Đồng bằng sông Cửu Long - thành tựu và những thách thức
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là phần cuối cùng của khu vực sông Mê Kông với tổng diện tích tự nhiên gần 4 triệu ha, gồm 13 tỉnh Hậu Giang, Long An, TP. Cần Thơ, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, dân số trên 17 triệu người (tính đến tháng 9.2004), chiếm gần 14% dân số cả nước. Đây là vùng đồng bằng phì nhiêu nhất nước ta, đồng thời cũng là một trong những đồng bằng châu thổ rộng và phì nhiêu ở Đông Nam Á và thế giới. Hàng năm ĐBSCL làm ra khoảng 50% sản lượng lúa cả nước, 90% lượng gạo xuất khẩu, 70% lượng trái cây và 66% sản lượng thuỷ sản. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân năm giai đoạn 2001-2003 đạt 9,6%, cao hơn mức bình quân chung của cả nước.
Về sản xuất nông nghiệp, trong những năm gần đây, mặc dù giá cả thị trường lên xuống bất ổn, dịch cúm gia cầm gây tổn thất lớn, nhưng toàn vùng ĐBSCL vẫn tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Theo thống kê, năm 2003, giá trị sản xuất nông nghiệp của toàn vùng (giá so sánh 1994) đạt khoảng 44,3 ngàn tỷ đồng, lương thực có hạt bình quân đầu người đạt 1.046,3 kg/người. Ước tính năm 2004 diện tích lúa toàn vùng đạt trên 3.785 ngàn ha, tổng sản lượng lúa đạt trên 17,7 triệu tấn, trong đó một số tỉnh đạt sản lượng cao như An Giang 2,5 triệu tấn, Đồng Tháp gần 2,3 triệu tấn. Ngoài cây lúa, các loại cây trồng khác nhau như cây màu lương thực có hạt, cây chất bột có củ, rau đậu các loại, cây công nghiệp ngắn ngày… đều tăng cả về diện tích và sản lượng. Năm 2004 ước tính diện tích cây màu lương thực có hạt của toàn vùng ĐBSCL gieo trồng được trên 14 ngàn ha, sản lượng đạt trên 79 ngàn tấn; diện tích cây chất bột có củ đạt trên 19 ha, tăng 17,5% so với cùng kỳ năm trước, sản lượng thu hoạch trên 203 ngàn tấn, tăng 18,2%. Đặc biệt ĐBSCL là vùng trồng cây ăn trái lớn nhất cả nước có diện tích trên 208 ngàn ha với nhiều chủng loại nổi tiếng trong và ngoài nước. Chăn nuôi của vùng cũng tiếp tục phát triển, theo kết quả điều tra 1.8.2004, đàn lợn của vùng có trên 3,6 triệu con, tăng 7,07% so cùng kỳ, đàn bò có trên 419 ngàn con, tăng 26,56%.
Vượt qua vụ kiện bán phá giá tôm và cá da trơn của Mỹ, ngành thuỷ sản ĐBSCL tiếp tục phát triển. Năm 2003, giá trị sản xuất thủy sản của vùng (tính theo giá so sánh 1994) đạt 18,8 ngàn tỷ đồng, sản lượng đạt trên 1,4 triệu tấn. Đặc biệt phong trào đánh bắt hải sản trên biển, nuôi tôm cá vùng ngập mặn ven bờ được phát huy và mở rộng. Trong 9 tháng đầu năm 2004 toàn vùng đã đánh bắt được trên 880 tấn thủy hải sản các loại.
Về sản xuất công nghiệp, với lợi thế nguồn nguyên liệu nông sản sẵn có, thị trường tiêu thụ ổn định, sản xuất công nghiệp ĐBSCL tăng trưởng khá. Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn vùng 9 tháng 2004 đạt trên 30 ngàn tỷ đồng, tăng 16,7% so cùng kỳ. Nhiều tỉnh thành có mức tăng trưởng khá như Long An tăng 4,4%, Trà Vinh 28%, Cần Thơ 19,1%. Công nghiệp chế biến thủy sản, lương thực, thực phẩm cũng phát triển khá, góp phần làm tăng thêm giá trị hàng nông sản xuất khẩu.
Tính chung toàn vùng, năm 2004 tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt 2,5 tỷ USD. Ngoài các mặt hàng truyền thống là lương thực, thực phẩm, năm 2004 các tỉnh, thành ĐBSCL đã xuất được hàng thủ công mỹ nghệ, hàng dệt may. Thị trường xuất khẩu cũng được mở rộng sang châu Âu, châu Đại Dương, Đông Bắc Á, Châu Phi.
Về đầu tư phát triển, tổng vốn đầu tư phát triển khu vực Nhà nước địa phương quản lý 9 tháng năm 2004 của toàn vùng đạt trên 6,4 ngàn tỷ đồng, trong đó chủ yếu thực hiện bằng các nguồn vốn ngân sách nhà nước 4,2 ngàn tỷ đồng, vốn vay 1,9 ngàn tỷ đồng và vốn tự có của các doanh nghiệp đạt khoảng 387 tỷ đồng.
Du lịch sinh thái trên địa bàn ĐBSCL cũng đã được chú ý đầu tư tôn tạo và ngày càng có nhiều hoạt động hấp dẫn thu hút du khách trong và ngoài nước. Nhiều trung tâm thương mại, chợ được xây dựng. Các tỉnh có đường biên giới với Campuchia như Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang đã chú ý khai thác lợi thế vùng biên và các cửa khẩu, làm cho hoạt động xúc tiến thương mại ngày càng phát triển.
Ngoài việc tập trung đầu tư phát triển kinh tế, ĐBSCL cũng đã chú trọng xây dựng phát triển cơ cấu hạ tầng. Một số đoạn đường, các tuyến quốc lộ đã và đang được nâng cấp, các công trình thuỷ lợi được khởi công, đáp ứng một phần nhu cầu thoát lũ, tưới tiêu nước phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Bên cạnh đó, việc xây dựng cụm tuyến dân cư và nhà ở dân cư vùng thường xuyên ngập lũ đã được triển khai. Tính đến nay, ĐBSCL đã triển khai tôn cao nền nhà cho trên 680 ngàn cụm tuyến dân cư.
Tuy nhiên, những thành tựu vừa qua của ĐBSCL chưa thực sự tương xứng với tiềm năng của vùng cũng như từng địa phương và điều đáng lưu ý là còn nhiều mặt tụt hậu so với các vùng, miền khác. Thể hiện ở chỗ, tăng trưởng kinh tế tuy đạt cao hơn mức bình quân chung cả nước, nhưng do điểm xuất phát thấp nên mức sống bình quân đầu người chưa cao, đặc biệt có một bộ phận dân cư ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc, đời sống còn rất khó khăn. Tỷ lệ hộ nghèo khá cao, năm 2000 số hộ nghèo chiếm 25,2% (trên 264 ngàn hộ), đến năm 2004 tuy đã giảm (7,34%) nhưng vẫn còn 18,4% (khoảng 180 ngàn hộ). Trình độ dân trí thấp, số xã, phường, thị trấn hoàn thành phổ cập cấp II chỉ chiếm gần 30% so với tổng số xã, phường, thị trấn của toàn vùng.
Hộ nghèo nhiều, thanh niên lao động đông, các cơ sở sản xuất ít, dẫn đến tình trạng lực lượng thanh niên thất nghiệp cao… Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và các phương tiện phục vụ cho phát triển kinh tế vừa thiếu, vừa không đồng bộ. Toàn vùng không có bến cảng, sân bay quốc tế làm cho ĐBSCL như bị tách biệt với xu thế hội nhập trong nước và quốc tế, do đó tuy có khối lượng hàng hoá nông sản lớn nhất nước nhưng chủ yếu tiêu thụ thô, giá thành thấp. Điều này cho thấy một hiện trạng, sự phát triển của ĐBSCL ở thế khá biệt lập, chưa có sự gắn kết chặt chẽ, trực tiếp với các vùng khác của đất nước và với quốc tế. Ngay bản thân sự phát triển nội bộ của vùng cũng thiếu đồng bộ, không tương xứng giữa các lĩnh vực, giữa các tỉnh, thành.
Việc đầu tư và huy động các nguồn lực khác cho phát triển còn ít lại thiếu tập trung. Một hạn chế rõ của ĐBSCL là vấn đề thu hút đầu tư nước ngoài rất thấp, chỉ chiếm khoảng 5% tổng số vốn đầu tư xã hội của toàn vùng. Bên cạnh đó, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của ĐBSCL, của từng vùng còn chậm, trì trệ. Tăng trưởng kinh tế chủ yếu chỉ dựa vào lương thực và thuỷ sản, tỷ trọng công nghiệp trong GDP còn thấp, chiếm dưới 30%. Công nghiệp ĐBSCL lại chủ yếu là công nghiệp chế biến, chi phí cao, không tạo được sức cạnh tranh…. Để khắc phục tình trạng này, theo các chuyên gia kinh tế, ĐBSCL cần có quy hoạch phát triển tổng thể và hệ thống của toàn vùng.
Cuối tháng 11 năm 2004, tại TP. Cần Thơ, một hội thảo với quy mô lớn, quy tụ hơn 150 nhà khoa học đã được tổ chức với chủ đề “vì sự phát triển ĐBSCL“ tập hợp các ý kiến nhằm tạo cơ sở để vạch ra chiến lược phát triển cho cả vùng. Nhiều ý kiến tại hội thảo đã bàn đến vấn đề con người, nguồn nhân lực có ý nghĩa quyết định sự thành bại của chiến lược phát triển bền vững ĐBSCL. Hiện tại, ĐBSCL có khoảng 80% lao động chưa qua đào tạo, do đó cần có chiến lược đào tạo, mở nhiều cơ sở đào tạo hơn, nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ giảng dạy để nâng cao tay nghề hơn nữa cho lao động. Song song với đó cần đưa lao động ra làm việc ngoài tỉnh, ngoài vùng, nhất là những vùng có nhiều khu công nghiệp.
Vấn đề thu hút đầu tư để phát triển, xây dựng cơ sở hạ tầng, nhất là giao thông đường bộ và hệ thống cảng nhằm tạo bước đột phá cho sự phát triển trong vùng cũng được các đại biểu đề cập. Theo kế hoạch, năm 2005 trên địa bàn ĐBSCL sẽ triển khai nâng cấp quốc lộ 1 đoạn Cần Thơ - Năm Căn, 17 cầu quốc lộ 1, cầu Cần Thơ, mở rộng quốc lộ 1 đoạn Trung Lương – Mỹ Thuận. Đến năm 2010 sẽ hình thành 4 trục dọc chính nối vùng ĐBSCL với vùng Đông Nam bộ, nâng cấp 4 tuyến đường thuỷ chủ yếu tuyến TP. Hồ Chí Minh – Hà Tiên, TP. Hồ Chí Minh – Năm Căn, TP. Hồ Chí Minh – Hà Tiên qua Đồng Tháp Mười và tuyến sông ven biển; cải tạo đường tàu biển trong vùng, nâng cấp 4 cảng hàng không chủ yếu của vùng là Cần Thơ, Rạch Giá, Phú Quốc, Cà Mau. Để ngành thuỷ sản ĐBSCL phát triển bền vững, nhiều ý kiến tập trung và được triển khai quy hoạch các khu công nghiệp, chế biến thuỷ sản có chất lượng cao; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sau thu hoạch, tăng cường kiểm soát chất lượng nguyên liệu, giảm thất thoát sau thu hoạch; phát triển vùng nuôi phù hợp với túi chứa hệ sinh thái; xây dựng thương hiệu thuỷ sản ĐBSCL…. Bên cạnh đó, các đại biểu cũng đề xuất nhiều ý kiến về vấn đề cần có một cơ quan quy hoạch phát triển chung cho cả vùng; vấn đề “Sống chung với lũ và kiểm soát lũ…” Ngoài những thành tựu đạt được, những thách thức đối với ĐBSCL còn lớn, do đó đòi hỏi các tỉnh, thành trong vùng phải nỗ lực phấn đấu hơn nữa, tập trung đầu tư tạo nên động lực mới với những giải pháp khả thi hơn để vực dậy tiềm năng to lớn của từng địa phương, quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ, mục tiêu mà Đảng, Chính phủ giao cho vùng Tây Nam bộ là: Phát huy mọi nguồn lực, phấn đấu đến năm 2010 phát triển kinh tế – xã hội ngang bằng với các vùng miền khác trong cả nước, trở thành vùng kinh tế trọng điểm quốc gia, an ninh quốc phòng đảm bảo, giữ vững ổn định chính trị - xã hội.
_________________________
Bài đăng trên Tạp chí Báo chí và Tuyên truyền số 2 (tháng 3+4).2005
Thanh Hương
Bài liên quan
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc trong Báo cáo Chính trị Đại hội XIV của Đảng
- Thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay
- Thành ủy Hải Phòng lãnh đạo phát triển kinh tế biển hiện nay: Thực trạng và giải pháp
- Một số rào cản khi xây dựng văn hóa công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tại Việt Nam*
- Phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay: Thực trạng và giải pháp
Xem nhiều
-
1
Ứng dụng storytelling trong truyền thông y tế về tình trạng dị tật khe hở môi - vòm miệng
-
2
Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV: củng cố nền tảng, khơi thông động lực, thúc đẩy phát triển bền vững
-
3
Tạp chí điện tử Văn hoá và Phát triển với vai trò bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Mường
-
4
Xu hướng nghiên cứu về tài sản thương hiệu bệnh viện tư và ảnh hưởng của các công cụ truyền thông tiếp thị tích hợp
-
5
Bế mạc Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV: Thống nhất cao về những vấn đề lớn, hệ trọng
-
6
Thông tin về phòng, chống tội phạm công nghệ cao trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay
Liên kết
- Báo điện tử đảng cộng sản việt nam
- Báo nhân dân
- Báo Quân đội nhân dân
- Cổng thông tin điện tử Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia hồ chí minh
- Tạp chí Cộng sản
- Tạp chí Giáo dục lý luận
- Tạp chí Giáo dục và Xã hội
- Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
- Tạp chí Lý luận chính trị
- Tạp chí Nghiên cứu con người
- TẠP CHÍ Nghiên cứu dân tộc
- Tạp chí Người làm báo
- Tạp chí Nội chính
- Tạp chí Quản lý Nhà nước
- Tạp chí Tổ chức Nhà nước
- Tạp chí Tuyên giáo
- Tạp chí Xây Dựng Đảng
- Thư viện số Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Trang thông tin điện tử Hội đồng Lý luận Trung ương
Cơ sở lý luận và thực tiễn về Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc trong Báo cáo Chính trị Đại hội XIV của Đảng
Bài báo phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xác lập “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam” trong Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng, bài báo làm rõ tính tất yếu khách quan, nội hàm và các đặc trưng cơ bản của kỷ nguyên vươn mình trong bối cảnh mới. Từ việc tổng kết gần 40 năm đổi mới, phân tích những thành tựu, thời cơ và thách thức đan xen hiện nay, bài viết khẳng định việc xác lập kỷ nguyên vươn mình không chỉ phản ánh bước phát triển mới trong tư duy chiến lược của Đảng, mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng công tác lãnh đạo, quản lý và truyền thông chính trị, góp phần thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững ở Việt Nam.
Cơ sở lý luận và thực tiễn về Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc trong Báo cáo Chính trị Đại hội XIV của Đảng
Cơ sở lý luận và thực tiễn về Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc trong Báo cáo Chính trị Đại hội XIV của Đảng
Bài báo phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xác lập “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam” trong Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng, bài báo làm rõ tính tất yếu khách quan, nội hàm và các đặc trưng cơ bản của kỷ nguyên vươn mình trong bối cảnh mới. Từ việc tổng kết gần 40 năm đổi mới, phân tích những thành tựu, thời cơ và thách thức đan xen hiện nay, bài viết khẳng định việc xác lập kỷ nguyên vươn mình không chỉ phản ánh bước phát triển mới trong tư duy chiến lược của Đảng, mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng công tác lãnh đạo, quản lý và truyền thông chính trị, góp phần thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững ở Việt Nam.
Thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay
Thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay
Thực hành dân chủ cơ sở giữ vai trò quan trọng trong xây dựng nông thôn mới, góp phần phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, huy động nguồn lực xã hội và nâng cao hiệu quả quản lý ở cơ sở. Bài viết làm rõ một số vấn đề lý luận về thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới, phân tích thực trạng triển khai với những kết quả đạt được và những hạn chế còn tồn tại. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất giải pháp phát huy dân chủ cơ sở, đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay.
Thành ủy Hải Phòng lãnh đạo phát triển kinh tế biển hiện nay: Thực trạng và giải pháp
Thành ủy Hải Phòng lãnh đạo phát triển kinh tế biển hiện nay: Thực trạng và giải pháp
Phát triển kinh tế biển có vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quốc gia, tạo việc làm, nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm an ninh quốc phòng, bảo vệ chủ quyền biển đảo và khai thác bền vững. Bài viết làm rõ thực trạng Thành ủy Hải Phòng lãnh đạo phát triển kinh tế biển qua những kết quả đạt được cũng như hạn chế còn tồn tại; từ đó, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này thời gian tới.
Một số rào cản khi xây dựng văn hóa công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tại Việt Nam*
Một số rào cản khi xây dựng văn hóa công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tại Việt Nam*
Sau gần 40 năm thực hiện đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu lớn về kinh tế - xã hội, trong đó văn hóa công vụ (VHCV) đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Tại cấp cơ sở, VHCV không chỉ phản ánh tinh thần phục vụ nhân dân mà còn quyết định mức độ tin cậy của xã hội đối với chính quyền địa phương. Tuy nhiên, thực tế, việc xây dựng và duy trì VHCV trong đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC) cấp cơ sở vẫn đang đối mặt với nhiều rào cản, xuất phát từ yếu tố con người, môi trường tổ chức, cũng như hệ thống quản lý và giám sát công vụ. Bài viết này trả lời câu hỏi: “Hoạt động xây dựng VHCV của đội ngũ CBCC cấp cơ sở tại việt Nam đang gặp những rào cản gì?”. Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp chính sách thúc đẩy đổi mới VHCV phù hợp với bối cảnh tái cấu trúc bộ máy Nhà nước.
llcttt1994dientu@gmail.com
024.38348033
Bình luận