Vai trò của phụ nữ trong thời kỳ đổi mới
Trong lịch sử vinh quang của dân tộc Việt Nam, trên mọi lĩnh vực hoạt động, từ miền núi đến miền xuôi, từ Nam chí Bắc, phụ nữ các tầng lớp, lứa tuổi, các dân tộc, tôn giáo đã khẳng định vai trò to lớn của mình trong công cuộc giải phóng dân tộc. Hàng triệu phụ nữ đã lập những chiến công lẫy lừng trên các mặt trận quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội góp phần xứng đáng vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc, đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới.
Công cuộc đổi mới đất nước với mục tiêu chiến lược là thực hiện thắng lợi công nghiệp hóa, hiện đại hóa cùng với quá trình tích cực hội nhập khu vực và quốc tế,... Đây vừa là vận hội, vừa là thách thức đối với chị em phụ nữ, đồng thời cũng là động lực thúc đẩy lực lượng lao động nữ phát huy khả năng trí tuệ của mình trên các lĩnh vực đời sống, chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội,... góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Từ việc nhận thức sâu sắc vai trò, vị trí của phụ nữ, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định việc chăm lo phát triển toàn diện người phụ nữ là một trong những nhiệm vụ, mục tiêu quan trọng của đất nước ở mọi giai đoạn cách mạng.
Đại hội lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam (12.1986) nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, với mục tiêu khai thác mọi tiềm năng của đất nước, giải phóng mọi năng lực sản xuất, ổn định tình hình kinh tế, xã hội, cải thiện đời sống nhân dân,... Đại hội đánh giá cao vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp xây dựng đất nước và khẳng định: Để phát huy vai trò to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng, cần làm cho đường lối vận động phụ nữ của Đảng thấu suốt trong cả hệ thống chuyên chính vô sản, phải được cụ thể hóa thành chính sách, luật pháp. Các cơ quan nhà nước với sự phối hợp của các đoàn thể cần có biện pháp thiết thực tạo thêm việc làm, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ nữ, chăm sóc sức khỏe bà mẹ, thực hiện đúng luật hôn nhân và gia đình, tạo điều kiện cho phụ nữ kết hợp được nghĩa vụ công dân với chức năng làm mẹ, xây dựng gia đình hạnh phúc(1).
Tiếp đó, các Đại hội Đảng lần thứ VII, VIII, IX và X đều nhấn mạnh phải đảm bảo quyền lợi phụ nữ; xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển vì sự tiến bộ của người phụ nữ. Tại Đại hội X, Đảng chỉ rõ: “Tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò người công dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người. Bồi dưỡng, đào tạo để người phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động của xã hội, các cơ quan lãnh đạo và quản lý các cấp. Chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bà mẹ, trẻ em. Bổ sung và hoàn chỉnh các chính sách về bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, thai sản, chế độ đối với lao động nữ. Kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội, các hành vi bạo lực, xâm hại và xúc phạm nhân phẩm phụ nữ”(2).
Nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước mà trực tiếp là Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, chị em phụ nữ đã sánh vai được cùng các “đấng mày râu” trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Phụ nữ có khả năng độc lập về kinh tế, thoát khỏi sự phụ thuộc vào nam giới. Họ tỏ ra có năng lực trong quản lý, sản xuất kinh doanh, nghiên cứu khoa học,... ý chí vươn lên của họ thật xứng đáng với tám chữ vàng mà Bác Hồ đã trao tặng cho phụ nữ Việt Nam: “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”.
Những năm qua, phụ nữ đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự thành công của sự nghiệp đổi mới. Trong lĩnh vực kinh tế, hàng vạn cán bộ khoa học nữ, hàng triệu phụ nữ nông dân đã khắc phục khó khăn, nghiên cứu, thí nghiệm lai nhiều giống lúa, ngô,... đưa vào sản xuất, đem lại giá trị kinh tế cao. Phụ nữ nông dân cả nước tham gia ngày càng tích cực các hoạt động khuyến nông, ứng dụng khoa học kỹ thuật góp phần làm thay đổi hẳn lĩnh vực nông nghiệp. Nhiều cánh đồng lúa đạt từ 10 tấn, 15 tấn/ha/năm; nhiều cánh đồng ngô đạt từ 3 đến 5 tấn/vụ, đảm bảo lương thực đủ ăn, có dự trữ và xuất khẩu từ 3 đến 5 triệu tấn gạo/năm,...
Trong sản xuất công nghiệp, lao động nữ chiếm đa số trong các ngành chế biến lương thực, thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, dệt may. Vượt qua những khó khăn thử thách của cơ chế thị trường, chị em vừa tích cực lao động, vừa tích cực học tập, bồi dưỡng, nâng cao trình độ học vấn, tay nghề để đáp ứng yêu cầu của việc ứng dụng công nghệ mới.
Trong sản xuất tiểu thủ công nghiệp, phần đông lao động là nữ. Với đức tính cần cù, tỉ mỉ và bàn tay khéo léo, chị em đã góp phần không nhỏ trong khôi phục, phát triển các ngành nghề truyền thống, năng động sáng tạo trong tìm kiếm thị trường tiêu thụ hàng hóa, phát huy sáng kiến, cải tiến mẫu mã, tạo ra các sản phẩm thủ công mỹ nghệ ngày càng tinh xảo, đa dạng, đem lại doanh thu mỗi năm hàng nghìn tỷ đồng,...
Trong các ngành bưu điện, dịch vụ, thương mại, du lịch, tài chính, ngân hàng,... lực lượng lao động nữ chiếm trên 50%, có những cơ sở chiếm 70-80% nữ.
Ngoài ra, vấn đề giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình cũng đạt những kết quả rất đáng trân trọng. Gần đây, Hội phụ nữ đã huy động 1.700 tỉ đồng cho hơn 2 triệu phụ nữ vay vốn để sản xuất, kinh doanh.
Ở lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế, lao động nữ chiếm tỉ lệ khá cao: 73,4% trong ngành giáo dục đào tạo, 52,3% trong y tế... Các tầng lớp phụ nữ đã không ngừng vươn lên nâng cao trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật, khắc phục những hiện tượng văn hóa tiêu cực lạc hậu. ở các cấp học phổ thông, cao đẳng, đại học, tỉ lệ học sinh nữ đã gần cân bằng với học sinh nam (47,71% ở cấp Tiểu học, 46,5% ở cấp PTTH, 47,54% ở cấp CĐ - ĐH), 100% các xã đã xóa mù chữ cho phụ nữ, phổ cập giáo dục tiểu học.
Vấn đề kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe phụ nữ và trẻ em, phòng chống dịch bệnh, phòng chống HIV-AIDS, xây dựng gia đình văn hóa,... đã thu hút đông đảo phụ nữ tham gia. Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên giảm, thanh toán được một số dịch bệnh ở trẻ em.
Ở lĩnh vực khoa học - công nghệ, tỉ lệ cán bộ nữ trong các ngành khoa học tự nhiên là 36,64%, nông lâm thủy sản là 43,42%, KHKT là 33% và trong KHXH&NV là 35,27%. Nhiều chị em đã thành công trong nghiên cứu khoa học được nhận giải thưởng của Bộ khoa học công nghệ và môi trường, bằng Lao động sáng tạo của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, 24 cá nhân và 8 tập thể các nhà khoa học nữ được trao tặng giải thưởng Kovalevxkaia.
Trên lĩnh vự an ninh, quốc phòng, đối ngoại, tuy tỉ lệ nữ tham gia không cao nhưng nhiều tập thể nữ và chị em đã kết hợp hài hòa phong trào “giỏi việc nước, đảm việc nhà” với phong trào “quyết thắng”. Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã không ngừng mở rộng và phát triển quan hệ đối ngoại. Cho đến nay, Hội đã có quan hệ với hơn 300 tổ chức quốc tế như Tổ chức phụ nữ liên chính phủ, phi chính phủ,... của gần 100 quốc gia khắp các châu lục.
Vai trò, địa vị của người phụ nữ trong xã hội và gia đình không ngừng được cải thiện. Tỉ lệ cán bộ nữ tham gia Quốc hội tăng dần qua các khóa (18,5% trong khóa IX, 26,22% khóa X, 27,3% và trong khóa XI), xếp thứ nhất châu á-Thái Bình Dương về nữ đại biểu Quốc hội. Tỷ lệ nữ tham gia Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 1999-2004 ở các tỉnh là 21,1%, cấp huyện là 20,1%, cấp xã là 16,6% đến nhiệm kỳ 2004-2007 tăng lên: cấp tỉnh là 23,9%, cấp huyện là 23%, cấp xã là 19,5%. Ngoài ra còn có 1 Phó Chủ tịch nước, 1 Phó Chủ tịch Quốc hội(3), 8 Bộ trưởng, 26 Thứ trưởng, 4 Bí thư và Chủ tịch tỉnh, 22 Phó Chủ tịch tỉnh là nữ(4).
Ở các doanh nghiệp nhà nước, tỉ lệ cán bộ nữ trực tiếp làm công tác lãnh đạo, quản lý khá cao. Từ năm 1997-2002: 12,4% cấp Bộ trưởng, 9,1% cấp Thứ trưởng, 12,1% cấp Vụ trưởng, 8,1% cấp Vụ phó, 4% chức Tổng giám đốc, 4% chức Phó tổng giám đốc(5).
Trên đây là “những con số biết nói”, tuy chưa thật đầy đủ nhưng đã khẳng định tài năng, trí tuệ, sự đóng góp không thể thiếu được của phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay. Có được kết quả như trên chính là nhờ Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đúng mức đến sự tiến bộ và công bằng của chị em phụ nữ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phụ nữ được học tập, nghiên cứu khoa học, phát huy sức sáng tạo của mình trong mọi lĩnh vực, phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Tuy nhiên, hiện nay phụ nữ vẫn phải chịu nhiều áp lực từ gia đình đến xã hội và còn phải chịu nhiều thua thiệt, bất bình đẳng giới. Theo như nhận xét của Tổng thư ký LHQ Ko-phi-Annan thì: chưa có nước nào phụ nữ được đối xử đúng với vai trò của họ. Phụ nữ còn chiếm hơn 80% trong số những người nghèo khổ; 2/3 số người mù chữ. Phụ nữ phải làm việc nhiều hơn nam giới về mặt thời gian. Họ vẫn còn là nạn nhân của sự phân biệt đối xử trong gia đình và nơi làm việc.
Theo con số thống kê, điều tra, trung bình nữ trí thức phải bỏ ra 5 giờ/ngày cho công việc gia đình, trong khi nam giới trí thức chỉ bỏ ra 1 giờ/ngày. Tỷ lệ nữ có trình độ tiến sĩ chỉ chiếm 5%. Nữ đại biểu Quốc hội khóa 1997-2002 chỉ chiếm 26,2%. Ngoài ra, tình trạng phụ nữ phải chịu bạo lực, ngược đãi trong gia đình, mại dâm, buôn bán phụ nữ trẻ em vẫn chưa được khắc phục.
Thành tựu của công cuộc đổi mới đã và đang tạo tiền đề quan trọng cho phụ nữ Việt Nam cơ hội thực hiện bình đẳng giới và xây dựng người phụ nữ mới. Song hiện nay, phụ nữ đang phải đối mặt với không ít khó khăn và thách thức từ xã hội và ngay cả trong bản thân người phụ nữ.
Để phụ nữ Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò, chức năng của mình, trước mắt cần quan tâm đúng mức những vấn đề sau:
Một là, đối với các cấp lãnh đạo: phải thấu hiểu hơn nữa điều kiện, nguyện vọng của phụ nữ; công bằng, khách quan khi đánh giá và bố trí công việc cho phụ nữ; đề ra những chính sách thiết thực giúp chị em vừa có cơ hội phấn đấu, vừa hoàn thành tốt công việc và thiên chức làm vợ, làm mẹ.
Hai là, mạnh dạn tuyển dụng, giao việc cho những phụ nữ có đủ năng lực để họ phát huy sức sáng tạo của mình cho đất nước.
Ba là, bản thân người phụ nữ phải tự ý thức về khả năng trí tuệ của mình, xóa bỏ sự mặc cảm, tự ty về giới tính. Thông qua sự tận tụy, đức hy sinh, phấn đấu vươn lên, chị em tự khẳng định vị trí, vai trò của người phụ nữ Việt Nam mới; Cố gắng vươn lên để tự giải phóng mình, khẳng định được vị thế và tầm quan trọng của mình trong gia đình và xã hội.
Bốn là, cần lên án mạnh mẽ, nghiêm trị theo luật pháp những kẻ vi phạm đạo đức, chà đạp lên nhân phẩm người phụ nữ./.
____________________________________
(1). Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng thời kỳ đổi mới (ĐH VI, VII, VIII, IX), Nxb. CTQG, H, 2003, tr 123.
(2). Văn kiện Đại hội Đảng X, Nxb. CTQG, H, 2006, tr 120.
(3). Số liệu thống kê giới của Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI, Nxb Phụ nữ, H, 2005.
(4). Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam: Phụ nữ Việt Nam bước thế kỷ XXI, Nxb. CTQG, H, 2000.
(5). Số liệu thống kê giới của Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI, Nxb. Phụ nữ, H, 2005.
Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Báo chí và Tuyền truyền số tháng 10.2006
Bài liên quan
- Thành ủy Hải Phòng lãnh đạo phát triển kinh tế biển hiện nay: Thực trạng và giải pháp
- Một số rào cản khi xây dựng văn hóa công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tại Việt Nam*
- Phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay: Thực trạng và giải pháp
- Chiến lược Tăng trưởng xanh ở của một số nước trên thế giới và gợi mở cho Việt Nam nói chung, Nghệ An nói riêng - Tiếp cận từ góc nhìn Truyền thông quốc tế
- Thời cơ và thách thức đối với chính quyền cấp xã sau sáp nhập chính quyền địa phương hai cấp tỉnh Tuyên Quang hiện nay
Xem nhiều
-
1
Đổi mới tư duy của Nhà nước trong kỷ nguyên số: Từ quản lý sang quản trị, kiến tạo phát triển
-
2
Giá trị biểu tượng của con ngựa trong văn hóa Việt Nam và ý nghĩa đối với sự phát triển văn hóa đất nước trong kỷ nguyên vươn mình
-
3
Đổi mới sáng tạo thu hẹp khoảng cách giáo dục vùng sâu, vùng xa Việt Nam trong kỷ nguyên mới
-
4
Công tác sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay: Thực trạng và giải pháp
-
5
Thời cơ và thách thức đối với chính quyền cấp xã sau sáp nhập chính quyền địa phương hai cấp tỉnh Tuyên Quang hiện nay
-
6
Tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Long trong công tác bình đẳng giới hiện nay
Liên kết
- Báo điện tử đảng cộng sản việt nam
- Báo nhân dân
- Báo Quân đội nhân dân
- Cổng thông tin điện tử Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia hồ chí minh
- Tạp chí Cộng sản
- Tạp chí Giáo dục lý luận
- Tạp chí Giáo dục và Xã hội
- Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
- Tạp chí Lý luận chính trị
- Tạp chí Nghiên cứu con người
- TẠP CHÍ Nghiên cứu dân tộc
- Tạp chí Người làm báo
- Tạp chí Nội chính
- Tạp chí Quản lý Nhà nước
- Tạp chí Tổ chức Nhà nước
- Tạp chí Tuyên giáo
- Tạp chí Xây Dựng Đảng
- Thư viện số Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Trang thông tin điện tử Hội đồng Lý luận Trung ương
Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên lý luận chính trị ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền hiện nay
Giảng viên lý luận chính trị ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền là lực lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng trong sự nghiệp giáo dục lý luận chính trị của Học viện. Trước yêu cầu, nhiệm vụ chính trị ngày càng cao trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đội ngũ giảng viên lý luận chính trị phải thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực nghiên cứu, trong đó, việc nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học giữ vai trò then chốt. Bài viết phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động nghiên cứu của giảng viên lý luận chính trị tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, đồng thời đề xuất một số giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng nghiên cứu khoa học của đội ngũ này trong thời gian tới.
Thành ủy Hải Phòng lãnh đạo phát triển kinh tế biển hiện nay: Thực trạng và giải pháp
Thành ủy Hải Phòng lãnh đạo phát triển kinh tế biển hiện nay: Thực trạng và giải pháp
Phát triển kinh tế biển có vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quốc gia, tạo việc làm, nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm an ninh quốc phòng, bảo vệ chủ quyền biển đảo và khai thác bền vững. Bài viết làm rõ thực trạng Thành ủy Hải Phòng lãnh đạo phát triển kinh tế biển qua những kết quả đạt được cũng như hạn chế còn tồn tại; từ đó, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này thời gian tới.
Một số rào cản khi xây dựng văn hóa công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tại Việt Nam*
Một số rào cản khi xây dựng văn hóa công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tại Việt Nam*
Sau gần 40 năm thực hiện đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu lớn về kinh tế - xã hội, trong đó văn hóa công vụ (VHCV) đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Tại cấp cơ sở, VHCV không chỉ phản ánh tinh thần phục vụ nhân dân mà còn quyết định mức độ tin cậy của xã hội đối với chính quyền địa phương. Tuy nhiên, thực tế, việc xây dựng và duy trì VHCV trong đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC) cấp cơ sở vẫn đang đối mặt với nhiều rào cản, xuất phát từ yếu tố con người, môi trường tổ chức, cũng như hệ thống quản lý và giám sát công vụ. Bài viết này trả lời câu hỏi: “Hoạt động xây dựng VHCV của đội ngũ CBCC cấp cơ sở tại việt Nam đang gặp những rào cản gì?”. Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp chính sách thúc đẩy đổi mới VHCV phù hợp với bối cảnh tái cấu trúc bộ máy Nhà nước.
Phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay: Thực trạng và giải pháp
Phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay: Thực trạng và giải pháp
Phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số là vấn đề có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước, gắn liền với mục tiêu bảo đảm công bằng xã hội và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong bối cảnh Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển mình mạnh mẽ và hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước ta càng có nhiều chủ trương, chính sách nhằm phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số. Tuy nhiên hiện nay, công tác này vẫn còn nhiều hạn chế cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu. Bài viết nhằm tập trung phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số hiện nay, chỉ ra những hạn chế chủ yếu, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số trong thời gian tới.
Chiến lược Tăng trưởng xanh ở của một số nước trên thế giới và gợi mở cho Việt Nam nói chung, Nghệ An nói riêng - Tiếp cận từ góc nhìn Truyền thông quốc tế
Chiến lược Tăng trưởng xanh ở của một số nước trên thế giới và gợi mở cho Việt Nam nói chung, Nghệ An nói riêng - Tiếp cận từ góc nhìn Truyền thông quốc tế
Trong bối cảnh toàn cầu thúc đẩy mô hình phát triển bền vững, kinh tế xanh là tầm nhìn thời đại, mục tiêu lâu dài, còn Tăng trưởng xanh là quá trình, con đường phấn đấu, là sứ mệnh, thủ pháp để đạt mục tiêu phát triển bền vững thông qua đổi mới chính sách, thể chế, công nghệ, truyền thông và trở thành ưu tiên của nhiều quốc gia như Na Uy, Đức, Mỹ, Trung Quốc... Từ bối cảnh đó, bài viết phân tích cách các nước đã thiết kế, định hình và truyền thông hoá chiến lược tăng trưởng xanh trên bình diện quốc tế, làm rõ các mô hình và kinh nghiệm nổi bật, qua đó đề xuất những bài học phù hợp cho Việt Nam nói chung và tỉnh Nghệ An nói riêng trong quá trình xây dựng và lan tỏa chính sách phát triển xanh, chiến lược tăng trưởng đáp ứng tình hình mới.
llcttt1994dientu@gmail.com
024.38348033
Bình luận