5 năm thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở Tỉnh Vĩnh Phúc
Hiện nay, trên thế giới cũng như ở nước ta sự phân hóa giàu nghèo có xu hướng tăng lên. Ở Việt Nam khoảng cách giữa 20% số người giàu nhất và 20% số người nghèo nhất chênh lệch từ 8 đến 10 lần. Đây vừa là một thực trạng, đồng thời là một thách thức lớn đối với toàn xã hội. Chiến thắng đói nghèo, hạn chế phân hoá giàu nghèo trở thành một mục tiêu quan trọng của Đảng, Nhà nước ta, góp phần giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa phấn đấu phát triển kinh tế đi đôi với công bằng xã hội, để hòa nhập vào xu thế phát triển của khu vực và thế giới.
Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước luôn chăm lo đến đời sống của nhân dân, trong đó, đặc biệt quan tâm đến người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX nêu rõ mục tiêu: "Phấn đấu đến năm 2005, về cơ bản, không còn hộ đói, chỉ còn khoảng 10% hộ nghèo. Nâng dần mức sống của các hộ đã thoát nghèo, tránh tình trạng tái nghèo". Quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước ta là: "Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân về ăn mặc, ở, đi lại, phòng và chữa bệnh. Khuyến khích làm giàu hợp pháp, đồng thời ra sức xóa đói giảm nghèo". Các chủ trương, chính sách của Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay được ban hành và đi vào cuộc sống, ưu tiên hướng vào vùng nghèo, xã nghèo, hộ nghèo đặc biệt là vùng núi, địa phương thuộc vùng 135, hộ nghèo thuộc diện chính sách xã hội, hộ dân tộc thiểu số… nhằm tạo cơ hội cho người nghèo thoát nghèo, tiến tới xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XIII đã xác định chương trình xóa đói giảm nghèo là một trong 10 chương trình kinh tế - xã hội lớn của tỉnh. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc khóa XIII kỳ họp thứ 8 đã đề ra mục tiêu là: "Phấn đấu mỗi năm giảm 1% hộ nghèo, để đến cuối năm 2005 tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh còn 7,2%".
Để đưa các Nghị quyết trên vào cuộc sống, được sự chỉ đạo chặt chẽ sát sao của ủy ban nhân dân tỉnh, các cấp, các ngành, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể nhân dân từ tỉnh đến cơ sở đã cùng nhau vào cuộc một cách tích cực, quyết tâm tiến công chiến thắng nghèo đói. Bằng nhiều biện pháp cụ thể, được xây dựng, tổ chức triển khai thực hiện một cách đồng bộ, trong 4 năm 2001 - 2004, chương trình xóa đói giảm nghèo đã đạt được những kết quả đáng phấn khởi. Toàn tỉnh có 248.000 lượt người nghèo được khám chữa bệnh, miễn giảm viện phí. Hầu hết học sinh, sinh viên con hộ nghèo được miễn học phí, học sinh các trường dân tộc nội trú được cấp học bổng. Hàng vạn lượt đối tượng chính sách, người nghèo có hoàn cảnh khó khăn như trẻ em mồ côi, người già cô đơn không nơi nương tựa, người tàn tật nặng… được hưởng chế độ trợ cấp hằng tháng của Nhà nước. Đã có gần 2.000 hộ nghèo được hỗ trợ xây dựng nhà ở, có trên 48.000 lượt hộ nghèo được vay vốn của Ngân hàng Chính sách xã hội, quỹ xóa đói giảm nghèo của tỉnh, 100% hộ nghèo vay vốn hỗ trợ 0,25% lãi xuất. Đặc biệt sáu xã thuộc chương trình 135, một số xã nghèo của tỉnh được đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu. Hiện nay, 100% các xã có đường ô tô đến trung tâm, 100% số xã có điện, có trạm y tế đủ điều kiện để phục vụ đời sống của nhân dân. Trường học, phòng học đã dần dần tạo được điều kiện cho các em học sinh học tập tốt hơn. Các công trình thủy lơị, trạm bơm, hệ thống kênh mương từng bước được cải tạo, nâng cấp góp phần phục vụ sản xuất nông nghiệp. Tổng nguồn vốn huy động (bao gồm cả các nguồn tham gia lồng ghép) cho chương trình xóa đói giảm nghèo trong 4 năm đạt trên 480 tỷ đồng, bình quân mỗi năm đã huy động trên 120 tỷ đồng.
Năm 2001, tỉnh có 29.363 hộ nghèo (chiếm 12,26%) thì đến cuối năm 2004 toàn tỉnh chỉ còn 15.102 hộ nghèo (chiếm 6,6%), như vậy sau 4 năm số hộ nghèo và tỷ lệ hộ nghèo đã giảm đi một nửa, bình quân mỗi năm giảm được 1,4% hộ nghèo. So với mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh đề ra thì đến nay chúng ta đã hoàn thành vượt chỉ tiêu và về đích trước 1 năm.
Trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo đã xuất hiện nhiều tấm gương tiêu biểu, điển hình. Đó là những tập thể, huyện thị, xã phường có những cách làm mới, thể hiện sự năng động, sáng tạo, tích cực tìm kiếm giải pháp xóa đói, giảm nghèo mang tính khả thi, khai thác được nhiều nguồn lực, triển khai đồng bộ các nội dung hoạt động của chương trình, hoàn thành xuất sắc, toàn diện mục tiêu đề ra. Đó còn là những cá nhân gương mẫu chấp hành tốt chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về xóa đói giảm nghèo, khắc phục khó khăn phát huy nội lực, có nhiều đóng góp cụ thể, thiết thực cùng gia đình, địa phương thực hiện hiệu quả thoát nghèo đi lên.
Thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm giai đoạn 2001- 2005, huyện Vĩnh Tường đã triển khai dự án chăn nuôi bò sinh sản. Đến nay, tất cả 29 xã với trên 400 hộ nghèo trong huyện đều được vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội, tổng vốn vay 2,5 tỷ đồng. Nhờ có chính sách hỗ trợ hộ nghèo chăn nuôi bò sinh sản như hỗ trợ lãi xuất cho vay, hỗ trợ rủi ro, chăm sóc phòng chữa bệnh, phối giống… dự án đã được hầu hết các hộ đồng tình ủng hộ. Trong 2 năm đã có trên 20% số hộ dân ở các xã nuôi bò thoát nghèo. Mô hình chăn nuôi bò ở huyện Vĩnh Tường cần được các huyện khác nghiên cứu học tập và nhân rộng.
Sơn Lôi là một xã nghèo của huyện Bình Xuyên và của tỉnh. Năm 2001, tỷ lệ hộ nghèo của xã là 40,7%. Nhờ có chương trình xóa đói giảm nghèo, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và của tỉnh, đặc biệt là chương trình đầu tư cho các xã nghèo ngoài chương trình 135, trong những năm qua đã và đang được đầu tư xây dựng, hiện có 24 phòng học được kiên cố hoá, trạm bơm trung tâm được cải tạo, nâng cấp, bê tông hoá 5km kênh mương, cầu An Lão đã hoàn thành và đưa vào sử dụng. Bằng các nguồn vốn vay trên 2 tỷ đồng, ủy ban nhân dân xã đã chỉ đạo triển khai đồng bộ dự án: trồng dâu tằm, chăn nuôi bò, lợn sinh sản, sản xuất rau giống,… Các chương trình đó đã tạo điều kiện cho các hộ dân trong xã, đặc biệt là hộ nghèo, có điều kiện phát triển sản xuất kinh tế gia đình, đời sống của nhân dân đã được nâng lên. Tỷ lệ hộ nghèo trong 4 năm đã giảm 16,17%, bình quân mỗi năm giảm được 4,2%.
Ông Trần Ngọc Sơn ở phố Lò Cang, thị trấn Hương Canh huyện Bình Xuyên không có đất ruộng để canh tác vì trước đây gia đình ông thuộc hộ phi nông nghiệp (là xã viên hợp tác xã gốm sau đó hợp tác xã giải thể). Hằng ngày vợ chồng ông phải đi mò tôm, bắt cá bán lấy tiền sinh sống và nuôi các con ăn học. Được sự giúp đỡ của khu dân cư và chính quyền địa phương năm 2003, ông được xét cho vay 3 triệu đồng, ông mạnh dạn vay thêm của anh em họ hàng, mua thêm 01 cặp bò sinh sản. Nhờ biết cách chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng bệnh, năm 2004, gia đình ông không những thoát nghèo mà trở thành hộ có cuộc sống khá giả trong khu phố Lò Cang, ông đã xây được ngôi nhà 4 gian, mua sắm được xe máy loại tốt và một số đồ dùng sinh hoạt đắt tiền.
Ông Lê Văn Sơn thuộc diện hộ nghèo nhất của xã Đại Đồng, huyện Vĩnh Tường trong nhiều năm. Từ năm 1998, nhờ có chính sách xóa đói giảm nghèo, gia đình ông được Nhà nước giúp đỡ về nhiều mặt như trợ cấp khó khăn đột xuất, cấp thẻ bảo hiểm y tế, miễn giảm thuế nông nghiệp, điều chỉnh tăng ruộng đất, vay vốn ngân hàng… Nhờ được hướng dẫn cách làm ăn, với bản chất cần cù chịu khó, ruộng đất của gia đình ông được bố trí trồng các loại cây phù hợp, ngoài cây lúa, gia đình thâm canh cây giống và rau thương phẩm để bán. Thu hoạch từ 8 đến 10 triệu đồng. Nhờ được ngân hàng cho vay vốn kết hợp với vốn tự có, ông đầu tư chăn nuôi 2 trâu cái, 2 lợn sinh sản và đàn gia cầm. Hằng năm, gia đình có thêm thu nhập từ chăn nuôi 20 triệu đồng. Năm 2004, gia đình ông đã xây dựng được 4 gian nhà mái bằng kiên cố, cái nghèo đã không còn đeo bám gia đình ông như những năm trước đây.
Tuy tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh đã giảm đi một nửa so với năm 2001, nhưng nhiệm vụ xóa đói giảm nghèo của năm 2005 và những năm tiếp theo còn rất nặng nề. Toàn tỉnh vẫn còn trên 15.000 hộ với trên 60.000 người nghèo, gần 3.000 hộ nghèo ở nhà tre, dột nát. Một số công trình hạ tầng thiết yếu của xã nghèo, xã miền núi còn thiếu, chưa được kiên cố hóa, đặc biệt là về thủy lợi, giao thông nông thôn, nước sạch sinh hoạt. Mức sống của người nghèo còn rất thấp, một bộ phận người nghèo còn chưa được tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản. Chuẩn nghèo tới đây sẽ được điều chỉnh cao hơn, theo đó số hộ nghèo cũng như tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh sẽ gấp 3 lần so với hiện nay.
Năm 2005 là năm cuối thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX. Mục tiêu đặt ra về xóa đói giảm nghèo là: Tiếp tục nâng cao chất lượng cuộc sống của người nghèo, cải thiện cơ bản về nhà ở cho hộ nghèo, không để hộ nghèo phải ở trong ngôi nhà tạm, dột nát, phấn đấu giảm ít nhất 1% hộ nghèo để đến cuối năm 2005, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh còn 5,6%, xóa khoảng 3.000 nhà tranh tre, dột nát cho hộ nghèo, trong đó có 400 hộ dân tộc thiểu số. Để thực hiện mục tiêu trên, nhiệm vụ đặt ra là cần có sự chỉ đạo tập trung với tinh thần quyết tâm cao hơn nữa của tất cả các cấp, các ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đặc biệt là cấp xã, phường, thị trấn.
Với sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân tỉnh, khả năng về thu ngân sách năm và sự đồng tình, ủng hộ của đông đảo người dân, tỉnh Vĩnh Phúc có điều kiện thuận lợi để hoàn thành thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội đặt ra, trong đó có mục tiêu giảm nghèo, hy vọng chương trình xóa đói giảm nghèo của tỉnh trong năm 2005 và những năm tiếp theo sẽ đạt tốc độ nhanh hơn, kết quả sẽ bền vững hơn./.
_________________
Bài đăng trên Tạp chí Báo chí và Tuyên truyền số tháng 5+6.2005
Hà Văn Cường
Bài liên quan
- Vai trò của người lãnh đạo trong công tác truyền thông chính sách tại Việt Nam
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc trong Báo cáo Chính trị Đại hội XIV của Đảng
- Thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay
- Thành ủy Hải Phòng lãnh đạo phát triển kinh tế biển hiện nay: Thực trạng và giải pháp
- Một số rào cản khi xây dựng văn hóa công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tại Việt Nam*
Xem nhiều
-
1
Tạp chí điện tử Văn hoá và Phát triển với vai trò bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Mường
-
2
Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV: củng cố nền tảng, khơi thông động lực, thúc đẩy phát triển bền vững
-
3
Kiên định tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh giữ gìn “hồn dân tộc”, đón nhận “trí tuệ nhân loại” trong kỷ nguyên số
-
4
Cơ sở lý luận và thực tiễn về Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc trong Báo cáo Chính trị Đại hội XIV của Đảng
-
5
Chiến lược truyền thông về du lịch Halal trên thế giới và gợi mở cho truyền thông Việt Nam
-
6
Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông nguy cơ tại Việt Nam hiện nay
Liên kết
- Báo điện tử đảng cộng sản việt nam
- Báo nhân dân
- Báo Quân đội nhân dân
- Cổng thông tin điện tử Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia hồ chí minh
- Tạp chí Cộng sản
- Tạp chí Giáo dục lý luận
- Tạp chí Giáo dục và Xã hội
- Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
- Tạp chí Lý luận chính trị
- Tạp chí Nghiên cứu con người
- TẠP CHÍ Nghiên cứu dân tộc
- Tạp chí Người làm báo
- Tạp chí Nội chính
- Tạp chí Quản lý Nhà nước
- Tạp chí Tổ chức Nhà nước
- Tạp chí Tuyên giáo
- Tạp chí Xây Dựng Đảng
- Thư viện số Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Trang thông tin điện tử Hội đồng Lý luận Trung ương
Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông nguy cơ tại Việt Nam hiện nay
Bài báo hệ thống hóa cơ sở lý luận về truyền thông nguy cơ từ lăng kính quản trị quốc gia, bảo vệ an ninh phi truyền thống và định hướng dư luận xã hội. Thông qua phân tích thực trạng công tác truyền thông nguy cơ tại Việt Nam trong bối cảnh ứng phó với các dịch bệnh lây nhiễm mới nổi và thảm họa y tế công cộng, nghiên cứu làm sáng tỏ những dấu ấn thành tựu trong việc huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị nhằm củng cố vững chắc thế trận lòng dân. Song song đó, bài viết nhận diện một cách khách quan, khoa học những điểm nghẽn mang tính cấu trúc về năng lực “gác cổng” thông tin, sự thiếu đồng bộ trong quy trình điều hành liên ngành và công tác kiểm soát khủng hoảng trên không gian mạng tại tuyến cơ sở. Dựa trên hệ quy chiếu lý luận và thực tiễn, nghiên cứu đề xuất hệ thống giải pháp chiến lược nhằm chuẩn hóa diễn ngôn học thuật, hoàn thiện thể chế ứng phó và nâng tầm bản lĩnh chính trị cho đội ngũ truyền thông, qua đó góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước mọi biến cố.
Vai trò của người lãnh đạo trong công tác truyền thông chính sách tại Việt Nam
Vai trò của người lãnh đạo trong công tác truyền thông chính sách tại Việt Nam
Trong bối cảnh đổi mới quản trị nhà nước và chuyển đổi số mạnh mẽ, truyền thông chính sách không chỉ là công cụ phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước tới người dân, mà còn là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và người dân, củng cố niềm tin và bảo đảm sự tham gia của người dân vào quá trình hoạch định, thực thi chính sách. Bài viết tập trung phân tích vai trò của người lãnh đạo, nhất là người đứng đầu, trong truyền thông chính sách, từ định hướng nội dung, tổ chức thực thi đến quản trị khủng hoảng thông tin; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của người lãnh đạo trong công tác truyền thông chính sách, góp phần tăng cường hiệu quả thực thi chính sách trong thực tiễn.
Cơ sở lý luận và thực tiễn về Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc trong Báo cáo Chính trị Đại hội XIV của Đảng
Cơ sở lý luận và thực tiễn về Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc trong Báo cáo Chính trị Đại hội XIV của Đảng
Bài báo phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xác lập “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam” trong Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng, bài báo làm rõ tính tất yếu khách quan, nội hàm và các đặc trưng cơ bản của kỷ nguyên vươn mình trong bối cảnh mới. Từ việc tổng kết gần 40 năm đổi mới, phân tích những thành tựu, thời cơ và thách thức đan xen hiện nay, bài viết khẳng định việc xác lập kỷ nguyên vươn mình không chỉ phản ánh bước phát triển mới trong tư duy chiến lược của Đảng, mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng công tác lãnh đạo, quản lý và truyền thông chính trị, góp phần thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững ở Việt Nam.
Thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay
Thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay
Thực hành dân chủ cơ sở giữ vai trò quan trọng trong xây dựng nông thôn mới, góp phần phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, huy động nguồn lực xã hội và nâng cao hiệu quả quản lý ở cơ sở. Bài viết làm rõ một số vấn đề lý luận về thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới, phân tích thực trạng triển khai với những kết quả đạt được và những hạn chế còn tồn tại. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất giải pháp phát huy dân chủ cơ sở, đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay.
Thành ủy Hải Phòng lãnh đạo phát triển kinh tế biển hiện nay: Thực trạng và giải pháp
Thành ủy Hải Phòng lãnh đạo phát triển kinh tế biển hiện nay: Thực trạng và giải pháp
Phát triển kinh tế biển có vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quốc gia, tạo việc làm, nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm an ninh quốc phòng, bảo vệ chủ quyền biển đảo và khai thác bền vững. Bài viết làm rõ thực trạng Thành ủy Hải Phòng lãnh đạo phát triển kinh tế biển qua những kết quả đạt được cũng như hạn chế còn tồn tại; từ đó, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này thời gian tới.
llcttt1994dientu@gmail.com
024.38348033
Bình luận