Khủng hoảng truyền thông hay không, tùy theo ứng xử?
Đa dạng khủng hoảng truyền thông
Một trong những cuộc khủng hoảng truyền thông dai dẳng và tốn nhiều giấy mực nhất trong năm vừa qua là “con ruồi” Tân Hiệp Phát. Không khó để giải mã nguồn cơn của cuộc khủng hoảng này, bởi họ hoàn toàn không được lòng của báo giới và cả công chúng trên mạng xã hội. Các doanh nghiệp lựa chọn trường phái PR dựa trên quan điểm quản trị sẽ chú trọng tính nhân văn, quan tâm đến con người, trong quá trình ứng xử với khủng hoảng truyền thông. Ngược lại, doanh nghiệp này lựa chọn sự thắng thua và lợi ích của doanh nghiệp làm cơ sở ứng xử nên đã vấp phải làn sóng công kích vô cùng mạnh mẽ.
Với năng lực tư duy, tầm nhìn, khả năng tiếp cận nguồn tin và cả xu hướng đạo đức khác nhau, mỗi cá nhân trên mạng, đặc biệt là trên các nền tảng truyền thông xã hội như Facebook, Twitter, sẽ có những cách nhìn và diễn giải hoàn toàn khác nhau về một sự vật, hiện tượng hoặc con người nào đó. Chính cách nhìn hạn hẹp, đôi khi thiển cận, phiến diện của một nhóm cá nhân có thể dẫn đến những khủng hoảng truyền thông vô cùng to lớn đối với các doanh nghiệp. Nguy hại hơn nữa, truyền thông chính thống cũng ít nhiều bị ảnh hưởng bởi các cuộc tranh cãi trên mạng xã hội, bị cuốn vào dòng chảy hỗn loạn này.
Đơn cử một sự kiện gần đây là việc khai trương hệ thống cáp treo lên đỉnh Fansipan của Tập đoàn Sun Group. Trong khi một phần lớn người dân hồ hởi đón nhận dịch vụ này với cơ hội được chiêm ngưỡng nóc nhà Đông Dương lần đầu tiên trong cuộc đời, điều mà trước đây, với điều kiện sức khoẻ hoặc tài chính họ không làm được, thì một bộ phận khác lên án tác động đến thiên nhiên, cảnh quan nguyên thuỷ và các điều kiện xã hội khác đối với người dân và dịch vụ du lịch mạo hiểm v.v.. Thực chất, không có đúng hay sai trong cuộc tranh luận “vô tiền khoáng hậu” này, bởi mỗi bên đều chỉ nhìn thấy một mặt của vấn đề, phù hợp với lợi ích riêng của họ hoặc hệ giá trị mà họ tin tưởng. Tuy nhiên, những bài viết, bình luận tiêu cực đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh của tập đoàn này.
Dường như, với mạng xã hội, doanh nghiệp dễ bị tổn thương hơn nhiều. Có 2 tình huống có thể xảy ra, hoặc là, những vấn đề của doanh nghiệp, cá nhân, nếu có, dễ dàng bị hàng triệu “tờ báo” cá nhân mổ xẻ, thay vì có thể được kiểm soát cẩn trọng qua hệ thống báo chí chính thống như trước đây; hoặc là, truyền thông xã hội thổi phồng, thậm chí bịa đặt, vu khống, làm ảnh hưởng uy tín và hình ảnh của doanh nghiệp. Điều nguy hiểm là, với bản chất hời hợt, dễ bị kích động và lôi kéo của đám đông trên mạng, các thông tin tiêu cực được phát tán với tốc độ chóng mặt.
Các doanh nghiệp không chú trọng truyền thông chiến lược, không chú trọng xây dựng hình ảnh tích cực bền vững, là những doanh nghiệp dễ bị tổn thương hơn cả. Điểm đặc trưng của các doanh nghiệp này là, với những mối quan hệ đặc biệt, họ chỉ giải quyết các sự vụ cụ thể khi gặp phải các thông tin tiêu cực trên báo chí, cách phổ biến nhất là can thiệp gỡ bài. Tuy nhiên, thủ pháp “gỡ bài” là “con dao hai lưỡi”. Thông tin càng bị can thiệp, gỡ bỏ nhiều thì mối nghi vấn về tính minh bạch của thương hiệu càng cao, dẫn đến sự mất dần niềm tin của cộng đồng. Vingroup là một doanh nghiệp lớn, có nhiều sản phẩm chất lượng và hấp dẫn, nhưng vẫn không thể giải quyết được cuộc khủng hoảng liên quan đến Safari Phú Quốc, ngay cả khi phần lớn thông tin tiêu cực trên mạng xã hội là thiếu chính xác. Sự im lặng của báo chí chính thống bị dân mạng hiểu thành sự can thiệp, che giấu thông tin, và tin đồn càng có cơ hội phát triển. Nguyên nhân là, lâu nay Vingroup không tập trung xây dựng hình ảnh qua chiến lược PR bài bản, mà họ cho rằng, chỉ cần làm ra sản phẩm tốt là đủ. Đây là bài học của hầu hết các doanh nghiệp lớn.
Ứng xử với truyền thông trong khủng hoảng
Khi khủng hoảng truyền thông nổ ra, không nhiều thì ít, doanh nghiệp đều bị tổn thất nặng nề về hình ảnh và uy tín. Cách tốt nhất để xử lý khủng hoảng là đừng để cho nó xảy ra. Muốn vậy, ngay từ đầu, các doanh nghiệp phải có một chiến lược PR chuyên nghiệp bài bản làm nền tảng. Có nhiều trường phái PR, trong đó hầu hết các tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam sử dụng PR như các công cụ tuyên truyền, quảng cáo hoặc marketing, bán hàng. Nhưng PR trước hết phải xuất phát từ quan điểm quản trị doanh nghiệp, theo đó, việc xây dựng hình ảnh doanh nghiệp được yêu mến trong cộng đồng, xã hội một cách bền vững là then chốt.
Quan điểm quản trị doanh nghiệp bền vững cũng sẽ chi phối phương thức ứng xử của doanh nghiệp đối với báo giới và truyền thông nói chung trước khủng hoảng. Quan điểm này đề cao hai yếu tố quan trọng, đó là tôn trọng sự thật và nhân văn. Có nghĩa là, bất luận doanh nghiệp sai hay đúng, thái độ tôn trọng và bảo vệ con người, trước hết là bảo vệ khách hàng phải là triết lý mọi hành động trong khủng hoảng truyền thông.
Thái độ cầu thị này sẽ làm cho báo giới có cảm tình với doanh nghiệp, ít nhất là không tạo ra hố ngăn cách giữa doanh nghiệp với các nhà báo. Ở trường hợp Tân Hiệp Phát, nếu họ đặt sức khoẻ người tiêu dùng lên trên hết, hành động ngăn chặn mọi khả năng người tiêu dùng tiếp xúc với sản phẩm có lỗi, thì chắc chắn họ sẽ được báo chí ủng hộ. Chiến lược quan trọng không kém là sự thật, là minh bạch hoá thông tin trong khủng hoảng truyền thông. Không có gì nguy hiểm hơn là sự mập mờ, khó hiểu, tệ hơn là sự bất hợp tác của một bộ phận doanh nghiệp đối với báo chí. Càng xây dựng hàng rào ngăn cách với báo chí và truyền thông, tin đồn càng dữ dội và phản ứng của cộng đồng sẽ dồn theo chiều hướng xấu.
Từ triết lý sự thật trong quan điểm quản trị, doanh nghiệp phải nhanh chóng mở kênh đối thoại với báo chí, chủ động cung cấp thông tin với thái độ cầu thị và công khai. Đặc biệt, khi doanh nghiệp tin tưởng là mình đúng thì nguyên tắc này lại càng quan trọng.
Ngày nay, những luận điểm như là “hữu xạ tự nhiên hương” hay “né tránh truyền thông” đã trở nên lỗi thời. Điều này đặc biệt đúng đối với các doanh nghiệp lớn, đã phát triển. Làm tốt công việc của mình chưa phải là tất cả, mà chính tình cảm yêu mến, chấp nhận và vị tha của công chúng đối với doanh nghiệp mới là lý do để doanh nghiệp tồn tại bền vững. Hình ảnh đó chỉ có được khi doanh nghiệp có một chiến lược PR đúng đắn, ngay từ ban đầu hình thành./.
_______________
Bài đăng trên Tạp chí Người Làm Báo số 385 - tháng 3.2016
Lê Quốc Vinh
Nguồn: http://nguoilambao.vn
Bài liên quan
- Các góc độ nghiên cứu quản trị tài chính cơ quan báo chí trong bối cảnh chuyển đổi số
- Xây dựng mô hình hợp tác giữa cơ sở đào tạo báo chí, truyền thông và doanh nghiệp
- Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực báo chí - truyền thông trong kỷ nguyên chuyển đổi số
- Vai trò của báo chí trong truyền thông về rối loạn phổ tự kỷ
- Quản lý dự án truyền thông: đặc trưng, mô hình và nguyên tắc hoạt động
Xem nhiều
-
1
Phiên bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng
-
2
Vai trò của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Lào trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay
-
3
Bế mạc Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam
-
4
Đổi mới tư duy của Nhà nước trong kỷ nguyên số: Từ quản lý sang quản trị, kiến tạo phát triển
-
5
Tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Long trong công tác bình đẳng giới hiện nay
-
6
Đổi mới sáng tạo thu hẹp khoảng cách giáo dục vùng sâu, vùng xa Việt Nam trong kỷ nguyên mới
Liên kết
- Báo điện tử đảng cộng sản việt nam
- Báo nhân dân
- Báo Quân đội nhân dân
- Cổng thông tin điện tử Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia hồ chí minh
- Tạp chí Cộng sản
- Tạp chí Giáo dục lý luận
- Tạp chí Giáo dục và Xã hội
- Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
- Tạp chí Lý luận chính trị
- Tạp chí Nghiên cứu con người
- TẠP CHÍ Nghiên cứu dân tộc
- Tạp chí Người làm báo
- Tạp chí Nội chính
- Tạp chí Quản lý Nhà nước
- Tạp chí Tổ chức Nhà nước
- Tạp chí Tuyên giáo
- Tạp chí Xây Dựng Đảng
- Thư viện số Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Trang thông tin điện tử Hội đồng Lý luận Trung ương
Vai trò của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Lào trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay
Bài viết nghiên cứu vai trò của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị trong bối cảnh hội nhập quốc tế, tập trung vào trường hợp nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào (CHDCND Lào). Thông qua phương pháp phân tích tài liệu, so sánh kinh nghiệm giữa Lào và Việt Nam, nghiên cứu làm rõ bốn vai trò chủ yếu của giảng viên lý luận chính trị: (1) lực lượng trung tâm trong đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ; (2) lực lượng xung kích bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; (3) nhà nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn và tham mưu chính sách; (4) tấm gương sáng về phẩm chất, đạo đức cách mạng. Kết quả nghiên cứu góp phần khẳng định vai trò trung tâm đa diện của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị đối với sự nghiệp cách mạng. Đồng thời, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị giai đoạn mới.
Các góc độ nghiên cứu quản trị tài chính cơ quan báo chí trong bối cảnh chuyển đổi số
Các góc độ nghiên cứu quản trị tài chính cơ quan báo chí trong bối cảnh chuyển đổi số
Chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc mô hình hoạt động và cách thức tạo lập nguồn lực của các cơ quan báo chí, đặt ra những yêu cầu mới đối với tổ chức và vận hành tòa soạn, đặc biệt ở phương diện quản trị tài chính. Sự suy giảm nguồn thu truyền thống, yêu cầu tự chủ và áp lực gia tăng chi phí đầu tư công nghệ đang tác động trực tiếp đến khả năng duy trì chất lượng nội dung và thực hiện nhiệm vụ chính trị của báo chí. Trước tình hình đó, nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu, bàn luận về vấn đề này. Tổng quan cho thấy, các nghiên cứu hiện nay chủ yếu tiếp cận vấn đề từ góc độ kinh tế báo chí, mô hình tài chính hoặc cơ chế chính sách, trong khi các phân tích đặt quản trị tài chính ở cấp độ quản trị nội bộ vẫn còn hạn chế. Thực tiễn này cho thấy yêu cầu phải tiếp tục nghiên cứu về xu hướng tích hợp quản trị, tổ chức hoạt động tòa soạn và các yếu tố tài chính trong bối cảnh chuyển đổi số báo chí hiện nay.
Xây dựng mô hình hợp tác giữa cơ sở đào tạo báo chí, truyền thông và doanh nghiệp
Xây dựng mô hình hợp tác giữa cơ sở đào tạo báo chí, truyền thông và doanh nghiệp
Trong kỷ nguyên số, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ và phương tiện truyền thông kỹ thuật số đã đặt ra yêu cầu cấp thiết cho các trường đại học trong việc đổi mới mô hình đào tạo nói chung, ngành truyền thông nói riêng. Tuy nhiên, giữa chương trình giảng dạy và nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp vẫn tồn tại khoảng cách, khiến nhiều sinh viên ra trường thiếu kỹ năng nghề nghiệp, khó thích ứng với thị trường lao động. Nghiên cứu này đề xuất mô hình hợp tác giữa cơ sở đào tạo báo chí, truyền thông và doanh nghiệp nhằm xây dựng hệ sinh thái đào tạo gắn với thực tiễn. Trên cơ sở kết quả khảo sát và phân tích mô hình thành công trong và ngoài nước, đề tài xây dựng khung hợp tác để rút ngắn khoảng cách giữa lý thuyết và thực hành, nâng cao năng lực nghề nghiệp cho sinh viên. Đồng thời, tạo tiền đề cho các cơ sở đào tạo xây dựng chiến lược đào tạo nhân lực truyền thông chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu trong thời đại số.
Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực báo chí - truyền thông trong kỷ nguyên chuyển đổi số
Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực báo chí - truyền thông trong kỷ nguyên chuyển đổi số
Kỷ nguyên chuyển đổi số đang đặt ra những yêu cầu mới và toàn diện đối với nguồn nhân lực báo chí - truyền thông. Trên tinh thần đó, bài viết sẽ đi sâu phân tích những yêu cầu toàn diện mà kỷ nguyên chuyển đổi số đặt ra đối với nguồn nhân lực báo chí - truyền thông, đánh giá thực trạng năng lực đội ngũ hiện nay ở nước ta, từ đó đề xuất các giải pháp căn cơ nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, hướng tới kiến tạo thế hệ nhà báo “đa năng, đa nhiệm”, làm chủ công nghệ và giữ vững bản lĩnh chính trị trong kỷ nguyên số.
Vai trò của báo chí trong truyền thông về rối loạn phổ tự kỷ
Vai trò của báo chí trong truyền thông về rối loạn phổ tự kỷ
Bài viết sử dụng cách tiếp cận truyền thông vì sự phát triển và thuyết kiến tạo xã hội nhằm phân tích vai trò của báo chí trong truyền thông về rối loạn phổ tự kỷ (ASD). Nghiên cứu đối sánh thực trạng truyền thông quốc tế (chuyển dịch từ mô hình y tế sang đa dạng thần kinh) với thực tiễn tại Việt Nam. Kết quả cho thấy báo chí đã góp phần nâng cao nhận thức nhưng vẫn định khung ASD chủ yếu là vấn đề y tế hoặc gánh nặng gia đình, dẫn đến định kiến và kỳ thị kéo dài. Người tự kỷ và gia đình vắng bóng tiếng nói, trong khi giới chuyên môn chiếm ưu thế và ít ý kiến từ cơ quan nhà nước. Định khung thông tin tác động khiến công chúng kỳ vọng người tự kỷ phải hòa nhập hơn là kêu gọi cộng đồng điều chỉnh. Báo chí nên cải thiện cách đưa tin theo mô hình xã hội về khuyết tật, đề cao tiếng nói của người trong cuộc và giảm thiểu giật gân. Bài viết đề xuất ba vai trò trọng tâm là Kiến tạo chính sách, Trao quyền tiếng nói và Cung cấp thông tin nhân văn, nhằm thúc đẩy nhận thức và chính sách hỗ trợ bền vững.
llcttt1994dientu@gmail.com
024.38348033
Bình luận