Nguồn: Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông điện tử

Nguyễn Đình Nghĩa

Lớp Cao học Quản lý Báo chí – Truyền thông K29.2, Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Xem nhiều

Đổi mới sáng tạo thu hẹp khoảng cách giáo dục vùng sâu, vùng xa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Giáo dục là nền tảng then chốt trong phát triển nguồn nhân lực, thu hẹp bất bình đẳng và thúc đẩy phát triển bền vững quốc gia. Mặc dù Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phổ cập giáo dục và mở rộng cơ hội học tập, song khoảng cách về điều kiện tiếp cận, chất lượng và hiệu quả giáo dục giữa khu vực đô thị và vùng sâu, vùng xa vẫn còn lớn. Trong bối cảnh kỷ nguyên số và chuyển đổi số quốc gia, đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng để giải quyết những thách thức này. Bài viết tiếp cận vấn đề từ góc độ đổi mới sáng tạo trong giáo dục, không chỉ giới hạn ở ứng dụng công nghệ mà còn bao gồm đổi mới tư duy, mô hình tổ chức, cơ chế phối hợp và chính sách quản trị công. Qua đó, bài viết góp phần làm rõ vai trò của đổi mới sáng tạo trong thu hẹp khoảng cách giáo dục, đồng thời đề xuất một số giải pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn của giáo dục vùng sâu, vùng xa ở Việt Nam.

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong truyền hình Việt Nam

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong truyền hình Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số và sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI), truyền hình đang trải qua những biến đổi căn bản về quy trình sản xuất nội dung, quản trị dữ liệu và phương thức tiếp cận công chúng. Bài viết tập trung phân tích quá trình ứng dụng AI trong truyền hình, trên cơ sở kết hợp tiếp cận từ góc độ lý luận kết hợp khảo sát thực tiễn, nhằm làm rõ xu hướng, mức độ triển khai và những vấn đề đặt ra đối với truyền hình Việt Nam hiện nay. Từ việc khái quát kinh nghiệm và xu hướng ứng dụng AI trong truyền hình quốc tế, bài viết chỉ ra vai trò của AI như một công nghệ nền tảng, tác động toàn diện đến chuỗi giá trị truyền hình, từ tự động hóa sản xuất, phân tích dữ liệu khán giả đến cá nhân hóa nội dung và quản trị kho tư liệu số. Trên cơ sở đó, phân tích thực trạng ứng dụng AI trong truyền hình Việt Nam, đặc biệt tại Đài Truyền hình Việt Nam (VTV), với những mô hình thử nghiệm và định hướng phát triển bước đầu.

Thực trạng chuyển đổi số cơ quan báo chí và một số giải pháp (Nghiên cứu trường hợp Báo Đại đoàn kết)

Thực trạng chuyển đổi số cơ quan báo chí và một số giải pháp (Nghiên cứu trường hợp Báo Đại đoàn kết)

Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ và hành vi tiếp nhận thông tin của công chúng đang thay đổi từng ngày, chuyển đổi số (CĐS) trở thành yêu cầu tất yếu đối với các cơ quan báo chí Việt Nam. Không chỉ đơn thuần là ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số đặt ra nhiệm vụ tái cấu trúc quy trình sản xuất, đổi mới mô hình tòa soạn, đa dạng hóa phương thức phân phối nội dung và nâng cao năng lực của đội ngũ làm báo. Từ thực tiễn Báo Đại đoàn kết có thể thấy rõ những nỗ lực mạnh mẽ trong số hóa quy trình biên tập, áp dụng hệ thống CMS mới, phát triển nền tảng đa phương tiện và tăng cường ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong sản xuất nội dung. Tuy nhiên, Báo cũng còn một số hạn chế, khó khăn trong quá trình CĐS. Trên tinh thần đó, bài viết làm rõ thực trạng CĐS cơ quan báo chí qua nghiên cứu trường hợp Báo Đại đoàn kết, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả CĐS ở Báo Đại đoàn kết nói riêng và ở các cơ quan báo chí nói chung hiện nay.

Ngôn ngữ trong tác phẩm báo chí về bình đẳng giới trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay

Ngôn ngữ trong tác phẩm báo chí về bình đẳng giới trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay

Trong bối cảnh xã hội ngày càng đề cao quyền con người, thúc đẩy bình đẳng giới và xóa bỏ định kiến giới trong đời sống, việc nâng cao chất lượng truyền thông về giới trên các nền tảng báo mạng điện tử trở thành một yêu cầu cấp thiết. Báo điện tử với ưu thế về tốc độ, khả năng lan tỏa và sự đa dạng hình thức thể hiện đang giữ vai trò quan trọng trong việc định hướng nhận thức cộng đồng, tác động trực tiếp đến thái độ và hành vi liên quan đến các vấn đề giới. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy, ngôn ngữ trong nhiều tác phẩm báo chí vẫn còn biểu hiện định kiến, gán nhãn và khái quát hóa vai trò giới, từ đó làm giảm hiệu quả truyền thông và vô thức duy trì những khuôn mẫu xã hội cũ. Bài viết này tập trung phân tích ngôn ngữ báo chí trong các tác phẩm về bình đẳng giới trên một số báo điện tử phổ biến ở Việt Nam, chỉ ra những thành công, những hạn chế và đề xuất hệ thống giải pháp nhằm chuẩn hóa ngôn ngữ báo chí, nâng cao chất lượng truyền thông về giới.

Thực trạng đạo đức nghề nghiệp của người làm truyền thông trong doanh nghiệp Việt Nam hiện nay qua mô hình KAB

Thực trạng đạo đức nghề nghiệp của người làm truyền thông trong doanh nghiệp Việt Nam hiện nay qua mô hình KAB

Bài viết này nghiên cứu thực trạng đạo đức nghề nghiệp của 220 người làm truyền thông tại các doanh nghiệp Việt Nam, phân tích qua ba khía cạnh: nhận thức về đạo đức, thái độ đối với đạo đức, và hành vi thực tế trong công việc. Kết quả cho thấy, người làm truyền thông có nhận thức và thái độ khá tốt về đạo đức nghề nghiệp, tuy nhiên, vẫn tồn tại khoảng cách giữa những gì họ biết, những gì họ tin tưởng và những gì họ thực sự làm trong công việc hàng ngày. Đặc biệt, họ còn gặp khó khăn trong việc áp dụng các chuẩn mực quốc tế và đối phó với áp lực từ môi trường doanh nghiệp.

XEM THÊM TIN