Dẫn chương trình tọa đàm, trao đổi trực tiếp trên sóng phát thanh
Càng hiện đại hoá các chương trình phát thanh, chúng ta càng có xu hướng coi trọng lời dẫn và người dẫn đồng thời đầu tư cho khâu dẫn nhiều hơn cả về công sức và trí tuệ.
Dẫn chương trình có hai loại chủ yếu. Loại thứ nhất là dẫn dắt, giới thiệu, kết nối tin bài hay chương trình, một hệ thống chương trình. Dẫn ở đây là một phần tách riêng, độc lập so với tác phẩm. Loại thứ hai là dẫn với tư cách là một thành phần tham gia vào tác phẩm như trong toạ đàm, trao đổi, giao lưu, cầu truyền thanh. Trong những trường hợp này, khâu dẫn nhằm tạo ra tác phẩm và người dẫn phải chịu trách nhiệm xử lý các tình huống, phỏng vấn khách mời, điều khiển cuộc nói chuyện…
Trên thực tế, lời dẫn quan trọng trong mọi trường hợp và nhiều nhà báo đã khẳng định: không có người dẫn, lời dẫn thì không có phát thanh trực tiếp. Theo tôi, ý kiến này chỉ đúng với loại dẫn thứ hai, tức dẫn với tư cách là một thành phần tham gia vào tác phẩm hay chương trình. Còn cách thứ nhất, lời dẫn như một thứ gia vị, và mặc dù nhiều khi không có gia vị thì món ăn chẳng ngon, như nhà báo Lê Huy Nam - Ban thời sự - đài Tiếng nói Việt Nam đã nói: “Lời dẫn có vị trí đứng giữa một phóng sự xuất sắc và nút tắt đài”, nhưng chúng ta có thể khẳng định rằng tin bài quan trọng hơn lời dẫn trong trường hợp này bởi nội dung thông tin được chuyển tải trong tin bài mới là cái hồn của chương trình, quyết định chương trình.
Đối với việc dẫn cho các chương trình đàm luận hay cho các cầu truyền thanh trực tiếp, ở đây, chúng ta thấy vai trò của lời dẫn quan trọng tới mức nó quyết định sự thành công hay thất bại của một chương trình, nếu như không có nó sẽ không thể có được những chương trình trực tiếp hấp dẫn, có sức lan toả mạnh mẽ. Khi được giao dẫn một chương trình như vậy, người dẫn phải bỏ ra rất nhiều công sức và tâm huyết bởi họ hiểu rõ chất lượng của chương trình phụ thuộc vào mình. Để đảm nhận tốt công việc, người dẫn thường đầu tư thời gian tìm hiểu thông tin xung quanh chủ đề, làm việc với khách mời, viết kịch bản. liên hệ chặt chẽ với đạo diễn và các biên tập viên khi thực hiện chương trình… Họ luôn chủ động bởi thực sự công việc rất nặng nề và đòi hỏi phải luôn làm chủ chương trình, làm chủ bản thân.
Khâu dẫn với tư cách là một thành phần tham gia vào tác phẩm có ba vai trò, mục đích cơ bản. Đó là:
Dẫn nhằm khai thác thông tin: như thông tin phóng viên trong phòng thu, người dẫn nắm lấy các cơ hội khai thác thông tin. Khác với việc dẫn dắt nhằm giới thiệu, kết nối các tác phẩm, khâu dẫn ở đây còn tạo ra tác phẩm. Người dẫn lấy thông tin từ các vị khách mời, từ những gì họ thu được trước đó, đi đến những phần nội dung chưa được khám phá, tìm hiểu ý nghĩa của chúng. Và nhiệm vụ của người dẫn ở đây trước hết là khai thác được thông tin, cung cấp cho thính giả những thông tin mà họ cần. Bằng việc bám sát mục tiêu đã được đề ra, người dẫn với những kỹ năng dẫn dắt của mình mang lại cho chương trình một khối lượng thông tin đủ tạo ra sức thuyết phục và làm thoả mãn yêu cầu của thính giả. Lời dẫn có trau chuốt hay không, người dẫn có phong cách tự nhiên, có duyên hay không, những điều đó có thể quan trọng, nhưng điều cuối cùng đọng lại là nó mang lại lượng thông tin như thế nào? Nhà báo Larry King của kênh truyền hình CNN thường “tỏ ra ngốc nghếch” khi dẫn chương trình nhưng những thông tin mà ông đem lại luôn làm công chúng hài lòng đến bất ngờ. Bởi vậy, thông tin là chức năng, vai trò đầu tiên mà khâu dẫn đảm nhiệm trong các chương trình toạ đàm, trao đổi, giao lưu.
Khâu dẫn, người dẫn có vai trò đầu tiên điều khiển cuộc nói chuyện: chính khâu dẫn định dạng cho chương trình. Dẫn nhằm đến việc tạo ra một logic, trình tự nào đó theo ý của những người sản xuất. Bằng việc đưa ra câu hỏi, người dẫn định hướng cho khách mời nói vấn đề gì, nói bao lâu. Và người dẫn chính là người phải chịu trách nhiệm về việc phân bố trong phòng thu, chịu trách nhiệm cả cho việc nói gì, đưa ra vấn đề gì và vào lúc nào. Nếu người dẫn chuyển hướng thì chương trình sẽ thay đổi so với dự kiến ban đầu. Người dẫn bao giờ cũng là người điều khiển để chương trình đi theo trọng tâm và đạt được mục tiêu đề ra. Vai trò điều khiển cũng thể hiện ở chỗ người dẫn phải xử lý mọi tình huống xảy ra sao cho đảm bảo cả chất lượng nội dung và hình thức chương trình.
Khâu dẫn tạo một cái mạch cho tác phẩm hay chương trình: mạch tạo ra cái cớ cho chương trình bắt đầu và tiếp tục cho đến cuối cùng. Các mạch đó có liên tục, tự nhiên và hấp dẫn hay không là phụ thuộc vào khâu dẫn. Những người dẫn luôn phải tính đến điều này khi họ đảm nhận chương trình. Chất keo dính mà khâu dẫn đem lại cho tác phẩm, cho chương trình là một thứ thiết yếu để đạt đến mục tiêu chung bởi từng thông tin riêng lẻ không đủ sức nói lên bản chất của vấn đề. Hơn nữa, tính tự nhiên của chương trình hay tác phẩm là rất quan trọng bởi có tự nhiên thì mới tạo được sự tin cậy và gây thích thú. Dẫn bám sát mục tiêu không có nghĩa là tuân thủ nguyên xi kịch bản viết sẵn. Thông tin nhiều khi tiến triển bất ngờ. Người dẫn cần phải để cho chương trình đi theo mạch tự nhiên thì thông tin mới đạt đến sự chân thực và độ sâu của nó.
Với những đặc điểm, vai trò trong khâu dẫn như vậy, các chương trình toạ đàm, giao lưu, trao đổi thực ra rất kén chọn người dẫn. Không phải cứ người có giọng nói tốt hay ăn nói bóng bẩy là có thể dẫn được. Tạo nên những chương trình có độ sâu, có sức nặng thông tin là một điều khó, nhưng đó là điều mà chúng ta luôn hướng tới.
Kỹ năng quan trọng nhất của người dẫn chương trình toạ đàm, trao đổi là kỹ năng phỏng vấn. Người dẫn luôn dùng câu hỏi để đi đến cái đích của mình. Trong phỏng vấn thì điều quan trọng là làm sao để người trả lời nói ra thông tin chính xác, đầy đủ và trúng vấn đề. Một người dẫn giỏi phải là một người phỏng vấn giỏi.
Kỹ năng thứ hai là điều khiển. Trong toạ đàm, trao đổi, người dẫn thường phải làm việc với không chỉ một người. Cuộc nói chuyện đó nhiều khi như là một cuộc chơi mà người dẫn và khách mời đều phải tham gia tích cực vào cuộc tìm kiếm thông tin và nó nhất thiết phải có người điều khiển. Nếu không điều khiển tốt thì thông tin cần không tìm được mà còn dẫn đến cháy thời gian. Điều khiển ở đây chính là việc hướng khách mời đến việc bộc lộ những thông tin theo đúng chủ đề, trong một khoảng thời gian nào đó làm sao để về đích không nhanh hơn mà cũng không chậm hơn thời gian của chương trình. Ai nói lúc nào và nói về điều gì là tuỳ thuộc vào sự điều khiển cuả người dẫn. Điều khiển cũng bao hàm kỹ năng xử lý tình huống linh hoạt và sáng tạo để về đích đạt kết quả mong muốn. Và không quên một trợ thủ đắc lực giúp người dẫn đạt hiệu quả cao khi dẫn các chương trình toạ đàm, trao đổi trực tiếp là tri thức, vốn sống, sự chuẩn bị kỹ lưỡng về thông tin và thái độ, tư cách.
Người dẫn cũng phải chú ý đến kỹ năng động viên, khích lệ những người tham gia thể hiện mình và qua đó cung cấp nhiều thông tin tới thính giả. Khi khách mời lúng túng thì người dẫn giúp họ bình tĩnh lại. Khi khách mời cao hứng, nói dài, đi xa nội dung cần bàn thì người dẫn kéo họ trở lại. Hoặc khi khách mời cố tình che dấu thì người dẫn phải vừa kiên quyết vừa mềm dẻo để họ nói ra thông tin. Điều quan trọng mà người dẫn luôn hướng tới là thính giả. Họ chỉ hoàn thành nhiệm vụ khi mà những trông đợi của thính giả được đáp ứng.
Đối với người dẫn toạ đàm, trao đổi thì việc cảm nhận thời gian là rất quan trọng. Gần như họ cần phải luôn nắm được khoảng thời gian mà mình đang đứng tại đó. Cần phải đi thêm bao nhiêu, dành bao nhiêu cho phần này, cho khách mời này… Khi đứng trong chương trình, người dẫn luôn nhận được sự hỗ trợ của các thành viên khác trong kíp sản xuất chương trình nhưng nếu thiếu đi khả năng cảm nhận thời gian, cuộc nói chuyện vẫn rất dễ lúng túng, đầu thừa đuôi thiếu, thiên lệch khoảng thời gian dành cho mỗi người tham gia, cho từng phần nội dung và có thể không đạt được mục tiêu do thời gian dành cho chương trình đã hết.
Dẫn chương trình, đặc biệt là dẫn các chương trình toạ đàm, giao lưu trực tiếp là một công việc khó nhưng chúng ta sẽ có thể hoàn thành xuất sắc công việc này với tình yêu nghề nghiệp và sự rèn luyện không ngừng./.
Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Báo chí và Tuyên truyền số tháng 5.2006
Bài liên quan
- Chiến lược truyền thông về du lịch Halal trên thế giới và gợi mở cho truyền thông Việt Nam
- Tạp chí điện tử Văn hoá và Phát triển với vai trò bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Mường
- Ứng dụng storytelling trong truyền thông y tế về tình trạng dị tật khe hở môi - vòm miệng
- Chiến dịch truyền thông về phòng chống bạo lực trẻ em tại Việt Nam: hiệu quả, thách thức và bài học kinh nghiệm
- Thực trạng và một số giải pháp nâng cao chất lượng thông tin về sức khỏe tâm thần trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay
Xem nhiều
-
1
Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV: củng cố nền tảng, khơi thông động lực, thúc đẩy phát triển bền vững
-
2
Tạp chí điện tử Văn hoá và Phát triển với vai trò bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Mường
-
3
Xu hướng nghiên cứu về tài sản thương hiệu bệnh viện tư và ảnh hưởng của các công cụ truyền thông tiếp thị tích hợp
-
4
Thông tin về phòng, chống tội phạm công nghệ cao trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay
-
5
Bế mạc Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV: Thống nhất cao về những vấn đề lớn, hệ trọng
-
6
Kiên định tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh giữ gìn “hồn dân tộc”, đón nhận “trí tuệ nhân loại” trong kỷ nguyên số
Liên kết
- Báo điện tử đảng cộng sản việt nam
- Báo nhân dân
- Báo Quân đội nhân dân
- Cổng thông tin điện tử Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia hồ chí minh
- Tạp chí Cộng sản
- Tạp chí Giáo dục lý luận
- Tạp chí Giáo dục và Xã hội
- Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
- Tạp chí Lý luận chính trị
- Tạp chí Nghiên cứu con người
- TẠP CHÍ Nghiên cứu dân tộc
- Tạp chí Người làm báo
- Tạp chí Nội chính
- Tạp chí Quản lý Nhà nước
- Tạp chí Tổ chức Nhà nước
- Tạp chí Tuyên giáo
- Tạp chí Xây Dựng Đảng
- Thư viện số Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Trang thông tin điện tử Hội đồng Lý luận Trung ương
Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV: củng cố nền tảng, khơi thông động lực, thúc đẩy phát triển bền vững
Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV vừa qua đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, không chỉ bởi những nội dung quan trọng được thảo luận mà còn bởi những định hướng lớn mang tính chiến lược đối với sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới. Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp, khó lường; trong nước, quá trình đổi mới đang bước sang một giai đoạn phát triển cao hơn với yêu cầu ngày càng lớn về chất lượng, hiệu quả và tính bền vững, những quyết sách được Trung ương đưa ra tại Hội nghị lần này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.
Chiến lược truyền thông về du lịch Halal trên thế giới và gợi mở cho truyền thông Việt Nam
Chiến lược truyền thông về du lịch Halal trên thế giới và gợi mở cho truyền thông Việt Nam
Bài viết tổng thuật các chiến lược truyền thông du lịch Halal tại ba điểm đến tiêu biểu trên thế giới là Malaysia, Indonesia và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm và gợi mở cho truyền thông Việt Nam. Nghiên cứu cho thấy 5 nguyên tắc cốt lõi của truyền thông du lịch Halal hiệu quả, bao gồm: xây dựng hệ thống chứng nhận Halal đáng tin cậy, lồng ghép du lịch Halal vào thương hiệu quốc gia, truyền thông đa ngôn ngữ, đa văn hóa, tiếp thị theo mùa lễ Hồi giáo và ưu tiên kênh kỹ thuật số cùng nội dung do người dùng tạo. Giá trị thực tiễn của nghiên cứu thể hiện ở việc các khuyến nghị có thể hỗ trợ cơ quan quản lý và doanh nghiệp du lịch Việt Nam xây dựng chiến lược marketing hiệu quả, qua đó phát triển phân khúc du lịch Halal đầy tiềm năng.
Tạp chí điện tử Văn hoá và Phát triển với vai trò bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Mường
Tạp chí điện tử Văn hoá và Phát triển với vai trò bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Mường
Văn hóa dân tộc Mường (ở tỉnh Hòa Bình, nay là Phú Thọ) là di sản văn hóa quý báu của dân tộc, không chỉ lưu giữ nhiều lớp trầm tích văn hóa, mà còn là nguồn lực cho phát triển bền vững ở địa phương… Việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Mường, do vậy, có sự cộng đồng trách nhiệm của chính quyền địa phương, các cơ quan quản lý văn hóa, người dân, báo chí truyền thông, trong đó gồm cả Tạp chí điện tử Văn hóa và Phát triển (vanhoavaphattrien.vn). Thời gian qua, Tạp chí đã xây dựng chuyên mục về Di sản - Du lịch, đăng nhiều tác phẩm về văn hóa Mường, góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di sản. Tuy nhiên, vẫn còn đó một số hạn chế. Nghiên cứu này sẽ nhận diện thực trạng vai trò của Tạp chí thông qua phương pháp phân tích nội dung thông điệp, từ đó, thảo luận về một số vấn đề liên quan, góp phần giúp Tạp chí nâng cao hơn nữa vai trò truyền thông di sản.
Ứng dụng storytelling trong truyền thông y tế về tình trạng dị tật khe hở môi - vòm miệng
Ứng dụng storytelling trong truyền thông y tế về tình trạng dị tật khe hở môi - vòm miệng
Nghiên cứu này khảo sát tiềm năng của Phương pháp kể chuyện (Storytelling) như một công cụ hiệu quả trong truyền thông y tế về tình trạng dị tật khe hở môi - vòm miệng (KHM - VM), dựa trên nền tảng “khung lý thuyết kể chuyện như Hero's Journey” (Campbell, 1949) và “StoryBrand Framework” (Miller, 2017) để xây dựng thông điệp và định hình sản phẩm truyền thông thử nghiệm. Trẻ em mắc KHM - VM được xem là trung tâm của câu chuyện và hệ thống y tế là người dẫn dắt đáng tin cậy. Thông qua phỏng vấn nhóm với chuyên gia, phụ huynh và công chúng, nghiên cứu đánh giá chất lượng thông tin/câu chuyện (cấu trúc câu chuyện, tính chân thực, tính liền mạch) và hiệu quả tác động của câu chuyện (niềm tin, thiện cảm và ý định hành vi), qua đó khẳng định phương pháp kể chuyện được đánh giá cao về khả năng truyền tải thông điệp nhân văn, củng cố niềm tin vào hành trình điều trị và gia tăng thiện cảm của công chúng.
Chiến dịch truyền thông về phòng chống bạo lực trẻ em tại Việt Nam: hiệu quả, thách thức và bài học kinh nghiệm
Chiến dịch truyền thông về phòng chống bạo lực trẻ em tại Việt Nam: hiệu quả, thách thức và bài học kinh nghiệm
Bạo lực trẻ em là một trong những vấn đề xã hội nghiêm trọng toàn cầu, trong đó có Việt Nam. Truyền thông giữ vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa và nâng cao nhận thức cộng đồng. Nghiên cứu này phân tích hai chiến dịch tiêu biểu: “Cái ôm ấm áp” của ChildFund (trong các năm 2022, 2023) và “Trái tim xanh” của UNICEF (trong các năm 2020, 2022), nhằm đánh giá hiệu quả truyền thông, xác định giá trị thông điệp, cách thức triển khai, đồng thời rút ra bài học và khuyến nghị cho các chiến dịch tương lai. Nghiên cứu kết hợp giữa phương pháp phân tích nội dung, thống kê dữ liệu và khảo sát xã hội học với 221 mẫu tại Hà Nội. Kết quả cho thấy, cả hai chiến dịch đều tạo được hiệu quả tích cực trong truyền tải thông điệp, song vẫn tồn tại hạn chế về phạm vi tiếp cận và tính bền vững trong thay đổi hành vi. Nghiên cứu đề xuất cần đa dạng hóa kênh truyền thông, thiết kế thông điệp rõ ràng và tăng cường hợp tác liên ngành để đạt hiệu quả lâu dài.
llcttt1994dientu@gmail.com
024.38348033
Bình luận