so với nữ, trong đó có 5 tình huống sự khác biệt là rất rõ (P value ≤ 0,05), trong đó sự khác biệt lớn nhất thể hiện ở 2 tình huống:
- Bị lấy cắp hình ảnh, thông tin cá nhân sử dụng vào mục đích sai trái, không được phép của chính chủ trang mạng (nam: 35,1; nữ: 25,4, sự khác biệt lên đến gần 10%)
- Bị người khác lập tài khoản giả mạo là tài khoản của bản thân: (nam: 35,1; nữ: 25,4, sự khác biệt lên đến hơn 10%)
Thực tế, khi phân tích dữ liệu, so sánh giữa số lượng các tình huống rủi ro và mất an toàn trên MXH giữa sinh viên nam và nữ, kết quả phân tích cho thấy trung bình sinh viên nam đã từng gặp phải 3,78 tình huống rủi ro và cao hơn so với nữ (3,29 tình huống).
Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến tình trạng phổ biến mất an toàn trên không gian mạng, bên cạnh những nguyên nhân đã đề cập ở trên như: sinh viên dành nhiều thời gian trong ngày sử dụng MXH, dùng đồng thời cùng lúc nhiều MXH, một nguyên nhân quan trọng khác có liên quan đến việc chưa thật cẩn trọng khi dùng MXH. Tổng hợp phân tích như sau:
* P value ≤ 0,05
Bảng trên cho thấy còn một tỉ lệ đáng kể sinh viên chưa tạo dựng được thói quen sử dụng MXH an toàn, hay nói cách khác là nhiều sinh viên duy trì nhiều hành vi sử dụng MXH không an toàn. Gần 1/4 sinh viên (23,2%) cho biết họ chưa tìm hiểu kỹ các điều khoản hay bảo mật của từng MXH trước khi quyết định tham gia vào sử dụng MXH. Ngoài ra, có đến 43% sinh viên trong mẫu nghiên cứu cho biết họ không/ chưa đưa ra nguyên tắc cũng như tuân thủ các nguyên tắc về bảo mật tài khoản MXH.
Đồng thời, cũng có đến 39% sinh viên trả lời rằng họ không quan tâm đến kiểm soát hay cài đặt các chế độ riêng tư, khả năng tiếp tiếp cận từ người lạ. Một trong những hành vi có thể dẫn đến những rủi ro và không an toàn trên không gian mạng vẫn tồn tại khá phổ biến ở sinh viên, đó là chia sẻ và sử dụng chung tài khoản MXH cá nhân cùng với bạn/ người yêu: có đến 33,1% tổn số sinh viên trong mẫu nghiên cứu cho biết họ có hành động này.
Kết quả phân tích cũng cho thấy có 2 nhóm hành vi rủi ro có thể dẫn đến mất an toàn trên MXH, trong đó tỉ lệ nam giới có hành vi này cao hơn hẳn so với nữ giới (sự chênh lệch khoảng 8%):
- NTL thường cung cấp tất cả các thông tin cá nhân khi được yêu cầu để ra nhập từng MXH
- NTL không quan tâm nhiều đến kiểm soát hay đặt chế độ riêng tư, khả năng tiếp cận (nhắn tin, gọi điện, tag tên...) ở các MXH mà sinh viên tham gia.
3. Kết luận và một số định hướng giải pháp
Kết quả nghiên cứu cho thấy việc sinh viên dành nhiều thời gian trong ngày sử dụng MXH và dùng một lúc nhiều MXH đã trở thành phổ biến, là xu hướng của thanh niên nói chung và sinh viên hiện nay.
Song hành với việc sử dụng MXH phổ biến, trên 80% sinh viên trong mẫu nghiên cứu đã từng gặp vấn đề về mất an toàn, rủi ro trên MXH, ước tính trung bình một sinh viên đã từng đối mặt gần 3,6 tình huống mất an toàn trên MXH khác nhau. Như vậy, nguy cơ rủi ro, đe doạ về an toàn đối với việc sử dụng MXH trong nhóm sinh viên là rất cao. Nguy cơ này bắt nguồn chủ yếu từ sự chủ quan, chưa chú ý đúng mức đến việc bảo vệ bản thân an toàn trên không gian mạng của nhiều sinh viên.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, bên cạnh việc tăng cường các biện pháp kỹ thuật quản lý sự an toàn trên không gian mạng, nhà trường và tự bản thân sinh viên cần nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ sự an toàn của sinh viên trong các môi trường MXH, cụ thể:
Nhà trường nên liên tục đưa ra những khuyến cáo về sử dụng MXH an toàn đối với sinh viên của trường. Các trường cũng cân nhắc xây dựng chi tiết về hướng dẫn sử dụng MXH an toàn gửi đến sinh viên, thường xuyên cập nhật về những rủi ro mới có thể gặp phải để khuyến cáo sinh viên.
Về phần mình, sinh viên cần dành sự quan tâm đúng mức đến bảo vệ bản thân trên không gian mạng, thiết lập cụ thể hơn cho bản thân về nguyên tắc sử dụng MXH an toàn, hiệu quả phù hợp với nhu cầu, đặc điểm học tập, công việc bản thân. Nguyên tắc sử dụng MXH của sinh viên là, cần xác định rõ giới hạn thời gian, mục đích sử dụng đối với từng MXH cụ thể.
Ngoài ra, sinh viên cũng cần cân nhắc việc cung cấp thông tin quá riêng tư khi tham gia vào các MXH mới, chia sẻ tài khoản MXH với người khác, kiểm soát quyền riêng tư, tìm hiểu kỹ điều khoản, bảo mật của từng MXH trước khi quyết định tham gia vào sử dụng MXH mới cũng như khả năng bảo mật của các MXH đã và đang sử dụng. Việc sử dụng MXH một cách thận trọng sẽ giúp bản thân sinh viên tận dụng được những lợi thế của MXH cho các mục tiêu cá nhân, đồng thời, bảo vệ bản thân an toàn khỏi những rủi ro, rắc rối và ảnh hưởng đến vật chất, tinh thần trên môi trường mạng.
_____________________________________________________
(1) Datareportal và Wearesocial (2024), Digital Việt Nam 2024 – Báo cáo toàn diện về Digital 2024, https://skillking.fpt.edu.vn/tin-tuc/tinh-hinh-digital-viet-nam-2024/, truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2024
(2) Bộ Thông tin và Truyền thông (2023), Bộ Thông tin và Truyền thông quyết liệt ngăn chặn tình trạng lừa đảo trực tuyến, https://mic.gov.vn/bo-tttt-quyet-liet-ngan-chan-tinh-trang-lua-dao-truc-tuyen-197159940.htm, truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2024
(3) Nguyên Anh (2024), Báo động "đỏ" lừa đảo qua mạng, Báo Nhân dân online, https://nhandan.vn/bao-dong-do-lua-dao-qua-mang-post791168.html, truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2024
(4) Quốc hội (2015), Luật An toàn thông tin mạng, https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=183196, truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2024
(5) Thủ tướng chính phủ, 2022, Quyết định phê duyệt Chiến lược An toàn, An ninh mạng quốc gia, chủ động ứng phó với các thách thức từ không gian mạng đến năm 2025, tầm nhìn 2030, tại trang: https://snv.binhdinh.gov.vn/vi/laws/detail/Quyet-dinh-phe-duyet-Chien-luoc-An-toan-An-ninh-mang-quoc-gia-chu-dong-ung-pho-voi-cac-thach-thuc-tu-khong-gian-mang-den-nam-2025-tam-nhin-2030-383/, truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2024
(6) Kuss, DJ, Grifiths, M.D (2011), "Excessive online social networking: Can adolescents become addicted to Facebook?", Education and Health 29, Vol.29 No.4,68-71
Nguồn: Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông điện tử
Bài liên quan
- Giải pháp đẩy mạnh tuyên truyền chuyển đổi số cho các thành viên Liên minh hợp tác xã miền núi phía Bắc
- Thông tin về phòng, chống tội phạm công nghệ cao trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay
- Xu hướng nghiên cứu về tài sản thương hiệu bệnh viện tư và ảnh hưởng của các công cụ truyền thông tiếp thị tích hợp
- Hiện tượng “Di cư niềm tin” truyền thông của sinh viên và đề xuất mô hình “Truyền thông xác thực” cho các trường đại học
- Ảnh hưởng của văn hóa Việt Nam đến tính minh bạch trí tuệ nhân tạo trong quan hệ công chúng
Xem nhiều
-
1
Ứng dụng storytelling trong truyền thông y tế về tình trạng dị tật khe hở môi - vòm miệng
-
2
Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV: củng cố nền tảng, khơi thông động lực, thúc đẩy phát triển bền vững
-
3
Tạp chí điện tử Văn hoá và Phát triển với vai trò bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Mường
-
4
Xu hướng nghiên cứu về tài sản thương hiệu bệnh viện tư và ảnh hưởng của các công cụ truyền thông tiếp thị tích hợp
-
5
Thông tin về phòng, chống tội phạm công nghệ cao trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay
-
6
Bế mạc Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV: Thống nhất cao về những vấn đề lớn, hệ trọng
Liên kết
- Báo điện tử đảng cộng sản việt nam
- Báo nhân dân
- Báo Quân đội nhân dân
- Cổng thông tin điện tử Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia hồ chí minh
- Tạp chí Cộng sản
- Tạp chí Giáo dục lý luận
- Tạp chí Giáo dục và Xã hội
- Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
- Tạp chí Lý luận chính trị
- Tạp chí Nghiên cứu con người
- TẠP CHÍ Nghiên cứu dân tộc
- Tạp chí Người làm báo
- Tạp chí Nội chính
- Tạp chí Quản lý Nhà nước
- Tạp chí Tổ chức Nhà nước
- Tạp chí Tuyên giáo
- Tạp chí Xây Dựng Đảng
- Thư viện số Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Trang thông tin điện tử Hội đồng Lý luận Trung ương
Xây dựng văn hóa liêm chính trong cộng đồng ở Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào - nền tảng xã hội của phòng, chống tham nhũng
Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng, vai trò và hệ thống giải pháp nhằm xây dựng văn hóa liêm chính trong cộng đồng ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Trên cơ sở phân tích - tổng hợp tài liệu thứ cấp, đối chiếu quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng (UNCAC), tư liệu về hoạt động của Cơ quan Thanh tra Nhà nước và Phòng, chống tham nhũng Lào cùng một số nguồn nghiên cứu lý luận, bài viết cho thấy Lào đã từng bước hoàn thiện khung thể chế, tăng cường giáo dục liêm chính và mở rộng truyền thông phòng, chống tham nhũng. Tuy nhiên, việc chuyển hóa nỗ lực thể chế thành chuẩn mực xã hội bền vững trong cộng đồng vẫn còn gặp những rào cản về tiếp cận thông tin, kỹ năng giám sát xã hội, cơ chế bảo vệ người phản ánh, tố cáo và sự liên thông giữa giáo dục, truyền thông với thực thi pháp luật. Từ đó, bài viết đề xuất năm nhóm giải pháp theo hướng gắn xây dựng văn hóa liêm chính với nhà trường, cơ quan công quyền, tổ chức xã hội, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư.
Giải pháp đẩy mạnh tuyên truyền chuyển đổi số cho các thành viên Liên minh hợp tác xã miền núi phía Bắc
Giải pháp đẩy mạnh tuyên truyền chuyển đổi số cho các thành viên Liên minh hợp tác xã miền núi phía Bắc
Chuyển đổi số đang trở thành xu thế tất yếu, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0. Khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam, với đặc thù kinh tế tập thể và mô hình hợp tác xã là phổ biến, đang đối mặt với nhiều thách thức về hạ tầng công nghệ, nhận thức và nhân lực. Để hiện thực hóa chủ trương này, công tác tuyên truyền về chuyển đổi số là bước khởi đầu quan trọng nhằm nâng cao nhận thức và tạo động lực cho các thành viên liên minh hợp tác xã. Bài viết khái quát ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong việc chuyển đổi số, từ đó, đề xuất các giải pháp đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chuyển đổi số cho các thành viên Liên minh Hợp tác xã ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam thời gian tới.
Thông tin về phòng, chống tội phạm công nghệ cao trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay
Thông tin về phòng, chống tội phạm công nghệ cao trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay
Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số và Internet đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều loại hình tội phạm mới xuất hiện, trong đó tội phạm công nghệ cao (CNC) đang trở thành vấn đề nổi bật của an ninh xã hội hiện đại. Trong bối cảnh đó, báo mạng điện tử (BMĐT) giữ vai trò quan trọng trong việc truyền tải thông tin chính thống, cảnh báo thủ đoạn tội phạm và nâng cao nhận thức của công chúng về an toàn thông tin. Bài viết tập trung nghiên cứu hoạt động thông tin về phòng, chống tội phạm công nghệ cao trên báo mạng điện tử Việt Nam, thông qua việc phân tích cơ sở lý luận và khảo sát thực tiễn trên một số báo điện tử tiêu biểu. Từ kết quả nghiên cứu, bài viết đánh giá thực trạng, chỉ ra những vấn đề đặt ra trong hoạt động thông tin, đồng thời đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông về phòng, chống tội phạm công nghệ cao trong bối cảnh truyền thông số hiện nay.
Xu hướng nghiên cứu về tài sản thương hiệu bệnh viện tư và ảnh hưởng của các công cụ truyền thông tiếp thị tích hợp
Xu hướng nghiên cứu về tài sản thương hiệu bệnh viện tư và ảnh hưởng của các công cụ truyền thông tiếp thị tích hợp
Xu hướng nghiên cứu về tài sản thương hiệu bệnh viện tư và ảnh hưởng của các công cụ truyền thông tiếp thị tích hợp đến việc nâng cao tài sản thương hiệu bệnh viện dựa trên tổng hợp từ các nghiên cứu trước đây, phản ánh một quá trình phát triển liên tục cùng với sự lớn mạnh của thị trường y tế tư nhân và sự thay đổi trong hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người dân. Từ chỗ chỉ tập trung vào quảng bá đơn lẻ nhằm nâng cao mức độ nhận biết, các công trình nghiên cứu dần mở rộng theo hướng xem truyền thông tiếp thị tích hợp (IMC) như một triết lý quản trị truyền thông lấy người bệnh làm trung tâm, trong đó, từng công cụ đều có vai trò liên kết và bổ trợ cho nhau để tạo nên giá trị thương hiệu bền vững. Nhìn lại chặng đường này cho thấy các nhà nghiên cứu đã ngày càng chú trọng tới mối quan hệ giữa quảng cáo, quan hệ công chúng, truyền thông số, hoạt động cộng đồng và chăm sóc khách hàng trong việc nâng cao sự tin cậy, cảm nhận chất lượng và lòng trung thành của người bệnh đối với các bệnh viện tư. Chính sự chuyển dịch đó tạo nền tảng quan trọng cho việc tiếp tục hoàn thiện lý luận và thực tiễn về quản trị truyền thông thương hiệu trong lĩnh vực y tế hiện nay.
Hiện tượng “Di cư niềm tin” truyền thông của sinh viên và đề xuất mô hình “Truyền thông xác thực” cho các trường đại học
Hiện tượng “Di cư niềm tin” truyền thông của sinh viên và đề xuất mô hình “Truyền thông xác thực” cho các trường đại học
Bài viết phân tích hiện tượng “Di cư niềm tin” truyền thông của sinh viên thông qua sử dụng phương pháp khảo sát định lượng sinh viên với cỡ mẫu N = 572 và phỏng vấn sâu nhà quản trị. Kết quả cho thấy một nghịch lý quản trị đáng chú ý: việc ưu tiên tối ưu hóa các chỉ số tương tác bề nổi như lượt thích, lượt xem hay các kỹ thuật seeding không những không gia tăng niềm tin mà còn tạo ra phản ứng ngược. Thực trạng này thúc đẩy hành vi “di cư số” khi người học chuyển sang các kênh phi chính thức để tìm kiếm và kiểm chứng thông tin. Phân tích nhân tố khám phá (EFA) và kiểm định Cronbach’s Alpha khẳng định tính minh bạch và sự chân thực của nội dung là những yếu tố có tác động đến cấu trúc niềm tin thương hiệu. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất đề xuất áp dụng mô hình “truyền thông xác thực” nhằm khắc phục bẩy “chỉ số hư danh” và tái thiết niềm tin thương hiệu bền vững trong giáo dục đại học.
llcttt1994dientu@gmail.com
024.38348033
Bình luận