Xây dựng đội ngũ giáo viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo ở nước ta hiện nay
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là người thầy vĩ đại, người tổ chức lãnh đạo cách mạng Việt Nam, mà còn là nhà giáo dục lớn, khai sinh ra nền giáo dục cách mạng nước ta. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh có những quan điểm rất toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của giáo dục Việt Nam nói chung, xây dựng đội ngũ giáo viên nói riêng. Trong bối cảnh hiện nay, việc nghiên cứu một cách sâu sắc hệ thống quan điểm của Hồ Chí Minh về giáo dục và vận dụng sáng tạo vào đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo ở nước ta là vấn đề có tính cấp thiết, góp phần nâng cao chất lượng nền giáo dục quốc dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là thầy giáo và đặc biệt quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, trong đó có công tác đào tạo giáo viên. Bởi vì, để thắng “giặc dốt”, có nhân tài xây dựng đất nước, theo kịp các nước trên thế giới phải có giáo dục. Trong lúc chính quyền cách mạng mới thành lập, việc đối phó với thù trong, giặc ngoài, đặc biệt là âm mưu và hành động tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai của thực dân Pháp, đất nước trên 90% dân số mù chữ, giặc dốt đang xâm nhập trong từng hang cùng, ngõ hẻm trên đất nước Việt Nam. Để đối phó với loại giặc này phải xây dựng được nền giáo dục mới thay thế cho nền giáo dục cũ cũng hết sức cấp bách.
Về nhiệm vụ của thầy, cô giáo, Hồ Chí Minh quan niệm rất sâu sắc nó không chỉ đáp ứng nhu cầu trước mắt mà có tác dụng, hiệu quả lâu dài cho dân tộc, đất nước. Người nói: “Các cô, các chú có nhiệm vụ rất quan trọng: Bồi dưỡng thế hệ công dân, cán bộ sau này. Làm tốt thì thế hệ sau này có ảnh hưởng tốt. Làm không tốt sẽ có ảnh hưởng không tốt đến thế hệ sau”(1). Hồ Chí Minh đánh giá rất cao nhiệm vụ của thầy, cô giáo, đánh giá cao những thầy, cô giáo hoàn thành nhiệm vụ. Người cho rằng: “Người thầy giáo tốt - thầy giáo xứng đáng là thầy giáo - là người vẻ vang nhất. Dù là tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh. Đây là một điều rất vẻ vang”(2).
Xác định vị trí, nhiệm vụ, tôn vinh nghề dạy học, Hồ Chí Minh còn đặt nhiều vấn đề vừa mang tính chiến lược, vừa là yêu cầu cụ thể đối với đội ngũ thầy, cô giáo và người làm công tác giáo dục. Người đặt vấn đề hàng đầu đối với thầy, cô giáo, đó là: phải luôn luôn nâng cao tinh thần yêu Tổ quốc, yêu chủ nghĩa xã hội, tăng cường tình cảm cách mạng đối với công nông, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng, triệt để tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng... cần phải phát huy đầy đủ dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng quan hệ thật tốt, đoàn kết thật chặt chẽ giữa thầy và thầy, giữa thầy và trò... giữa cán bộ các cấp, giữa nhà trường và nhân dân để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ(3).
Hồ Chí Minh yêu cầu đội ngũ thầy, cô giáo phải học chủ nghĩa Mác - Lênin và phải học một cách sáng tạo. Người luôn nhắc nhở: “Nhiệm vụ của các cô giáo, thầy giáo rất nặng nề nhưng rất vẻ vang. Muốn làm tròn nhiệm vụ đó thì phải luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, không ngừng bồi dưỡng đạo đức cách mạng, lập trường chính trị; phải ra sức đoàn kết giúp đỡ nhau cùng tiến bộ”(4). Người yêu cầu các thầy giáo, cô giáo phải là tấm gương sáng cho người học về cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong cuộc sống. Trong quá trình trồng người của mình, là nhà mô phạm được nhiều thế hệ noi theo.
Hồ Chí Minh rất quan tâm đến nhiệm vụ bồi dưỡng, học tập chuyên môn nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ thầy, cô giáo. Người viết: “phải phấn đấu nâng cao chất lượng văn hoá và chuyên môn nhằm thiết thực giải quyết các vấn đề do cách mạng nước ta đề ra và trong một thời gian không xa, đạt những đỉnh cao của khoa học và kỹ thuật”(5). Người yêu cầu thầy, cô giáo phải không ngừng học tập: “Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân, không học nhân dân là một thiếu sót rất lớn”(6). Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh việc tự học, “lấy tự học làm cốt”. Thầy, cô giáo phải biết cách hướng dẫn cách tự học cho học sinh và bản thân thầy, cô giáo chỉ có bằng cách tự học mới có thể nâng cao trình độ cập nhật kiến thức để không ngừng nâng cao chất lượng giảng dạy. Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng vĩ đại về tự học, tự rèn luyện.
Bước vào thế kỷ XXI, xu thế đổi mới giáo dục trên thế giới đang diễn ra mạnh mẽ, với nhiều mô hình khác nhau. Triết lý giáo dục trong thế kỷ XXI được Hội đồng quốc tế về giáo dục cho thế kỷ XXI trình bày trong cuốn Học tập: Một kho báu tiềm ẩn đặt vấn đề, khi nhân loại bước vào thế kỷ XXI, trong xu thế toàn cầu hóa và cách mạng công nghệ biến đổi nhanh chóng, thì một trong những thách thức của thế kỷ mới là giáo dục. Đây là một trong những con đường chủ yếu phục vụ sự phát triển con người sâu sắc hơn và hài hòa hơn, từ đó có thể đẩy lùi tình trạng đói nghèo, bài trừ nhau, không hiểu nhau, áp bức nhau. Triết lý của giáo dục được thể hiện với tư tưởng chủ đạo là: lấy “học thường xuyên”, suốt đời làm nền móng, xây dựng 4 trụ cột của giáo dục, “học để biết, học để làm, học để cùng sống với nhau và học để làm người”, hướng tới một “xã hội học tập”, nhằm thực hiện một yêu cầu là không để một tài năng nào bị lãng quên mà không được khai thác.
Trước yêu cầu đó của thế giới, quán triệt đường lối của Đảng, ngành Giáo dục và Đào tạo xác định nhiệm vụ trọng tâm là tiến hành đổi mới nội dung chương trình, phương pháp dạy học, sách giáo khoa, kiểm tra đánh giá và đào tạo đội ngũ giáo viên.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng khẳng định “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ; phát huy vai trò quốc sách hàng đầu của giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ đối với sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước”(7). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo được tích cực triển khai, bước đầu có hiệu quả... Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chú trọng cả về số lượng và chất lượng”(8). Tuy nhiên, đổi mới tư duy, hoạt động giáo dục và đào tạo còn chậm, chưa quyết liệt, chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra; một số nhiệm vụ, giải pháp đổi mới còn thiếu hệ thống, chưa ổn định. Chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo chưa cao. Nội dung, chương trình giáo dục và đào tạo còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành. “Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, trên một số mặt còn bất cập về chất lượng, số lượng, cơ cấu và chính sách đãi ngộ”(9).
Đó là những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo về mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục và đào tạo cùng các cơ chế, chính sách, điều kiện đảm bảo việc thực hiện; đổi mới từ việc lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đến đổi mới các cơ sở giáo dục và đào tạo giáo viên và sự tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học. Những quan điểm đó thực chất là trở về với những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục. Vì vậy, phải từ tầm nhìn về tương lai mà suy nghĩ công việc hiện nay và sắp tới của nền giáo dục nước ta, phải đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục đất nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là xây dựng đội ngũ giáo viên - những người anh hùng vô danh.
Thứ nhất, xác định rõ mục tiêu của ngành giáo dục “là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(10). Trong từng chương trình, bậc học, giáo trình phải xác định được mục tiêu cụ thể để xây dựng nội dung và có phương pháp phù hợp với đối tượng đào tạo.
Thứ hai, ngành giáo dục phải có chiến lược, quy định cụ thể về tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng hợp lý đội ngũ giáo viên để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Vấn đề chất lượng giáo viên là một đòi hỏi nghiêm ngặt của công tác này tổ chức - cán bộ ngành giáo dục. Đội ngũ giáo viên phải được lựa chọn thật tỉ mỉ, chính xác và phải được sự quan tâm đặc biệt đối với công tác tổ chức - cán bộ. Giáo viên phải xác định được tầm quan trọng của công việc để xác định rõ mục đích và thái độ của mình trong nghiên cứu, học tập để nâng cao trình độ. Học không bao giờ cùng, học mãi để tiến bộ mãi. Học để nâng cao trình độ. Mỗi người phải có kế hoạch cụ thể, phải có ý thức tự học, tự trau dồi bản thân thông qua con đường tự học để hoàn thiện mình; học để làm việc tốt hơn, học để góp phần xứng đáng vào sự nghiệp trồng người nhằm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thứ ba, đổi mới về nội dung chương trình đào tạo giáo viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trước hết phải lấy những tài liệu về chủ nghĩa Mác - Lênin làm gốc”(11). Ngoài chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Người còn đặc biệt lưu ý đến những tài liệu thiết thực. “Đó là những kinh nghiệm do những người đi học mang đến, kinh nghiệm thành công cũng như kinh nghiệm thất bại. Những kinh nghiệm đó đem trao đổi, gom góp lại tức là những bài học quý, không phải cứ chờ đồng chí cấp trên đến nói chuyện thì mới là bài, là học”(12). Đây là điều nhắc nhở mà tất cả chúng ta cần hết sức lưu ý để biết cách khai thác và sử dụng cho được những bài học từ kinh nghiệm thực tế mà người học mang đến trường. Người còn nêu lên nội dung học phải toàn diện: “Trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hoá, kỹ thuật, lao động và sản xuất”(13). Coi trọng giáo dục nhân cách lý tưởng, đạo đức, trí dục, thể dục và mỹ dục. Đây là những nội dung giáo dục hết sức cơ bản, toàn diện, gắn bó chặt chẽ với nhau, làm nên nền tảng sự phát triển con người Việt Nam.
Thường xuyên đổi mới, cập nhật chương trình đào tạo theo hướng giảm lý thuyết, tăng thực hành, kết cấu khối lượng kiến thức về nghiệp vụ sư phạm tăng lên, tăng thêm thời lượng thực tế, kiến tập và thực tập. Quá trình kiến tập và thực tập giúp cho người học vận dụng những kiến thức đã học thể hiện trong thực tiễn, gắn lý luận với thực tiễn; làm quen và hiểu rõ về môi trường giáo dục, được trải nghiệm thực tiễn các công tác giáo dục như chủ nhiệm lớp, sinh hoạt chuyên môn, dự giờ, trực tiếp đứng lớp. Đây là những đặc thù khác biệt của các chương trình đào tạo giáo viên với các chương trình đào tạo khác.
Thứ tư, đổi mới phương pháp dạy - học, Người nhấn mạnh đến việc tự học, phải nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng, học phải đi đôi với hành, động cơ và thái độ học tập phải đúng đắn… Theo Người, tự học chính là sự nỗ lực của bản thân người học, sự làm việc của bản thân người học một cách có kế hoạch trên tinh thần tự giác, tự ý thức học tập.
Trong quá trình học tập, Người căn dặn phải gắn với nhiều hình thức học tập, học mọi lúc, mọi nơi. Người còn dạy phải luôn luôn khiêm tốn học hỏi quần chúng, học hỏi những người xung quanh: “Cái gì biết thì nói biết, không biết thì nói không biết. Kiêu ngạo, tự phụ, tự mãn là kẻ thù số một của học tập”(14). Người chê những người “Xem nhiều sách để mà lòe, để làm ra ta đây”, Người coi những người đó không phải là biết lý luận, không khiêm tốn. Người cũng khuyên mọi người phải chữa được bệnh kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông.
Thứ năm, đổi mới kiểm tra đánh giá trong quá trình đào tạo vừa mang tính công nhận nhưng quan trọng hơn còn có tác dụng định hướng giáo dục rất hữu hiệu - Thi cử thế nào, thầy và trò dạy và học như thế ấy. Phải đổi mới mạnh mẽ hoạt động đánh giá, coi trọng đánh giá của giáo viên ngay trong quá trình dạy học, đây là hoạt động chủ yếu thay vì tập trung thi cử cuối khóa nặng nề, đối phó, hình thức, thiếu thực chất thoát ly mục tiêu đào tạo. Phải tạo điều kiện cho người học tự đánh giá để tự hoàn thiện mình, kết hợp với các hình thức đánh giá một cách toàn diện để đạt được các chuẩn đầu ra của chương trình, đòi hỏi của xã hội đối với một người giáo viên tương lai.
Thứ sáu, cơ chế tổ chức quản lý phải đổi mới mạnh mẽ sang cơ chế tự chủ nhà trường, không chờ đợi, ỷ lại vào cấp trên mà phải tạo điều kiện cho từng giáo viên sáng tạo, tự giác chấp hành luật pháp, thực hiện quy chế với ý thức tổ chức kỷ luật cao, đồng thời chủ động thể hiện từng động tác giáo dục phù hợp và hiệu quả với từng sinh viên trong quá trình dạy học như những nhà giáo dục thực thụ. Xây dựng và hiện đại hóa các trường đại học sư phạm trọng điểm, chỉ tập trung vào công tác đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, không đào tạo ngoài ngành sư phạm. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế. Thực hiện chuẩn hoá đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo. Tiến tới tất cả các giáo viên tiểu học, trung học cơ sở, giáo viên các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải có trình độ từ đại học trở lên, có năng lực sư phạm tốt. Giảng viên cao đẳng, đại học có trình độ từ thạc sĩ trở lên và phải được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm bài bản, chuyên sâu. Cán bộ quản lý giáo dục các cấp phải qua đào tạo về nghiệp vụ quản lý để quản trị nhà trường khoa học, hiệu quả.
Phát triển hệ thống trường sư phạm đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; ưu tiên đầu tư xây dựng một số trường sư phạm, khắc phục tình trạng phân tán trong hệ thống các cơ sở đào tạo nhà giáo. Có cơ chế tuyển sinh riêng để tuyển chọn được những người có phẩm chất, năng lực phù hợp vào ngành sư phạm cũng như chính sách đãi ngộ trong quá trình học, đầu ra cho người học, tiền lương, nhà ở, bồi dưỡng hàng năm...
Thứ bảy, có ý thức xây dựng một tập thể học tập, xã hội học tập và học suốt đời làm mục đích, phương châm, là công việc suốt đời của mỗi người giáo viên. Quan điểm này của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một quan điểm giáo dục rất hiện đại, đặc biệt là trong điều kiện khoa học - công nghệ phát triển cực kỳ nhanh chóng, khoa học xã hội và nhân văn cũng không ngừng đổi mới, nên không học tập thì chắc chắn kiến thức của con người luôn luôn bị lạc hậu. Khuyến khích đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Tạo điều kiện để chuyên gia quốc tế và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia giảng dạy và nghiên cứu ở các cơ sở giáo dục, đào tạo sư phạm trong nước. Triển khai các giải pháp, mô hình liên thông, liên kết giữa các cơ sở đào tạo giáo viên, nhất là các trường đại học sư phạm với các tổ chức khoa học và công nghệ, đặc biệt là các viện nghiên cứu về giáo dục./.
_______________________________________________
(1) Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb. CTQG Sự thật, H., T.10, tr.344.
(2), (4) Hồ Chí Minh (2011), Sđd, T.14, tr.402,747.
(3), (5) Hồ Chí Minh (2011), Sđd, T.15, tr.507-508,507.
(6), (11), (12) Hồ Chí Minh (2011), Sđd, T.6, tr.361,359;360.
(7) Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. CTQG, H., tr.77.
(8) Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. CTQG Sự thật, H., T.I, tr.62,63.
(9) Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. CTQG Sự thật, H., T.I, tr.83.
(10) Luật Giáo dục (2008), Nxb. CTQG, H., tr.8.
(13) Hồ Chí Minh (2011), Sđd, T.12, tr.647.
(14) Hồ Chí Minh (2011), Sđd, T.1, tr.98.
Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông số tháng 11/2021
Bài liên quan
- Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra của Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy phường Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội
- Công tác sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay: Thực trạng và giải pháp
- Đổi mới tư duy của Nhà nước trong kỷ nguyên số: Từ quản lý sang quản trị, kiến tạo phát triển
- Tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Long trong công tác bình đẳng giới hiện nay
- Nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay
Xem nhiều
-
1
Vai trò của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Lào trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay
-
2
Phiên bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng
-
3
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong truyền hình Việt Nam
-
4
Bế mạc Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam
-
5
Đổi mới tư duy của Nhà nước trong kỷ nguyên số: Từ quản lý sang quản trị, kiến tạo phát triển
-
6
Đổi mới sáng tạo thu hẹp khoảng cách giáo dục vùng sâu, vùng xa Việt Nam trong kỷ nguyên mới
Liên kết
- Báo điện tử đảng cộng sản việt nam
- Báo nhân dân
- Báo Quân đội nhân dân
- Cổng thông tin điện tử Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia hồ chí minh
- Tạp chí Cộng sản
- Tạp chí Giáo dục lý luận
- Tạp chí Giáo dục và Xã hội
- Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
- Tạp chí Lý luận chính trị
- Tạp chí Nghiên cứu con người
- TẠP CHÍ Nghiên cứu dân tộc
- Tạp chí Người làm báo
- Tạp chí Nội chính
- Tạp chí Quản lý Nhà nước
- Tạp chí Tổ chức Nhà nước
- Tạp chí Tuyên giáo
- Tạp chí Xây Dựng Đảng
- Thư viện số Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Trang thông tin điện tử Hội đồng Lý luận Trung ương
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong truyền hình Việt Nam
Trong bối cảnh chuyển đổi số và sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI), truyền hình đang trải qua những biến đổi căn bản về quy trình sản xuất nội dung, quản trị dữ liệu và phương thức tiếp cận công chúng. Bài viết tập trung phân tích quá trình ứng dụng AI trong truyền hình, trên cơ sở kết hợp tiếp cận từ góc độ lý luận kết hợp khảo sát thực tiễn, nhằm làm rõ xu hướng, mức độ triển khai và những vấn đề đặt ra đối với truyền hình Việt Nam hiện nay. Từ việc khái quát kinh nghiệm và xu hướng ứng dụng AI trong truyền hình quốc tế, bài viết chỉ ra vai trò của AI như một công nghệ nền tảng, tác động toàn diện đến chuỗi giá trị truyền hình, từ tự động hóa sản xuất, phân tích dữ liệu khán giả đến cá nhân hóa nội dung và quản trị kho tư liệu số. Trên cơ sở đó, phân tích thực trạng ứng dụng AI trong truyền hình Việt Nam, đặc biệt tại Đài Truyền hình Việt Nam (VTV), với những mô hình thử nghiệm và định hướng phát triển bước đầu.
Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra của Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy phường Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội
Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra của Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy phường Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội
Công tác kiểm tra có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giữ vững kỷ cương, nâng cao năng lực lãnh đạo, phòng ngừa sai phạm, củng cố niềm tin nhân dân. Qua đó góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị ở cơ sở, phù hợp với tình hình thực tiễn và yêu cầu đổi mới công tác xây dựng Đảng hiện nay. Bài viết làm rõ thực trạng chất lượng công tác kiểm tra của Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy phường Hoàn Kiếm, chỉ rõ một số hạn chế, tồn tại; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác này thời gian tới.
Công tác sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay: Thực trạng và giải pháp
Công tác sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay: Thực trạng và giải pháp
Công tác sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị có vai trò quan trọng góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, bảo đảm quản lý thống nhất, tinh gọn bộ máy, phục vụ tốt hơn người dân và sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và tỉnh Quảng Ninh nói riêng. Bài viết làm rõ một số kết quả đạt được cũng như hạn chế còn tồn tại trong công tác sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị của tỉnh Quảng Ninh; từ đó, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này thời gian tới.
Đổi mới tư duy của Nhà nước trong kỷ nguyên số: Từ quản lý sang quản trị, kiến tạo phát triển
Đổi mới tư duy của Nhà nước trong kỷ nguyên số: Từ quản lý sang quản trị, kiến tạo phát triển
Trong kỷ nguyên số, công nghệ, dữ liệu và các nền tảng số đang định hình không gian vận hành của quyền lực công, đặt ra yêu cầu chuyển dịch tư duy quản trị nhà nước theo hướng hiện đại và kiến tạo phát triển. Từ góc độ chính trị học, bài viết phân tích đổi mới tư duy của Nhà nước như một quá trình tái cấu trúc tư duy quyền lực nhằm thích ứng với môi trường số phi tập trung, xuyên biên giới và biến đổi nhanh chóng, làm rõ sự khác biệt về bản chất quyền lực giữa ba cách tiếp cận: (i) tư duy quản lý; (ii) tư duy quản trị và (iii) tư duy kiến tạo phát triển. Trên cơ sở đó, bài viết luận giải vì sao tư duy quản lý truyền thống không còn phù hợp trong kỷ nguyên số, đồng thời khẳng định, quản trị và kiến tạo phát triển là lựa chọn tất yếu để củng cố tính chính danh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc trong không gian số. Bài viết cũng gợi mở định hướng tiếp cận phương thức quản trị nhà nước phù hợp cho Việt Nam trong kỷ nguyên số dựa trên tham khảo kinh nghiệm tư duy quản trị hiện đại của một số quốc gia trên thế giới.
Tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Long trong công tác bình đẳng giới hiện nay
Tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Long trong công tác bình đẳng giới hiện nay
Bình đẳng giới là nguyên tắc và mục tiêu xã hội, trong đó nam, nữ và các giới khác có vị thế, quyền, nghĩa vụ và cơ hội ngang nhau trong mọi lĩnh vực của đời sống như giáo dục, lao động, chính trị, kinh tế, văn hóa và gia đình… Thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Long công tác này đã đạt được những kết quả ấn tượng, góp phần nâng cao vai trò, vị thế của phụ nữ; thu hẹp dần khoảng cách giới; tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội; tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của tỉnh. Trên tinh thần đó, bài viết làm rõ thực trạng Tỉnh ủy Vĩnh Long trong công tác bình đẳng giới hiện nay, chỉ rõ một số hạn chế, tồn tại; từ đó, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác này thời gian tới.
llcttt1994dientu@gmail.com
024.38348033
Bình luận