Tư tưởng Hồ Chí Minh về sức mạnh bảo vệ Tổ quốc
Tư tưởng Hồ Chí Minh về sức mạnh bảo vệ Tổ quốc (BVTQ) được thể hiện rõ trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Người. Đó là sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc; sức mạnh của khối đại đoàn kết và sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
1. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc
Theo Hồ Chí Minh, sức mạnh BVTQ là sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc, vì kẻ thù chống chúng ta về mọi mặt, nên chúng ta cũng phải dùng sức mạnh toàn diện để chống lại chúng. Hồ Chí Minh khẳng định: "... chiến tranh ngày càng phức tạp và hết sức khó khăn. Không dùng toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt để ứng phó, không thể nào thắng lợi được"(1). Do đó, xem xét sức mạnh BVTQ trên mọi phương diện, không chỉ xem xét sức mạnh về vật chất, về vũ khí trang bị..., mà còn về tinh thần, lực lượng của quần chúng nhân dân. Nếu chỉ dựa vào vũ khí, trang bị, mặc dù vũ khí, trang bị đó có tối tân, hiện đại đến đâu cũng khó có thể giành được thắng lợi, khó có thể bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN. Hồ Chí Minh khẳng định: "Tuy có những vũ khí tối tân, nhưng chỉ dựa vào vũ khí và binh lực thì không thể thắng nổi địch"(2). Thực tiễn đã chứng minh rằng, lúc bắt đầu kháng chiến chống Pháp xâm lược quân đội ta là một quân đội còn non trẻ. Mặc dù, tinh thần dũng cảm có thừa, nhưng còn thiếu vũ khí, thiếu kinh nghiệm, thiếu cán bộ, thiếu mọi mặt... Trong khi đó, đội quân xâm lược của địch là một quân đội nổi tiếng thế giới. Chúng có hải quân, lục quân, không quân lại được đế quốc Anh, Mỹ giúp, nhất là Mỹ viện trợ. Lực lượng ta và địch so le nhiều như thế, cho nên lúc đó bọn phản động cho rằng: cuộc kháng chiến của ta là "châu chấu đá voi". Chỉ nhìn về vật chất, chỉ nhìn về hiện trạng, chỉ nhìn bằng con mắt thiển cận mà xem xét thì như thế thật. Vì lúc đó địch đã có máy bay và đại bác, xe tăng... mà ta chỉ có súng kíp, mã tấu, dao kiếm và gậy tầm vông... Nhưng Đảng ta không chỉ nhìn vào hiện tại mà đã thấy tương lai, tin chắc vào tinh thần và lực lượng của quần chúng, của dân tộc. Hồ Chí Minh yêu cầu: "... chúng ta phải tập trung hết thẩy nhân lực, vật lực, tài lực vào công cuộc kháng chiến thì thực lực kháng chiến của ta mới được đầy đủ, mạnh mẽ để đạt tới thắng lợi cuối cùng"(3). Bác đã quả quyết: "Nay tuy châu chấu đá voi/ Nhưng mai voi sẽ bị lòi ruột ra".
Như vậy, sức mạnh BVTQ theo Hồ Chí Minh phải là sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc, sức mạnh về chính trị, kinh tế, quân sự... Đó là vấn đề rất quan trọng trong xem xét tương quan, so sánh lực lượng, trong xây dựng sức mạnh BVTQ. Có phương pháp xem xét, đánh giá đúng sẽ có hành động đúng, tạo nên sức mạnh giành chiến thắng.
2. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh của khối đại đoàn kết
Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò to lớn của đoàn kết. Đó là nguyên nhân của mọi thành công nói chung, của sự nghiệp bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN nói riêng. Lời kêu gọi nhân kỷ niệm ngày toàn quốc kháng chiến, ngày 19.12.1954, khi mà nhân dân ta mới giành được thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, kết thúc xâm lược của chủ nghĩa thực dân cũ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: "Chúng ta đã đoàn kết, đấu tranh, cảnh giác và tin tưởng, cho nên chúng ta đã thắng lợi trong kháng chiến. Thì nay chúng ta phải đoàn kết rộng rãi cả nước và đoàn kết chặt chẽ với nhân dân các nước bạn cùng nhân dân yêu chuộng hoà bình toàn thế giới... Như vậy, chúng ta nhất định thắng lợi trong công cuộc củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước ta"(4).
Phương châm của đoàn kết theo Hồ Chí Minh là phải "lâu dài", là "một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị". Mục đích của đoàn kết "để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc", và "để xây dựng nước nhà". Hồ Chí Minh giải thích: "Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác". Người coi: "Đó là nền gốc của đại đoàn kết" và khẳng định cũng như cái nền của nhà, gốc của cây. Đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác. Bởi vậy, bất kỳ ai mà "thật thà" tán thành hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, thì dù những người đó trước đây có "chống" chúng ta, bây giờ họ hiểu ra, chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ. Cho nên, ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ. Theo Hồ Chí Minh khi đã đoàn kết rồi thì phải thường xuyên củng cố tình đoàn kết ấy. Theo Người: "Nền có vững nhà mới chắc chắn, gốc có tốt thì cây mới tốt tươi". Trong chính sách đoàn kết của Hồ Chí Minh đề phòng hai khuynh hướng sai lầm: cô độc hẹp hòi và đoàn kết một chiều vô nguyên tắc. Từ đó, Người dạy: "Phải lấy công tác mà củng cố đoàn kết. Phải lấy đoàn kết mà đẩy mạnh công tác"(5).
Không những đoàn kết nhân dân mà còn đoàn kết các dân tộc trong sự nghiệp BVTQ. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: "Các dân tộc phải đoàn kết chặt chẽ muôn người như một, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau. Chú trọng giúp đỡ đồng bào vùng cao và làm tốt công tác an ninh trật tự, củng cố quốc phòng"(6).
Không chỉ đoàn kết rộng rãi giữa các tầng lớp nhân dân, dân tộc, nâng cao chí khí đấu tranh và tinh thần cảnh giác cách mạng mà còn "tin tưởng hơn nữa vào lực lượng mạnh mẽ và tiền đồ vẻ vang của dân tộc ta". Nghĩa là phải có niềm lạc quan cách mạng mới tạo nên sức mạnh trong sự nghiệp BVTQ XHCN.
Hồ Chí Minh không những chỉ ra phương châm, mục đích của đoàn kết mà còn chỉ ra phương pháp đoàn kết là chống tả khuynh và hữu khuynh; yêu cầu của đoàn kết là phải rộng rãi, đoàn kết trong nước và đoàn kết cả những người có quá khứ lầm lỗi nhưng đã biết ăn năn hối cải. Không những đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, dân tộc mà cùng với nó phải là củng cố đoàn kết, để tạo nên đoàn kết vững chắc, tạo sự đồng thuận trong sự nghiệp BVTQ XHCN. Đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ tạo nên sức mạnh trong sự nghiệp BVTQ, chỉ có thế cũng chưa đủ mà còn phải kết hợp sức mạnh bên trong với sức mạnh bên ngoài để tạo nên tổng lực cùng hướng vào bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống.
3. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc
Hồ Chí Minh chỉ rõ, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại thì sức mạnh BVTQ có sự chuyển hoá từ yếu thành mạnh. Người khẳng định: "Thế giới sẽ chỉ có nền hoà bình cuối cùng khi tất cả các dân tộc tự mình thoả thuận với nhau cùng tiêu diệt con quái vật đế quốc chủ nghĩa ở khắp mọi nơi mà họ gặp nó"(7). ở chính các nước đế quốc, nhân dân lao động tiến bộ cùng với nhân dân ở các nước thuộc địa ai cũng muốn hoà bình, cho nên phải đoàn kết đấu tranh chống thực dân, đế quốc thì mới giành được hoà bình thật sự, cách mạng sẽ thành công.
Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, trong sự nghiệp BVTQ theo Hồ Chí Minh không chỉ là khai thác triệt để sức mạnh thời đại để kết hợp với sức mạnh dân tộc, mà nhân dân ta còn có nghĩa vụ quốc tế trong sự kết hợp ấy. Quan niệm về nghĩa vụ quốc tế của Người không chỉ là trực tiếp giúp một nước nào đó trong đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc mà ngay cả khi củng cố, xây dựng nền quốc phòng vững mạnh để đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Ngay từ khi đất nước ta còn đang chiến đấu chống lại sự xâm lược của chủ nghĩa đế quốc để giành lại độc lập dân tộc thì giai cấp công nhân và nhân dân lao động nước ta đã và đang làm nghĩa vụ quốc tế cao cả chống chủ nghĩa đế quốc. Người viết: "Đồng bào lao động và toàn thể quốc dân ta cần phải hăng hái tổng động viên để đánh tan bọn xâm lược, để đưa cuộc kháng chiến thần thánh của ta mau đến thắng lợi hoàn toàn. Như thế, tức là toàn thể lao động và nhân dân ta thiết thực chen vai thích cánh với lao động và nhân sĩ thế giới để hoàn thành sự nghiệp vĩ đại chung là bảo vệ dân chủ và hoà bình thế giới"(8). Và: "Nhân dân ta chiến đấu hy sinh chẳng những vì tự do, độc lập riêng của mình, mà còn vì tự do, độc lập chung của các dân tộc và hoà bình trên thế giới"(9).
Trong khi khẳng định sự hỗ trợ, giúp đỡ quý báu của bên ngoài, Hồ Chí Minh luôn luôn nhấn mạnh tinh thần tự lực cánh sinh, "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta". Hồ Chí Minh viết: "Kháng chiến trường kỳ gian khổ đồng thời lại phải tự lực cánh sinh". Trông vào sức mình nhất là ở sau lưng địch thì lại càng phải đặc biệt chú ý. Cố nhiên sự giúp đỡ của các nước bạn là quan trọng nhưng không được ỷ lại, không được ngồi mong chờ người khác. Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập"(10). Tư tưởng tự lực cánh sinh của Người rất cao, nên vào thời điểm khó khăn của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ khi được các phóng viên nước ngoài hỏi: Nếu cuộc "chiến đấu" lại gay go trong thời gian sắp tới thì "Ngài sẽ trông cậy vào những sự hỗ trợ nào?" Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời: "Chúng tôi bao giờ cũng trông cậy vào chúng tôi", "đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế có hiệu quả nhất...". Từ đó, chúng ta nhận thấy sự nghiệp bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN là công việc, trách nhiệm của chính chúng ta, của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Do đó, cần khai thác và phát huy tốt nội lực vào sự nghiệp BVTQ. Đồng thời để bảo vệ vững chắc Tổ quốc cần tranh thủ sự giúp đỡ của nhân dân và các dân tộc tiến bộ trên toàn thế giới một cách có hiệu quả nhất. Trong đó sức mạnh bên trong là nhân tố quyết định, sức mạnh bên ngoài là quan trọng. Việc thu hút sức mạnh bên ngoài cũng phụ thuộc vào sức mạnh bên trong. Hồ Chí Minh khẳng định: "Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to thì tiếng mới lớn"(11).
Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về sức mạnh BVTQ là vấn đề có ý nghĩa rất to lớn, không chỉ để hiểu biết thêm tư tưởng của Người mà từ sự hiểu biết đó chúng ta nghiên cứu, vận dụng vào thực tiễn xây dựng sức mạnh BVTQ trong điều kiện mới, nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong mọi tình huống.
________________________________
(1), (2), (3), (11) Hồ Chí Minh, Toàn tập, (2000) Nxb CTQG, H., T.4, tr 298, 221, 447, 126.
(4), (5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, (2000), Nxb CTQG, H., T.7, tr 400, 438.
(6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, (2000), Nxb CTQG, H., T.11, tr244
(7), (9) Hồ Chí Minh, Toàn tập, (2000), Nxb CTQG, H., T.1, tr11, 434.
(8), (10) Hồ Chí Minh, Toàn tập, (2000), Nxb CTQG, H., T.6, tr38, 522.
Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Báo chí và Tuyên truyền số 6 (tháng 11+12)/2005
Bài liên quan
- Phát huy giá trị di tích Hồ Chí Minh trong nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập lý luận chính trị cho sinh viên hiện nay
- Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên lý luận chính trị ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền hiện nay
- Vai trò của đoàn kết dân tộc trong xây dựng, bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Những vấn đề đặt ra trong nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm phát triển báo chí, truyền thông Việt Nam hiện nay
- Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc sử dụng cán bộ trong xây dựng cán bộ chuyên trách đối ngoại quốc phòng quân đội hiện nay
Xem nhiều
-
1
Đổi mới tư duy của Nhà nước trong kỷ nguyên số: Từ quản lý sang quản trị, kiến tạo phát triển
-
2
Giá trị biểu tượng của con ngựa trong văn hóa Việt Nam và ý nghĩa đối với sự phát triển văn hóa đất nước trong kỷ nguyên vươn mình
-
3
Đổi mới sáng tạo thu hẹp khoảng cách giáo dục vùng sâu, vùng xa Việt Nam trong kỷ nguyên mới
-
4
Thời cơ và thách thức đối với chính quyền cấp xã sau sáp nhập chính quyền địa phương hai cấp tỉnh Tuyên Quang hiện nay
-
5
Công tác sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay: Thực trạng và giải pháp
-
6
Tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Long trong công tác bình đẳng giới hiện nay
Liên kết
- Báo điện tử đảng cộng sản việt nam
- Báo nhân dân
- Báo Quân đội nhân dân
- Cổng thông tin điện tử Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia hồ chí minh
- Tạp chí Cộng sản
- Tạp chí Giáo dục lý luận
- Tạp chí Giáo dục và Xã hội
- Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
- Tạp chí Lý luận chính trị
- Tạp chí Nghiên cứu con người
- TẠP CHÍ Nghiên cứu dân tộc
- Tạp chí Người làm báo
- Tạp chí Nội chính
- Tạp chí Quản lý Nhà nước
- Tạp chí Tổ chức Nhà nước
- Tạp chí Tuyên giáo
- Tạp chí Xây Dựng Đảng
- Thư viện số Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Trang thông tin điện tử Hội đồng Lý luận Trung ương
Đổi mới sáng tạo thu hẹp khoảng cách giáo dục vùng sâu, vùng xa Việt Nam trong kỷ nguyên mới
Giáo dục là nền tảng then chốt trong phát triển nguồn nhân lực, thu hẹp bất bình đẳng và thúc đẩy phát triển bền vững quốc gia. Mặc dù Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phổ cập giáo dục và mở rộng cơ hội học tập, song khoảng cách về điều kiện tiếp cận, chất lượng và hiệu quả giáo dục giữa khu vực đô thị và vùng sâu, vùng xa vẫn còn lớn. Trong bối cảnh kỷ nguyên số và chuyển đổi số quốc gia, đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực quan trọng để giải quyết những thách thức này. Bài viết tiếp cận vấn đề từ góc độ đổi mới sáng tạo trong giáo dục, không chỉ giới hạn ở ứng dụng công nghệ mà còn bao gồm đổi mới tư duy, mô hình tổ chức, cơ chế phối hợp và chính sách quản trị công. Qua đó, bài viết góp phần làm rõ vai trò của đổi mới sáng tạo trong thu hẹp khoảng cách giáo dục, đồng thời đề xuất một số giải pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn của giáo dục vùng sâu, vùng xa ở Việt Nam.
Phát huy giá trị di tích Hồ Chí Minh trong nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập lý luận chính trị cho sinh viên hiện nay
Phát huy giá trị di tích Hồ Chí Minh trong nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập lý luận chính trị cho sinh viên hiện nay
Với gần 900 bảo tàng, di tích, điểm di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở mọi miền đất nước, hệ thống di tích Hồ Chí Minh đã góp phần làm phong phú thêm về cuộc đời cao đẹp, sự nghiệp vĩ đại, tư tưởng tiến bộ, đạo đức sáng ngời, phong cách giản dị, cao quý của Người. Không chỉ là “địa chỉ đỏ” để quy tụ tình cảm, giáo dục truyền thống, khơi dậy khát vọng cống hiến, sáng tạo của các thế hệ người Việt Nam nói chung, thế hệ trẻ nói riêng, hệ thống này còn lan tỏa các giá trị trường tồn của di sản Hồ Chí Minh đến các dân tộc trên thế giới. Vì vậy, tiếp tục nghiên cứu, bảo tồn, gìn giữ và phát huy giá trị di tích Hồ Chí Minh hiện nay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Từ đó giúp mỗi người chúng ta, đặc biệt là thế hệ trẻ, tin tưởng, tích cực, chủ động trong học tập và làm theo Bác với tất cả sự kính trọng, tình cảm, trách nhiệm và niềm tin vào con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn.
Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên lý luận chính trị ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền hiện nay
Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên lý luận chính trị ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền hiện nay
Giảng viên lý luận chính trị ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền là lực lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng trong sự nghiệp giáo dục lý luận chính trị của Học viện. Trước yêu cầu, nhiệm vụ chính trị ngày càng cao trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đội ngũ giảng viên lý luận chính trị phải thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực nghiên cứu, trong đó, việc nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học giữ vai trò then chốt. Bài viết phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động nghiên cứu của giảng viên lý luận chính trị tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, đồng thời đề xuất một số giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng nghiên cứu khoa học của đội ngũ này trong thời gian tới.
Vai trò của đoàn kết dân tộc trong xây dựng, bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Vai trò của đoàn kết dân tộc trong xây dựng, bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Đoàn kết dân tộc giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc củng cố nền tảng chính trị - xã hội, tạo sự đồng thuận cho quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thông qua việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết, giúp tăng cường niềm tin của Nhân dân, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Đoàn kết dân tộc cũng góp phần bảo vệ vững chắc an ninh, ổn định xã hội trong bối cảnh mới. Bài viết phân tích vai trò và đề xuất giải pháp phát huy vai trò đoàn kết dân tộc trong xây dựng, bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Những vấn đề đặt ra trong nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm phát triển báo chí, truyền thông Việt Nam hiện nay
Những vấn đề đặt ra trong nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm phát triển báo chí, truyền thông Việt Nam hiện nay
Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng đã nêu ra nhiều quan điểm thiết thực chỉ đạo sự phát triển của lĩnh vực báo chí, tuyên truyền; đồng thời Người cũng là một nhà báo thực thụ với nhiều trải nghiệm làm báo vô giá mà không phải nhà báo nào cũng được trải qua. Với sự am tường sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn đó, Hồ Chí Minh đã để lại di sản trong lĩnh vực báo chí tương đối đồ sộ. Nghiên cứu, vận dụng di sản đó nhằm phát triển nền báo chí - truyền thông hiện đại, nhân văn, cách mạng trong giai đoạn mới là đòi hỏi tất yếu. Tuy nhiên, trong thực tiễn nghiên cứu, vận dụng lại đặt ra một số vấn đề, đòi hỏi chúng ta phải nhận thức thấu đáo để từ đó tìm ra những giải pháp khả thi và hữu dụng.
llcttt1994dientu@gmail.com
024.38348033
Bình luận