Giá trị lịch sử của những tác phẩm ảnh báo chí
Ảnh báo chí phản ánh hiện thực cuộc sống bằng ngôn ngữ hình ảnh. Những bức ảnh báo chí có tính mục đích rõ ràng, ghi nhận những sự vật, hiện tượng tại mốc thời gian gần nhất với thời điểm hình ảnh được công bố, đăng tải. Tính chân thật và khách quan của ảnh báo chí là đặc trưng cơ bản của các tác phẩm ảnh, điều này giúp các bức ảnh có thể tái hiện lại các khoảnh khắc lịch sử, bất kể đó là sự kiện vừa diễn ra hay là câu chuyện đã tồn tại từ hàng trăm năm trước. Nhìn từ góc độ nghiên cứu lịch sử, các tác phẩm ảnh báo chí góp phần phản ánh những hoạt động của con người trong quá trình tương tác giữa con người với tự nhiên và quá trình con người tương tác với nhau.
Trong quá trình tương tác giữa con người với tự nhiên, lịch sử được hình thành, bao gồm cả lịch sử phát triển của tự nhiên và lịch sử phát triển của xã hội loài người. Cùng với sự phát triển của công nghệ và khoa học kỹ thuật, nhiếp ảnh nói chung và ảnh báo chí nói riêng đã trở thành phương tiện hữu hiệu ghi nhận và tái hiện lịch sử của tự nhiên ở khía cạnh thuần túy tự nhiên, bao gồm mọi hoạt động không có sự can thiệp của con người. Đó có thể là hình ảnh bầy chim đang làm tổ, một chú gấu bắc cực giữa mênh mông tuyết trắng, một cú vồ mồi chớp nhoáng của chim đại bàng v.v. Từ đó, chúng ta nhìn thấy tự nhiên biến đổi như thế nào qua thời gian. Đó là hình ảnh một tảng băng trôi lờ lững cho thấy khí hậu toàn cầu đang nóng lên, dẫn đến hiện tượng băng tan ở hai cực của trái đất, hình ảnh một đàn bò rừng bison gặm cỏ lúc rạng đông, nhấn mạnh thực tế một chủng loài động vật cần được bảo vệ v.v...
Khi tự nhiên tồn tại ngoài sự can thiệp của con người, ảnh báo chí cho chúng ta nhìn thấy những khoảnh khắc dữ dội nhất của một trận lũ lụt, một cơn lốc xoáy hay một vụ phun trào núi lửa. Từ đó, lịch sử tồn tại và thay đổi của một cộng đồng người được nhắc đến và ghi nhận như những dữ liệu lịch sử không thể thay đổi. Ví dụ: Vụ phun trào núi lửa Pinatubo (Philippin) năm 1991 khiến hơn 800 người thiệt mạng; vụ động đất ở Tứ Xuyên năm 2008 ghi nhận gần 70 nghìn người chết, 17 nghìn người mất tích, hàng trăm nghìn người bị thương, hơn 5 triệu người mất đi nhà cửa; vụ sóng thần ở Nhật Bản năm 2011 lấy đi sinh mạng của 18.500 người với thiệt hại kinh tế ước tính lên tới 300 tỷ USD.
Ở khía cạnh tự nhiên tồn tại trong mối quan hệ tương tác với con người, chúng ta thấy lịch sử phát triển của tự nhiên gắn liền, không thể tách rời với sự phát triển của xã hội loài người. Ví dụ: Hình ảnh người đàn ông đứng trước một núi sọ bò rừng bị sát hại, nhắc lại giai đoạn lịch sử thế kỷ 19, những người định cư và thợ săn đã đẩy bò rừng gần như đến bờ vực tuyệt chủng. Đây không chỉ là hậu quả của việc săn bắn quá mức, mà còn là một chiến lược có chủ đích được chính phủ Hoa Kỳ và những người định cư sử dụng, kế hoạch này nhằm mục đích phá hủy nền tảng của cuộc sống bản địa và buộc họ phải sống trong các khu bảo tồn.
Chính sự xuất hiện hiếm hoi của một loài động vật tưởng chừng dễ bắt gặp trong đời sống hàng ngày là lý do để trao giải nhất Ảnh báo chí thế giới (Hạng mục Nature) năm 1986 cho tác giả James A. Sugar của tờ báo Black Star (Mỹ), với hình ảnh một đàn bò rừng Bison xuất hiện lúc bình minh.
Trong mối quan hệ với tự nhiên, ảnh báo chí phản ánh cả mặt tích cực và tiêu cực. Ở mặt tích cực, ảnh báo chí kể câu chuyện về những nỗ lực của con người bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường. Chúng ta có thể nhìn thấy những cố gắng không ngừng nghỉ của con người mở rộng diện tích cây xanh, bảo vệ đất đai cây trồng, hay hình ảnh những cộng đồng người sống hòa hợp với tự nhiên... Năm 2015, nhiếp ảnh gia Christian Ziegler (Germany) ghi lại dấu ấn với bộ ảnh tuyệt đẹp về hành vi của các loài thực vật. Mười bức ảnh chụp đặc tả miêu tả chi tiết hình ảnh các loài thực vật ăn thịt đã tiến hóa ở một số vùng khác nhau trên thế giới, để phản ứng với môi trường thiếu dinh dưỡng. Hay bộ ảnh rực rỡ màu sắc của tạp chí National Geographic năm 2016 về loài tắc kè hoa ở Madagascar đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng do nạn phá rừng làm mất môi trường sống, đoạt giải ba Ảnh báo chí thế giới. Ở mặt tiêu cực, các tác phẩm ảnh báo chí ghi lại những “vết sẹo” của tự nhiên, thông qua các đề tài về ô nhiễm môi trường, về thực trạng diện tích rừng tự nhiên bị thu hẹp, những loài động vật hoang dã bị tàn sát v.v. ở khắp nơi trên thế giới.
Bắt đầu từ 2018, giải Ảnh báo chí thế giới giành riêng một hạng mục cho giải ảnh báo chí về môi trường. Con người sống, hít thở và tồn tại đều dựa vào môi trường, thế nhưng những ứng xử của con người với môi trường đang khiến cho cuộc sống của chính con người đang bị đe dọa, vì khiến môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng. Trong bức ảnh đoạt giải ba Ảnh báo chí thế giới, hạng mục Envirment (Môi trường), tác giả Mário Cruz chụp một đứa trẻ thu thập vật liệu tái chế nằm trên một tấm nệm xung quanh là rác trôi nổi trên Sông Pasig, ở Manila, Philippines. Bức ảnh đã tái hiện một hiện thực đau lòng rằng sông Pasig được tuyên bố là đã chết về mặt sinh học vào những năm 1990, do sự kết hợp của ô nhiễm công nghiệp và chất thải mà các cộng đồng lân cận đổ ra. Một báo cáo năm 2017 của Nature Communications cho thấy Pasig là một trong 20 con sông ô nhiễm nhất thế giới, với 63.700 tấn nhựa đổ ra đại dương mỗi năm. Những nỗ lực đang được thực hiện để làm sạch Pasig, được công nhận bằng một giải thưởng quốc tế vào năm 2018, nhưng ở một số phần của con sông, chất thải vẫn quá dày đặc đến mức có thể đi bộ trên rác.
Chúng ta nhìn thấy lịch sử xã hội của con người chịu chi phối của tự nhiên, gắn bó không thể tách rời với tự nhiên. Nơi những cánh rừng bị chặt phá, những loài động vật bị tàn sát là nơi có nền kinh tế phát triển lạc hậu, an ninh lương thực bị đe dọa, như trong bức ảnh báo chí của tác giả K M Asad (Bangladesh) mang một thông điệp rõ ràng về ảnh hưởng của môi trường đến cuộc sống của con người. Thông tin trong bức ảnh cho biết người dân sống tại Kalabogi và khu vực Sundarbans phải chịu cảnh thiếu nước vào mùa khô do mực nước biển dâng cao và độ mặn trong nguồn nước ngọt ngày càng tăng. Từ hình ảnh vệ tinh đã phát hiện mực nước biển dâng cao 200 mét mỗi năm ở một số nơi trong khu vực. Các khảo sát cũng chỉ ra rằng ước tính có khoảng 20 triệu người sống dọc theo bờ biển Bangladesh bị ảnh hưởng bởi độ mặn trong nước uống. Hơn một nửa các khu vực ven biển bị ảnh hưởng bởi độ mặn, làm giảm năng suất đất và sự phát triển của thảm thực vật, là nguyên nhân dẫn đến suy thoái môi trường và ảnh hưởng đến cuộc sống và sinh kế của người dân. Các cánh đồng lúa và đất canh tác được chuyển đổi thành các trang trại nuôi tôm, cũng là nguyên nhân làm tăng thêm độ mặn của nước ngầm và suy thoái đất.
Trong quá trình con người tương tác với nhau, các lĩnh vực của đời sống xã hội được hình thành và phát triển, tạo thành nguồn dữ liệu vô tận cho lịch sử. Qua các bức ảnh báo chí, chúng ta không chỉ nhìn thấy ký ức của một con người cụ thể, mà còn là cả một giai đoạn lịch sử lắng đọng trong từng khoảnh khắc bấm máy. Đó là một bé gái khóc òa trong vòng tay của người cha vốn là tù nhân chiến tranh sau thế chiến thứ hai, là cô gái da đen ngẩng cao đầu giữa những khuôn mặt hằn học trong ngôi trường phân biệt chủng tộc ở Mỹ năm 1957, là người mẹ ôm con vượt qua dòng nước xiết của dòng sông chia cắt đôi bờ đất nước Việt Nam năm 1965, là hai người lính ở hai bên chiến tuyến khoác vai nhau trong khoảnh khắc hiếm hoi năm 1973, là hai vợ chồng nhìn nhau qua khung cửa sổ trong đại dịch covid 19 năm 2021 v.v. Tất cả những bức ảnh báo chí đó mang trong mình giá trị lịch sử bởi nội dung chân thực và thấm đẫm hơi thở của thời đại.
Tác giả Alfred Eisenstaedt hồi tưởng về thời điểm ông chụp bức ảnh “Ngày chiến thắng”, đó là ngày kết thúc của cuộc chiến tranh thế giới II. Ông nhìn thấy một người lính thủy quân vừa xuống tàu, niềm hạnh phúc bất ngờ khiến anh tóm lấy tất cả những ai mà anh bắt gặp ở bến tàu, ôm lấy họ và hôn “quên trời đất”. Ở một buổi phỏng vấn, tác giả đã bày tỏ sự hài lòng về bức ảnh, không chỉ bởi khoảnh khắc “đi vào lịch sử” mà còn bởi ông đã bắt được sự tương phản về màu sắc trang phục của hai nhân vật, bố cục hài hòa một cách “thần kỳ” giữa hai nhân vật chính và những người xung quanh.
Trong kho tàng ảnh báo chí Việt Nam, những bức ảnh báo chí gắn liền với lịch sử hào hùng của dân tộc. Những khoảnh khắc được lưu giữ trong mỗi bức ảnh đánh dấu từng chặng đường đã qua của những con người cụ thể, của những sự kiện cụ thể, của những khoảnh khắc “không nói nên lời”. Mỗi bức ảnh mang theo nó hạnh phúc, nỗi đau, sự mất mát hy sinh và cả niềm tin, niềm hạnh phúc chói lòa của các nhân vật “làm nên lịch sử”. Năm 1975, phóng viên ảnh Lâm Hồng Long (Thông tấn xã Việt Nam) đã trở thành nhân chứng của khoảng khắc thiêng liêng, khi người chiến sĩ cộng sản gặp lại mẹ, bị tuyên án tử hình và bị giam giữ tại nhà tù Côn Đảo. Ngày 30/4/1975 là ngày thống nhất đất nước, cũng là ngày đoàn tụ của hàng triệu gia đình người Việt Nam đã phải xa cách do chiến tranh. Bức ảnh của Lâm Hồng Long đã trở thành biểu tượng thiêng liêng cho khát vọng hòa bình của đất nước, của dân tộc.
Dấu ấn của các phóng viên ảnh in dấu trong các tác phẩm ảnh báo chí, như những người ghi chép lại lịch sử dũng cảm nhất. Họ là những phóng viên chiến trường, với chiếc máy ảnh là vũ khí. Nếu người lính phải nhấn vào cò súng để tiêu diệt kẻ thù, thì người phóng viên ảnh nhấn vào cò bấm máy ảnh để giữ lại những khoảnh khắc con người phải đấu tranh giữa ranh giới sự sống và cái chết. Những khoảnh khắc đó mang giá trị lịch sử bởi nó không thể lặp lại, không thể sắp đặt, như khoảnh khắc một nhà sư tự thiêu trên đường phố Sài Gòn năm 1962 trong bức ảnh của Malcolm W. Browne (AP), khoảnh khắc một bé gái với thân thể bỏng rát bởi bom napan trong bức ảnh của Nick Ut năm 1971 ở Việt Nam ... Một trong những bức ảnh được xem là biểu tượng để phản đối chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam tại nước ngoài, là bức ảnh “Phúc Tân kêu gọi trả thù” của tác giả Vũ Ba (Báo Quân đội Nhân dân). Năm 1967, khi Liên Xô làm triển lãm kỷ niệm Cách mạng tháng Mười, nước bạn đã nhận được tác phẩm này và sau đó đã sửa tên thành Không thể để thế này được và trao giải thưởng lớn cho tác giả. Những giải thưởng, những bằng khen được trao cho các tác giả không chỉ để công nhận giá trị lịch sử của các bức ảnh, mà còn để ghi nhận đóng góp và vai trò của các tác giả trong mỗi khoảnh khắc lịch sử.
Khi ảnh báo chí phản ánh chân thực cuộc sống, mỗi khoảnh khắc sẽ là chiếc gương soi của hiện tại và là câu chuyện lịch sử được nhắc tới trong tương lai. Người phóng viên ảnh từ lâu nay được nhắc tới như những người viết sử bằng ngôn ngữ hình ảnh, các bức ảnh phải đáp ứng những yêu cầu tối thiểu là: chân thực khách quan, thời sự, tư tưởng, đại chúng và thẩm mỹ. Những bức ảnh báo chí có thể trở thành những tài liệu lịch sử quan trọng, là minh chứng cho những gì đã diễn ra trong quá khứ. Giá trị lịch sử của các bức ảnh báo chí giúp chúng ta hiểu hơn về những câu chuyện đã diễn ra trong quá khứ, để chúng ta có những quyết định tốt hơn cho tương lai sắp diễn ra. Lịch sử nằm trong những bức ảnh phản ánh mối quan hệ của con người với tự nhiên, mối quan hệ của con người với con người trong xã hội. Với đặc trưng của ngôn ngữ hình ảnh, mỗi bức ảnh báo chí đều có khả năng kể cho các thế hệ tương lai nghe về một sự kiện lịch sử, hay một con người vĩ đại góp phần làm nên lịch sử, theo cách mà những ngôn ngữ khác không nói được./.
___________________________
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Artbook (2013), Behind the front line, NXB Thế Giới.
2. Vũ Huyền Nga (2023), Ảnh chân dung (Biên soạn giáo trình), Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
3. Vũ Đức Tân (2024), NSNA Đinh Đăng Định và bộ ảnh vô giá về Bác Hồ, tạp chí Nhiếp ảnh và Đời sống.
4. Trang web https://www.worldpressphoto.org/
Nguồn: Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông điện tử
Bài liên quan
- Chiến lược truyền thông về du lịch Halal trên thế giới và gợi mở cho truyền thông Việt Nam
- Tạp chí điện tử Văn hoá và Phát triển với vai trò bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Mường
- Ứng dụng storytelling trong truyền thông y tế về tình trạng dị tật khe hở môi - vòm miệng
- Chiến dịch truyền thông về phòng chống bạo lực trẻ em tại Việt Nam: hiệu quả, thách thức và bài học kinh nghiệm
- Thực trạng và một số giải pháp nâng cao chất lượng thông tin về sức khỏe tâm thần trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay
Xem nhiều
-
1
Thực trạng và một số giải pháp nâng cao chất lượng thông tin về sức khỏe tâm thần trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay
-
2
Chiến dịch truyền thông về phòng chống bạo lực trẻ em tại Việt Nam: hiệu quả, thách thức và bài học kinh nghiệm
-
3
Chiến lược Tăng trưởng xanh ở của một số nước trên thế giới và gợi mở cho Việt Nam nói chung, Nghệ An nói riêng - Tiếp cận từ góc nhìn Truyền thông quốc tế
-
4
Hiện tượng “Di cư niềm tin” truyền thông của sinh viên và đề xuất mô hình “Truyền thông xác thực” cho các trường đại học
-
5
Phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay: Thực trạng và giải pháp
-
6
Phát huy giá trị di tích Hồ Chí Minh trong nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập lý luận chính trị cho sinh viên hiện nay
Liên kết
- Báo điện tử đảng cộng sản việt nam
- Báo nhân dân
- Báo Quân đội nhân dân
- Cổng thông tin điện tử Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia hồ chí minh
- Tạp chí Cộng sản
- Tạp chí Giáo dục lý luận
- Tạp chí Giáo dục và Xã hội
- Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
- Tạp chí Lý luận chính trị
- Tạp chí Nghiên cứu con người
- TẠP CHÍ Nghiên cứu dân tộc
- Tạp chí Người làm báo
- Tạp chí Nội chính
- Tạp chí Quản lý Nhà nước
- Tạp chí Tổ chức Nhà nước
- Tạp chí Tuyên giáo
- Tạp chí Xây Dựng Đảng
- Thư viện số Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Trang thông tin điện tử Hội đồng Lý luận Trung ương
Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông nguy cơ tại Việt Nam hiện nay
Bài báo hệ thống hóa cơ sở lý luận về truyền thông nguy cơ từ lăng kính quản trị quốc gia, bảo vệ an ninh phi truyền thống và định hướng dư luận xã hội. Thông qua phân tích thực trạng công tác truyền thông nguy cơ tại Việt Nam trong bối cảnh ứng phó với các dịch bệnh lây nhiễm mới nổi và thảm họa y tế công cộng, nghiên cứu làm sáng tỏ những dấu ấn thành tựu trong việc huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị nhằm củng cố vững chắc thế trận lòng dân. Song song đó, bài viết nhận diện một cách khách quan, khoa học những điểm nghẽn mang tính cấu trúc về năng lực “gác cổng” thông tin, sự thiếu đồng bộ trong quy trình điều hành liên ngành và công tác kiểm soát khủng hoảng trên không gian mạng tại tuyến cơ sở. Dựa trên hệ quy chiếu lý luận và thực tiễn, nghiên cứu đề xuất hệ thống giải pháp chiến lược nhằm chuẩn hóa diễn ngôn học thuật, hoàn thiện thể chế ứng phó và nâng tầm bản lĩnh chính trị cho đội ngũ truyền thông, qua đó góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước mọi biến cố.
Chiến lược truyền thông về du lịch Halal trên thế giới và gợi mở cho truyền thông Việt Nam
Chiến lược truyền thông về du lịch Halal trên thế giới và gợi mở cho truyền thông Việt Nam
Bài viết tổng thuật các chiến lược truyền thông du lịch Halal tại ba điểm đến tiêu biểu trên thế giới là Malaysia, Indonesia và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm và gợi mở cho truyền thông Việt Nam. Nghiên cứu cho thấy 5 nguyên tắc cốt lõi của truyền thông du lịch Halal hiệu quả, bao gồm: xây dựng hệ thống chứng nhận Halal đáng tin cậy, lồng ghép du lịch Halal vào thương hiệu quốc gia, truyền thông đa ngôn ngữ, đa văn hóa, tiếp thị theo mùa lễ Hồi giáo và ưu tiên kênh kỹ thuật số cùng nội dung do người dùng tạo. Giá trị thực tiễn của nghiên cứu thể hiện ở việc các khuyến nghị có thể hỗ trợ cơ quan quản lý và doanh nghiệp du lịch Việt Nam xây dựng chiến lược marketing hiệu quả, qua đó phát triển phân khúc du lịch Halal đầy tiềm năng.
Tạp chí điện tử Văn hoá và Phát triển với vai trò bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Mường
Tạp chí điện tử Văn hoá và Phát triển với vai trò bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Mường
Văn hóa dân tộc Mường (ở tỉnh Hòa Bình, nay là Phú Thọ) là di sản văn hóa quý báu của dân tộc, không chỉ lưu giữ nhiều lớp trầm tích văn hóa, mà còn là nguồn lực cho phát triển bền vững ở địa phương… Việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Mường, do vậy, có sự cộng đồng trách nhiệm của chính quyền địa phương, các cơ quan quản lý văn hóa, người dân, báo chí truyền thông, trong đó gồm cả Tạp chí điện tử Văn hóa và Phát triển (vanhoavaphattrien.vn). Thời gian qua, Tạp chí đã xây dựng chuyên mục về Di sản - Du lịch, đăng nhiều tác phẩm về văn hóa Mường, góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di sản. Tuy nhiên, vẫn còn đó một số hạn chế. Nghiên cứu này sẽ nhận diện thực trạng vai trò của Tạp chí thông qua phương pháp phân tích nội dung thông điệp, từ đó, thảo luận về một số vấn đề liên quan, góp phần giúp Tạp chí nâng cao hơn nữa vai trò truyền thông di sản.
Ứng dụng storytelling trong truyền thông y tế về tình trạng dị tật khe hở môi - vòm miệng
Ứng dụng storytelling trong truyền thông y tế về tình trạng dị tật khe hở môi - vòm miệng
Nghiên cứu này khảo sát tiềm năng của Phương pháp kể chuyện (Storytelling) như một công cụ hiệu quả trong truyền thông y tế về tình trạng dị tật khe hở môi - vòm miệng (KHM - VM), dựa trên nền tảng “khung lý thuyết kể chuyện như Hero's Journey” (Campbell, 1949) và “StoryBrand Framework” (Miller, 2017) để xây dựng thông điệp và định hình sản phẩm truyền thông thử nghiệm. Trẻ em mắc KHM - VM được xem là trung tâm của câu chuyện và hệ thống y tế là người dẫn dắt đáng tin cậy. Thông qua phỏng vấn nhóm với chuyên gia, phụ huynh và công chúng, nghiên cứu đánh giá chất lượng thông tin/câu chuyện (cấu trúc câu chuyện, tính chân thực, tính liền mạch) và hiệu quả tác động của câu chuyện (niềm tin, thiện cảm và ý định hành vi), qua đó khẳng định phương pháp kể chuyện được đánh giá cao về khả năng truyền tải thông điệp nhân văn, củng cố niềm tin vào hành trình điều trị và gia tăng thiện cảm của công chúng.
Chiến dịch truyền thông về phòng chống bạo lực trẻ em tại Việt Nam: hiệu quả, thách thức và bài học kinh nghiệm
Chiến dịch truyền thông về phòng chống bạo lực trẻ em tại Việt Nam: hiệu quả, thách thức và bài học kinh nghiệm
Bạo lực trẻ em là một trong những vấn đề xã hội nghiêm trọng toàn cầu, trong đó có Việt Nam. Truyền thông giữ vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa và nâng cao nhận thức cộng đồng. Nghiên cứu này phân tích hai chiến dịch tiêu biểu: “Cái ôm ấm áp” của ChildFund (trong các năm 2022, 2023) và “Trái tim xanh” của UNICEF (trong các năm 2020, 2022), nhằm đánh giá hiệu quả truyền thông, xác định giá trị thông điệp, cách thức triển khai, đồng thời rút ra bài học và khuyến nghị cho các chiến dịch tương lai. Nghiên cứu kết hợp giữa phương pháp phân tích nội dung, thống kê dữ liệu và khảo sát xã hội học với 221 mẫu tại Hà Nội. Kết quả cho thấy, cả hai chiến dịch đều tạo được hiệu quả tích cực trong truyền tải thông điệp, song vẫn tồn tại hạn chế về phạm vi tiếp cận và tính bền vững trong thay đổi hành vi. Nghiên cứu đề xuất cần đa dạng hóa kênh truyền thông, thiết kế thông điệp rõ ràng và tăng cường hợp tác liên ngành để đạt hiệu quả lâu dài.
llcttt1994dientu@gmail.com
024.38348033
Bình luận