Phát triển nội dung số của cơ quan báo chí trong bối cảnh hiện nay
Sản xuất nội dung số - “trục tác nghiệp” trung tâm của cơ quan báo chí
Tính đến thời điểm đầu năm 2024, Việt Nam đã có tới 78,44 triệu người dùng internet (chiếm 79,1% dân số); 73,3% dân số sử dụng mạng xã hội; 92,7% người dùng internet sử dụng ít nhất một nền tảng mạng xã hội. Những con số này đã trở thành yếu tố quan trọng thúc đẩy nỗ lực sản xuất nội dung số.
Sản xuất nội dung số được hiểu là việc tạo ra nội dung thông tin được thể hiện dưới dạng số hóa, lưu trữ, phân phối trên môi trường mạng, như mạng xã hội (TikTok, YouTube, Facebook, Instagram,...), ứng dụng (app), phần mềm, sách điện tử, báo điện tử, trò chơi trực tuyến... Nội dung số tồn tại dưới nhiều định dạng khác nhau: văn bản (text), hình ảnh tĩnh (still image), hình ảnh động (animation), đồ họa (graphic), phát thanh (radio) và file âm thanh (audio), truyền hình (television) và video, các chương trình tương tác (interactive programs)..., có khả năng thỏa mãn nhu cầu tiếp nhận thông tin đa giác quan của công chúng.
Nội dung số đã trở thành giá trị không thể thiếu trong đời sống văn hóa, tinh thần của mọi công dân; trở thành công cụ kinh doanh, phát triển kinh tế đắc lực của các công ty, doanh nghiệp, tập đoàn hay của những người khởi nghiệp... Chính vì lợi ích và những giá trị đặc biệt do nó đem lại, mà thời gian gần đây, trong lĩnh vực báo chí, sản xuất nội dung số trên mạng xã hội đã trở thành một trong những hoạt động quan trọng tại nhiều cơ quan. Có những tòa soạn đã xem sản xuất nội dung số là “trục tác nghiệp trung tâm”, từ đó, điều chỉnh lại hoạt động, tổ chức lại khu vực nhân sự, đào tạo phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên chất lượng cao, phân bổ tài chính, kinh phí, đầu tư hạ tầng kỹ thuật và công nghệ phù hợp... cho tổng thể tờ báo.
Nội dung số trên mạng xã hội thường được cơ quan báo chí sản xuất theo 2 cách: một là, sản xuất riêng để phân phối trên kênh, nền tảng mạng xã hội; hai là, biên tập, chỉnh sửa các tác phẩm báo chí truyền thống để phân phối trên mạng (Một số cơ quan báo chí còn thực hiện hình thức thứ ba - “di chuyển” nguyên tin, bài, tác phẩm từ nền tảng báo chí lên nền tảng mạng xã hội, tuy nhiên, cách làm này chưa phát huy được hiệu quả vì công chúng mạng xã hội có đặc điểm tâm lý tiếp nhận đặc thù). Nhờ các tính năng của mạng xã hội, mà sản phẩm nội dung số của báo chí cũng có những thế mạnh nhất định: Thứ nhất, được phân phối ngay lập tức, hoàn toàn miễn phí đến công chúng; thứ hai, hình thức sinh động, dễ tiếp nhận; thứ ba, dễ tạo “trend” (xu hướng nổi bật); thứ tư, có tính cá nhân hóa cao độ; thứ năm, diện phủ thông tin không giới hạn; thứ sáu, tăng độ tương tác với công chúng...
Từ những thế mạnh đó, cơ quan báo chí có thể mở rộng thị trường khách hàng, nâng cao hình ảnh, thương hiệu, phát triển kinh tế báo chí số, đồng thời, thực hiện tốt hơn trách nhiệm chính trị, xã hội...
Thách thức đối với sản xuất nội dung số của cơ quan báo chí
Bên cạnh những thuận lợi và cơ hội mới mẻ, sản xuất nội dung số của cơ quan báo chí cũng đang gặp nhiều thách thức, đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, từ cả phương diện khách quan lẫn chủ quan. Nhìn từ phương diện khách quan, sản phẩm nội dung số của cơ quan báo chí đang chịu sự cạnh tranh không lành mạnh bởi nhiều dòng sản phẩm phản văn hóa. Trên mạng xã hội, các thế lực thù địch, các tổ chức phản động đã tạo nên một “mặt trận tin giả”, tin xấu, độc hòng phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, phá hoại an ninh trật tự xã hội. Không ít phần tử cơ hội chính trị, những youtuber, facebooker, tiktoker... tung tin giật gân, tin giả để thu hút lượt like, lượt share.
Cùng với đó, các luồng văn hóa độc hại, các sản phẩm văn hóa ngoại lai trái thuần phong mỹ tục người Việt Nam vẫn hằng ngày hiện diện trên mạng, tác động tiêu cực đến nhận thức, thái độ, hành vi của một bộ phận công chúng, làm suy giảm các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Chính những nội dung “fake”, những sản phẩm giật gân, bất thường, độc lạ, gây tò mò này lại có khả năng lan truyền nhanh hơn tin chính thống, thu hút sự quan tâm, tương tác, bình luận, chia sẻ rất lớn của cộng đồng mạng, thậm chí lọt vào “xu hướng” tìm kiếm, trở thành thách thức không nhỏ đối với các cơ quan báo chí trong việc chiếm lĩnh và định hướng công chúng.
Cùng với đó, dù nội dung số trên mạng xã hội có điểm mạnh là giúp gia tăng tương tác với công chúng, nhưng chính nó cũng lại là điểm yếu, bởi sẽ có rất nhiều bình luận, phản hồi tiêu cực, thậm chí là những bình luận với giọng điệu phản động cố ý đến từ một bộ phận công chúng trong và ngoài nước, ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan báo chí và sự phát triển xã hội.
Từ bình diện tích cực hơn, có thể nhận thấy, dù cố gắng đến mức nào, thì sản phẩm nội dung số của cơ quan báo chí vẫn không thể đa dạng, sinh động, nhiều chiều, nhanh chóng, cụ thể, cá nhân hóa cao độ bằng nội dung số được tạo nên bởi hàng tỷ người dùng mạng xã hội.
Về thách thức chủ quan, đến từ chính cơ quan báo chí. Tại Việt Nam, tính đến hết năm 2023, vẫn còn rất nhiều tòa soạn đứng ngoài xu hướng sản xuất nội dung số. Theo Bộ Chỉ số đánh giá, đo lường mức độ trưởng thành chuyển đổi số báo chí do Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông ký ngày 2/6/2023, một trong những tiêu chí đo mức độ trưởng thành chuyển đổi số báo chí là “cơ quan báo chí phải có các kênh thông tin riêng trên các mạng xã hội như: Facebook, Twitter, YouTube,...”.
Tuy nhiên, theo Kết quả đánh giá mức độ trưởng thành chuyển đổi số báo chí 2023 của Bộ Thông tin và Truyền thông, trong số 882 cơ quan báo chí trung ương và địa phương, chỉ 273 cơ quan tiên phong triển khai đánh giá mức độ trưởng thành chuyển đổi số báo chí; và cũng mới chỉ 60/273/882 (chiếm 6.8%) cơ quan có các kênh thông tin riêng trên các mạng xã hội.
Cơ quan báo chí vẫn còn lãng quên, thờ ơ đứng ngoài công cuộc chuyển đổi số và sản xuất nội dung số, thì báo chí không thể trở thành một trong những lực lượng trên tuyến đầu của các “mặt trận” (dẫn lời của Thủ tướng Phạm Minh Chính trong buổi gặp mặt với lãnh đạo các cơ quan báo chí nhân kỷ niệm 97 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam) cụ thể ở đây là “mặt trận thông tin mạng xã hội”. Đồng nghĩa, báo chí không thể thực hiện tốt sứ mệnh dẫn dắt văn hóa đại chúng, trở thành vũ khí sắc bén của Đảng trong đấu tranh chống lại quan điểm sai trái, thù địch, tin giả, tin xấu trên mạng xã hội.
Bên cạnh đó, năng lực sáng tạo nội dung số của các nhà báo, cơ quan báo chí hiện nay cũng là điều đáng bàn. Lực lượng phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên của hầu hết tòa soạn còn mỏng, lại chưa chuyên trách, thậm chí, chưa được đào tạo về sáng tạo nội dung số, chính là tác nhân cản trở chất lượng sản phẩm. Nhiều nội dung số trên mạng xã hội vẫn không khác gì sản phẩm báo chí truyền thống, vì được copy nguyên vẹn, không qua cắt sửa, biên tập. Cơ quan báo chí cũng chưa đủ nguồn lực tài chính, công nghệ để xây dựng tòa soạn hoạt động theo mô hình hội tụ, đa phương tiện; ứng dụng phần mềm trực tuyến và các nền tảng công nghệ ảo hóa, điện toán đám mây giúp phóng viên, biên tập viên dễ dàng sáng tạo nội dung số mọi lúc, mọi nơi; ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào sản xuất nội dung số, “lọc” bình luận tiêu cực hay nghiên cứu các “tệp” công chúng...
Tìm cách tháo gỡ để phát triển
Sản xuất nội dung số không còn là câu chuyện có nên hay không, mà là việc bắt buộc phải làm cũng như chuyển đổi số là xu thế mà báo chí không thể cưỡng lại được. Nếu các cơ quan báo chí thờ ơ với nội dung số, tất yếu sẽ phải “nhường bước” cho mạng xã hội, bị dẫn dắt bởi mạng xã hội, đồng nghĩa, không thể làm chủ mặt trận tư tưởng, văn hóa.
Do vậy, một trong những yêu cầu cấp bách đặt ra hiện nay là phải tìm cách tháo gỡ để phát triển nội dung số, làm cho sản phẩm này hiện diện đa dạng hơn, bản sắc hơn trên mạng xã hội; làm cho nội dung số trở thành một lực lượng thống nhất, một dòng chảy thông tin chính thống, có sức lan tỏa lớn, chiếm lĩnh không gian mạng.
Trước hết, Quốc hội cần sớm ban hành Luật báo chí truyền thông, trong đó, xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của nhà báo, cơ quan báo chí tham gia sản xuất nội dung số trên mạng xã hội. Bộ Thông tin và Truyền thông cấp chứng nhận đủ điều kiện về an ninh mạng trước khi cấp phép cho cơ quan báo chí xuất bản sản phẩm số, đồng thời, tăng cường quản lý, xử lý vi phạm nội dung số - nếu có.
Về phía Hội Nhà báo Việt Nam, ngôi nhà chung của báo giới cả nước cần xây dựng một Chiến lược nội dung số của cơ quan báo chí, trong đó, xác định rõ bối cảnh, đối tượng, mục tiêu truyền thông; các khu vực thông tin; sự tham gia của các cơ quan báo chí ở từng khu vực thông tin đó. Làm như vậy để đảm báo tính đa dạng về màu sắc thông tin, nhưng nhất quán về văn hóa truyền thông.
Nhìn vào bản đồ nội dung số, cơ quan quản lý nhà nước về báo chí, Hội Nhà báo Việt Nam, các cơ quan chủ quản... đều có thể quản lý, kiểm tra, giám sát, đánh giá hoạt động sản xuất nội dung số một cách dễ dàng, hiệu quả. Hội Nhà báo cũng nên ban hành Tiêu chí văn hóa nội dung số của nhà báo, cơ quan báo chí. Trong đó, khuyến khích mọi nhà báo, cơ quan báo chí tuân thủ Tiêu chí xây dựng cơ quan báo chí văn hóa, người làm báo văn hóa nói chung (do Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Hội Nhà báo Việt Nam, Báo Nhân Dân phát động vào tháng 6/2022); ngoài ra, còn phải tuân thủ thêm các tiêu chí văn hóa nội dung số.
Ví dụ, nhà báo phải có năng lực sáng tạo trên cơ sở thành thạo công nghệ số; có trách nhiệm bảo vệ an ninh thông tin, an ninh mạng, chủ quyền không gian truyền thông mạng quốc gia; có trách nhiệm, nghĩa vụ xây dựng không gian mạng trong sạch, lành mạnh; có kỹ năng xử lý khủng hoảng truyền thông số... Với các cơ quan báo chí, cần chung tay xây dựng một không gian nội dung số chuyên nghiệp, hiện đại,sáng tạo, nhân văn, phát triển bền vững dựa trên nền tảng sức mạnh của báo chí cách mạng và văn hóa nội sinh của đất nước.
Các cơ quan báo chí cần khẩn trương thực hiện mô hình tòa soạn hội tụ, tìm kiếm các nguồn tài chính để xây dựng cơ sở hạ tầng mạng ổn định, ứng dụng các phần mềm hiện đại, đưa sản phẩm lên mạng xã hội. Trách nhiệm của báo chí là phải xây dựng được một hệ sinh thái nội dung số vừa đa dạng, nhiều màu sắc, vừa nhất quán theo nguyên tắc tính chính xác, tính nhân văn, tính dân tộc, tính khuynh hướng, trở thành những địa chỉ tin cậy, yêu mến của công chúng.
Việc xây dựng chiến lược phát triển nội dung số của cơ quan báo chí cũng cần được tính đến. Chỉ có nghiên cứu kỹ thị trường công chúng, lên kế hoạch sản xuất nội dung số một cách chi tiết, triển khai sản xuất theo đúng kế hoạch, phân tích và đánh giá kỹ lưỡng sản phẩm... mới giúp nội dung số đạt được chất lượng tốt.
Về phía nhà báo - chính là tác giả trực tiếp của sản phẩm nội dung số, có vai trò quyết định chất lượng sản phẩm. Do vậy, phẩm chất quan trọng nhất ở họ là năng lực sáng tạo vô tận trên cơ sở tuân thủ pháp luật, đạo đức nghề nghiệp. Mỗi nhà báo phải không ngừng học tập, rèn luyện, bồi đắp tri thức, kỹ năng, để xứng đáng trở thành người khởi xướng, dẫn dắt văn hóa đại chúng trên mạng xã hội./.
Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí điện tử Người làm báo, ngày 24/06/2024
Bài liên quan
- Xu hướng nghiên cứu về tài sản thương hiệu bệnh viện tư và ảnh hưởng của các công cụ truyền thông tiếp thị tích hợp
- Hiện tượng “Di cư niềm tin” truyền thông của sinh viên và đề xuất mô hình “Truyền thông xác thực” cho các trường đại học
- Ảnh hưởng của văn hóa Việt Nam đến tính minh bạch trí tuệ nhân tạo trong quan hệ công chúng
- Truyền thông nội bộ và hình ảnh nữ viên chức Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên số
- Ứng dụng trí tuệ nhân tạo AI trong lĩnh vực phát thanh ở khu vực Tây Nam Bộ: Thực trạng và khuyến nghị
Xem nhiều
-
1
Đổi mới tư duy của Nhà nước trong kỷ nguyên số: Từ quản lý sang quản trị, kiến tạo phát triển
-
2
Giá trị biểu tượng của con ngựa trong văn hóa Việt Nam và ý nghĩa đối với sự phát triển văn hóa đất nước trong kỷ nguyên vươn mình
-
3
Thời cơ và thách thức đối với chính quyền cấp xã sau sáp nhập chính quyền địa phương hai cấp tỉnh Tuyên Quang hiện nay
-
4
Công tác sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay: Thực trạng và giải pháp
-
5
Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên lý luận chính trị ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền hiện nay
-
6
Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra của Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy phường Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội
Liên kết
- Báo điện tử đảng cộng sản việt nam
- Báo nhân dân
- Báo Quân đội nhân dân
- Cổng thông tin điện tử Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia hồ chí minh
- Tạp chí Cộng sản
- Tạp chí Giáo dục lý luận
- Tạp chí Giáo dục và Xã hội
- Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
- Tạp chí Lý luận chính trị
- Tạp chí Nghiên cứu con người
- TẠP CHÍ Nghiên cứu dân tộc
- Tạp chí Người làm báo
- Tạp chí Nội chính
- Tạp chí Quản lý Nhà nước
- Tạp chí Tổ chức Nhà nước
- Tạp chí Tuyên giáo
- Tạp chí Xây Dựng Đảng
- Thư viện số Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Trang thông tin điện tử Hội đồng Lý luận Trung ương
Giới thiệu Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông Số tháng 2 năm 2026
Tháng 2 về không chỉ mang theo những cảm xúc mùa xuân hân hoan đón chào một năm mới, mà còn chào mừng một sự kiện đặc biệt là Kỷ niệm 96 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Xu hướng nghiên cứu về tài sản thương hiệu bệnh viện tư và ảnh hưởng của các công cụ truyền thông tiếp thị tích hợp
Xu hướng nghiên cứu về tài sản thương hiệu bệnh viện tư và ảnh hưởng của các công cụ truyền thông tiếp thị tích hợp
Xu hướng nghiên cứu về tài sản thương hiệu bệnh viện tư và ảnh hưởng của các công cụ truyền thông tiếp thị tích hợp đến việc nâng cao tài sản thương hiệu bệnh viện dựa trên tổng hợp từ các nghiên cứu trước đây, phản ánh một quá trình phát triển liên tục cùng với sự lớn mạnh của thị trường y tế tư nhân và sự thay đổi trong hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người dân. Từ chỗ chỉ tập trung vào quảng bá đơn lẻ nhằm nâng cao mức độ nhận biết, các công trình nghiên cứu dần mở rộng theo hướng xem truyền thông tiếp thị tích hợp (IMC) như một triết lý quản trị truyền thông lấy người bệnh làm trung tâm, trong đó, từng công cụ đều có vai trò liên kết và bổ trợ cho nhau để tạo nên giá trị thương hiệu bền vững. Nhìn lại chặng đường này cho thấy các nhà nghiên cứu đã ngày càng chú trọng tới mối quan hệ giữa quảng cáo, quan hệ công chúng, truyền thông số, hoạt động cộng đồng và chăm sóc khách hàng trong việc nâng cao sự tin cậy, cảm nhận chất lượng và lòng trung thành của người bệnh đối với các bệnh viện tư. Chính sự chuyển dịch đó tạo nền tảng quan trọng cho việc tiếp tục hoàn thiện lý luận và thực tiễn về quản trị truyền thông thương hiệu trong lĩnh vực y tế hiện nay.
Hiện tượng “Di cư niềm tin” truyền thông của sinh viên và đề xuất mô hình “Truyền thông xác thực” cho các trường đại học
Hiện tượng “Di cư niềm tin” truyền thông của sinh viên và đề xuất mô hình “Truyền thông xác thực” cho các trường đại học
Bài viết phân tích hiện tượng “Di cư niềm tin” truyền thông của sinh viên thông qua sử dụng phương pháp khảo sát định lượng sinh viên với cỡ mẫu N = 572 và phỏng vấn sâu nhà quản trị. Kết quả cho thấy một nghịch lý quản trị đáng chú ý: việc ưu tiên tối ưu hóa các chỉ số tương tác bề nổi như lượt thích, lượt xem hay các kỹ thuật seeding không những không gia tăng niềm tin mà còn tạo ra phản ứng ngược. Thực trạng này thúc đẩy hành vi “di cư số” khi người học chuyển sang các kênh phi chính thức để tìm kiếm và kiểm chứng thông tin. Phân tích nhân tố khám phá (EFA) và kiểm định Cronbach’s Alpha khẳng định tính minh bạch và sự chân thực của nội dung là những yếu tố có tác động đến cấu trúc niềm tin thương hiệu. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất đề xuất áp dụng mô hình “truyền thông xác thực” nhằm khắc phục bẩy “chỉ số hư danh” và tái thiết niềm tin thương hiệu bền vững trong giáo dục đại học.
Ảnh hưởng của văn hóa Việt Nam đến tính minh bạch trí tuệ nhân tạo trong quan hệ công chúng
Ảnh hưởng của văn hóa Việt Nam đến tính minh bạch trí tuệ nhân tạo trong quan hệ công chúng
Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI), đặc biệt là AI sinh tạo, đã tối ưu hóa hiệu suất hoạt động quan hệ công chúng (PR) nhưng đặt ra thách thức về tính minh bạch thuật toán. Nghiên cứu này thực hiện tổng quan lý thuyết có hệ thống nhằm phân tích ảnh hưởng của văn hóa Việt Nam đến tính minh bạch AI trong lĩnh vực PR. Kết quả cho thấy minh bạch AI trong PR tập trung vào ba trụ cột: sự tiết lộ, khả năng giải thích và trách nhiệm giải trình. Các giá trị Nho giáo như khoảng cách quyền lực, thể diện (Mianzi) và sự hòa hợp đóng vai trò "bộ lọc" văn hóa, định hình xu hướng tiết lộ có chọn lọc việc sử dụng AI nhằm bảo vệ uy tín chuyên môn. Nghiên cứu đề xuất năm khuyến nghị cho người thực hành PR: thiết lập chính sách quản trị AI nội bộ, áp dụng mô hình minh bạch phân tầng, định vị AI như "trợ lý kỹ thuật số", thiết lập cơ chế kiểm chứng độc lập và xây dựng văn hóa học tập liên tục về đạo đức số.
Truyền thông nội bộ và hình ảnh nữ viên chức Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên số
Truyền thông nội bộ và hình ảnh nữ viên chức Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên số
Trong kỷ nguyên chuyển đổi số, truyền thông nội bộ đóng vai trò chiến lược trong việc kiến tạo và lan tỏa hình ảnh nữ viên chức tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Trên cơ sở tiếp cận truyền thông như một công cụ quản trị và phát triển tổ chức, bài viết chỉ ra sự cần thiết phải chuyển dịch trọng tâm truyền thông nội bộ từ việc chủ yếu tôn vinh các phẩm chất truyền thống sang chủ động xây dựng, khẳng định năng lực trí tuệ, tính chuyên nghiệp và những đóng góp thực chất của nữ viên chức vào sứ mệnh của Học viện. Từ đó, tác giả đề xuất một hệ thống giải pháp đồng bộ, khẳng định truyền thông nội bộ không chỉ góp phần kiến tạo một môi trường làm việc công bằng, bình đẳng, phát huy tối đa tiềm năng của đội ngũ nữ viên chức, mà còn là một đòn bẩy quan trọng thúc đẩy sự phát triển bền vững và nâng cao uy tín của Học viện trong bối cảnh mới.
llcttt1994dientu@gmail.com
024.38348033
Bình luận