Phẩm cách người làm báo với báo chí dữ liệu
Báo chí dữ liệu không đơn thuần chỉ là một thể loại hay hình thức báo chí, mà còn đóng vai trò kết nối các loại hình báo chí khác nhau với nhau, tương tác lẫn nhau và chi phối lẫn nhau. Vai trò của báo chí dữ liệu trên thế giới ngày càng tăng, bởi ba nguyên nhân chính.
Thứ nhất, nguồn thông tin được báo chí xử lý và cần thiết cho hoạt động của báo chí ngày càng lớn, đa dạng và pha tạp cả về nguồn thông tin lẫn nội dung và chất lượng được hiểu theo mức độ hàm lượng sự thật trong thông tin. Ở đây, báo chí dữ liệu vừa thực hiện sứ mệnh báo chí khi tạo nên những sản phẩm báo chí đặc thù cho Báo chí dữ liệu, lại vừa như thể “sơ chế” thông tin phục vụ cho những loại hình báo chí khác.
Thứ hai, nhu cầu và đòi hỏi của người dân và công chúng được báo chí phục vụ đã và vẫn tiếp tục thay đổi rất cơ bản, sâu sắc và mạnh mẽ. Yêu cầu đặt ra cho báo chí trên phương diện này không chỉ cung cấp thông tin đơn thuần, mà phải xử lý thông tin sâu rộng hơn, không chỉ có nhanh chóng và kịp thời, khách quan và đúng đắn mà còn phải sàng lọc và cô đọng hóa theo nhiều phương diện khác nhau, cũng như với đánh giá và đưa ra phân tích riêng một cách khách quan và thuyết phục bằng lập luận và chứng cứ, từ đó gợi mở và định hướng nhận thức cho công chúng. Trong chừng mực nhất định, có thể nói, báo chí dữ liệu có thể đáp ứng yêu cầu này hiệu quả hơn những loại hình báo chí khác.
Thứ ba, tin giả (Fake news) hiện đã trở thành một trong những thách thức lớn nhất đối với mức độ đáng được tin cậy và tín nhiệm, hiệu quả và ảnh hưởng của báo chí nói chung. Báo chí dữ liệu với những thế mạnh đặc thù của nó có thể đóng vai trò không chỉ rất quan trọng mà còn quyết định trong cuộc chiến của thế giới báo chí chống tin giả.
Cũng chính vì thế, báo chí dữ liệu đặt ra những đòi hỏi rất cao về trình độ nghiệp vụ chuyên môn, về mức độ mẫn cảm chính trị và đặc biệt về phẩm cách của tất cả những ai liên quan đến báo chí, từ phía quản lý của nhà nước về báo chí đến những người làm báo.
Mối quan hệ giữa người làm báo và báo chí dữ liệu có những nét đặc thù riêng. Bảo đảm tính khách quan, chân thật, trung thực và nhân văn thuộc về những nguyên tắc cơ bản của báo chí. Thông tin và giáo dục thuộc về những chức năng nhiệm vụ cơ bản của báo chí. Trong báo chí dữ liệu, người làm báo lại càng phải lưu tâm nhiều hơn và coi trọng đặc biệt hơn những điều này. Chính trên phương diện dữ liệu với những đặc tính, đặc thù của nó, sai sót, nhầm lẫn và bị đánh lừa trong thu thập, xử lý và sử dụng dữ liệu dễ xảy ra hơn.
Báo chí dữ liệu đòi hỏi người làm báo phải có cách tiếp cận linh hoạt và cầu thị, biện chứng chứ không sơ cứng với dữ liệu. Trong thời đại thông tin và báo chí dữ liệu, một thông tin mới, hay một dữ liệu mới, cho dù chỉ là nhỏ, cũng vẫn có thể làm thay đổi bản chất, diễn biến, tác động và hệ luỵ. Vì thế, báo chí dữ liệu luôn “mở” chứ không khép kín, luôn liên tục và tiếp nối chứ không gián đoạn hay kết thúc. Người làm báo vì thế phải vận động cùng với dòng chảy của dữ liệu, phải luôn sẵn sàng cho dữ liệu mới dẫn dắt đến những nhận thức mới, kết quả phân tích đánh giá mới và từ đó sáng tạo nên những sản phẩm báo chí mới.
Báo chí dữ liệu đặt ra những điều kiện và tiêu chí riêng về chuyên môn mà người làm báo phải học để có được, áp dụng thường xuyên và cụ thể. Sản phẩm của báo chí dữ liệu có nét chung như mọi sản phẩm báo chí khác, nhưng có đặc thù riêng buộc người làm báo phải thuần thục cách xử lý chung và tìm kiếm được cho mình cách xử lý riêng, cụ thể ở xử lý và sử dụng dữ liệu như thế nào với hình thức và theo phương pháp nào để phục vụ cho mục đích nào, ở cách thức sử dụng dữ liệu làm luận cứ, ở cấu trúc và nội dung bảng biểu dữ liệu, ở chú thích và kết luận từ dữ liệu.
Trong hoạt động báo chí nói chung và đặc biệt trong báo chí dữ liệu, người làm báo luôn đối mặt trực tiếp với thách thức tìm ra sự thật, dám thể hiện sự thật, bảo vệ sự thật và trung thành với sự thật. Người làm báo luôn phải đấu tranh quyết liệt với sự cám dỗ của sự hời hợt và sao nhãng khi dữ liệu quá khổng lồ và biến động nhanh chóng, với sự tinh vi và quỷ quyệt của những kẻ chủ trương thao túng dữ liệu và làm giả dữ liệu, phải đối đầu thường xuyên với sự cám dỗ của đồng tiền và với sự áp đặt từ phía công quyền.
Báo chí dữ liệu đòi hỏi người làm báo phải không ngừng học hỏi về nghiệp vụ chuyên môn, tăng cường khả năng lao động sáng tạo và trình độ áp dụng những thành quả phát triển mới nhất của công nghệ số và công nghệ thông tin. Không quyết tâm và cầu thị cũng như không làm chủ được những kỹ nghệ chuyên môn liên quan thì người làm báo không thể trụ vững, tự tin và chinh phục được thế giới báo chí dữ liệu.
Có thể thấy được báo chí dữ liệu buộc người làm báo luôn phải làm giàu thêm nhận thức và kinh nghiệm cũng như hoàn thiện cách làm báo của chính mình. Câu ngạn ngữ: “Sai một ly, đi một dặm” đặc biệt ứng nghiệm trong báo chí dữ liệu và là lời nhắc nhở, cảnh báo thường trực đối với người làm báo./.
___________
Bài đăng trên tạp chí Người Làm Báo điện tử ngày 29.10.2019
Lũng Nhai
Nguồn: http://nguoilambao.vn
Bài liên quan
- Chiến lược truyền thông về du lịch Halal trên thế giới và gợi mở cho truyền thông Việt Nam
- Tạp chí điện tử Văn hoá và Phát triển với vai trò bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Mường
- Ứng dụng storytelling trong truyền thông y tế về tình trạng dị tật khe hở môi - vòm miệng
- Chiến dịch truyền thông về phòng chống bạo lực trẻ em tại Việt Nam: hiệu quả, thách thức và bài học kinh nghiệm
- Thực trạng và một số giải pháp nâng cao chất lượng thông tin về sức khỏe tâm thần trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay
Xem nhiều
-
1
Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV: củng cố nền tảng, khơi thông động lực, thúc đẩy phát triển bền vững
-
2
Tạp chí điện tử Văn hoá và Phát triển với vai trò bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Mường
-
3
Kiên định tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh giữ gìn “hồn dân tộc”, đón nhận “trí tuệ nhân loại” trong kỷ nguyên số
-
4
Cơ sở lý luận và thực tiễn về Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc trong Báo cáo Chính trị Đại hội XIV của Đảng
-
5
Thông tin về phòng, chống tội phạm công nghệ cao trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay
-
6
Bế mạc Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV: Thống nhất cao về những vấn đề lớn, hệ trọng
Liên kết
- Báo điện tử đảng cộng sản việt nam
- Báo nhân dân
- Báo Quân đội nhân dân
- Cổng thông tin điện tử Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia hồ chí minh
- Tạp chí Cộng sản
- Tạp chí Giáo dục lý luận
- Tạp chí Giáo dục và Xã hội
- Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
- Tạp chí Lý luận chính trị
- Tạp chí Nghiên cứu con người
- TẠP CHÍ Nghiên cứu dân tộc
- Tạp chí Người làm báo
- Tạp chí Nội chính
- Tạp chí Quản lý Nhà nước
- Tạp chí Tổ chức Nhà nước
- Tạp chí Tuyên giáo
- Tạp chí Xây Dựng Đảng
- Thư viện số Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Trang thông tin điện tử Hội đồng Lý luận Trung ương
Hợp tác Việt Nam - Lào trong bảo đảm an toàn giao thông đường bộ: nhìn từ so sánh pháp luật
Bảo đảm an toàn giao thông đường bộ là vấn đề gắn trực tiếp với quyền được an toàn của con người, năng lực quản trị nhà nước và chất lượng phát triển bền vững. Đối với Việt Nam và Lào, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết khi kết nối vận tải xuyên biên giới và hội nhập ASEAN ngày càng mở rộng. Bài viết phân tích cơ sở của hợp tác Việt Nam - Lào về an toàn giao thông đường bộ trên nền tảng so sánh pháp luật và chính sách của hai nước. Trên cơ sở phương pháp nghiên cứu định tính, phân tích tài liệu và so sánh pháp luật, bài viết chỉ ra rằng Việt Nam hiện có mức độ hệ thống hóa pháp luật cao hơn, đặc biệt sau khi Luật Đường bộ năm 2024, Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024 và Nghị định số 168/2024/NĐ-CP có hiệu lực; trong khi đó, Lào vẫn chủ yếu vận hành trên nền Luật giao thông đường bộ và Luật vận tải đường bộ sửa đổi năm 2012, kết hợp với Chiến lược quốc gia về an toàn giao thông đường bộ giai đoạn 2021-2030 và Kế hoạch hành động 2021-2025. Từ kết quả so sánh, bài viết đề xuất định hướng liên kết chính sách giữa hai nước theo hướng hài hòa chuẩn mực pháp lý, kết nối dữ liệu quản lý và củng cố cơ chế phối hợp trong khuôn khổ song phương và ASEAN.
Chiến lược truyền thông về du lịch Halal trên thế giới và gợi mở cho truyền thông Việt Nam
Chiến lược truyền thông về du lịch Halal trên thế giới và gợi mở cho truyền thông Việt Nam
Bài viết tổng thuật các chiến lược truyền thông du lịch Halal tại ba điểm đến tiêu biểu trên thế giới là Malaysia, Indonesia và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm và gợi mở cho truyền thông Việt Nam. Nghiên cứu cho thấy 5 nguyên tắc cốt lõi của truyền thông du lịch Halal hiệu quả, bao gồm: xây dựng hệ thống chứng nhận Halal đáng tin cậy, lồng ghép du lịch Halal vào thương hiệu quốc gia, truyền thông đa ngôn ngữ, đa văn hóa, tiếp thị theo mùa lễ Hồi giáo và ưu tiên kênh kỹ thuật số cùng nội dung do người dùng tạo. Giá trị thực tiễn của nghiên cứu thể hiện ở việc các khuyến nghị có thể hỗ trợ cơ quan quản lý và doanh nghiệp du lịch Việt Nam xây dựng chiến lược marketing hiệu quả, qua đó phát triển phân khúc du lịch Halal đầy tiềm năng.
Tạp chí điện tử Văn hoá và Phát triển với vai trò bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Mường
Tạp chí điện tử Văn hoá và Phát triển với vai trò bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Mường
Văn hóa dân tộc Mường (ở tỉnh Hòa Bình, nay là Phú Thọ) là di sản văn hóa quý báu của dân tộc, không chỉ lưu giữ nhiều lớp trầm tích văn hóa, mà còn là nguồn lực cho phát triển bền vững ở địa phương… Việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Mường, do vậy, có sự cộng đồng trách nhiệm của chính quyền địa phương, các cơ quan quản lý văn hóa, người dân, báo chí truyền thông, trong đó gồm cả Tạp chí điện tử Văn hóa và Phát triển (vanhoavaphattrien.vn). Thời gian qua, Tạp chí đã xây dựng chuyên mục về Di sản - Du lịch, đăng nhiều tác phẩm về văn hóa Mường, góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di sản. Tuy nhiên, vẫn còn đó một số hạn chế. Nghiên cứu này sẽ nhận diện thực trạng vai trò của Tạp chí thông qua phương pháp phân tích nội dung thông điệp, từ đó, thảo luận về một số vấn đề liên quan, góp phần giúp Tạp chí nâng cao hơn nữa vai trò truyền thông di sản.
Ứng dụng storytelling trong truyền thông y tế về tình trạng dị tật khe hở môi - vòm miệng
Ứng dụng storytelling trong truyền thông y tế về tình trạng dị tật khe hở môi - vòm miệng
Nghiên cứu này khảo sát tiềm năng của Phương pháp kể chuyện (Storytelling) như một công cụ hiệu quả trong truyền thông y tế về tình trạng dị tật khe hở môi - vòm miệng (KHM - VM), dựa trên nền tảng “khung lý thuyết kể chuyện như Hero's Journey” (Campbell, 1949) và “StoryBrand Framework” (Miller, 2017) để xây dựng thông điệp và định hình sản phẩm truyền thông thử nghiệm. Trẻ em mắc KHM - VM được xem là trung tâm của câu chuyện và hệ thống y tế là người dẫn dắt đáng tin cậy. Thông qua phỏng vấn nhóm với chuyên gia, phụ huynh và công chúng, nghiên cứu đánh giá chất lượng thông tin/câu chuyện (cấu trúc câu chuyện, tính chân thực, tính liền mạch) và hiệu quả tác động của câu chuyện (niềm tin, thiện cảm và ý định hành vi), qua đó khẳng định phương pháp kể chuyện được đánh giá cao về khả năng truyền tải thông điệp nhân văn, củng cố niềm tin vào hành trình điều trị và gia tăng thiện cảm của công chúng.
Chiến dịch truyền thông về phòng chống bạo lực trẻ em tại Việt Nam: hiệu quả, thách thức và bài học kinh nghiệm
Chiến dịch truyền thông về phòng chống bạo lực trẻ em tại Việt Nam: hiệu quả, thách thức và bài học kinh nghiệm
Bạo lực trẻ em là một trong những vấn đề xã hội nghiêm trọng toàn cầu, trong đó có Việt Nam. Truyền thông giữ vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa và nâng cao nhận thức cộng đồng. Nghiên cứu này phân tích hai chiến dịch tiêu biểu: “Cái ôm ấm áp” của ChildFund (trong các năm 2022, 2023) và “Trái tim xanh” của UNICEF (trong các năm 2020, 2022), nhằm đánh giá hiệu quả truyền thông, xác định giá trị thông điệp, cách thức triển khai, đồng thời rút ra bài học và khuyến nghị cho các chiến dịch tương lai. Nghiên cứu kết hợp giữa phương pháp phân tích nội dung, thống kê dữ liệu và khảo sát xã hội học với 221 mẫu tại Hà Nội. Kết quả cho thấy, cả hai chiến dịch đều tạo được hiệu quả tích cực trong truyền tải thông điệp, song vẫn tồn tại hạn chế về phạm vi tiếp cận và tính bền vững trong thay đổi hành vi. Nghiên cứu đề xuất cần đa dạng hóa kênh truyền thông, thiết kế thông điệp rõ ràng và tăng cường hợp tác liên ngành để đạt hiệu quả lâu dài.
llcttt1994dientu@gmail.com
024.38348033
Bình luận