Nhà báo và nhân viên quan hệ công chúng trong các doanh nghiệp Việt Nam
Số liệu điều tra bằng bảng hỏi với 150 nhà báo và 120 nhân viên quan hệ công chúng (QHCC) cho thấy có 79.2% nhân viên QHCC của doanh nghiệp cho rằng việc xây dựng được một mối quan hệ tốt đẹp với giới truyền thông là rất cần thiết và có ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công trong công việc của họ. Tương tự, cũng có tới 60% nhà báo cũng cho rằng mối quan hệ với nhân viên QHCC là rất cần thiết cho công việc của đôi bên.
Nhân viên QHCC và nhà báo gặp nhau thường xuyên vì công việc và có ảnh hưởng đến công việc của nhau. Chính sự gặp gỡ thường xuyên ấy khiến quan hệ của hai nhóm đối tượng này không chỉ dừng lại ở mức độ quan hệ công việc mà còn phát triển thành mối quan hệ tình cảm gắn bó, thậm chí họ coi nhau như là những người bạn thân thiết.
Khảo sát đối với các nhân viên QHCC và nhà báo về mức độ thân thiết của mối quan hệ giữa họ cho thấy: Có 41.4% nhà báo đồng ý rằng họ có mối quan hệ thân thiết với các nhân viên QHCC trong khi có 57.7% số nhân viên QHCC đồng ý với nhận định này. Trong mối quan hệ nghề nghiệp này, nếu các nhân viên QHCC thường là người chủ động bắt đầu tạo dựng và phát triển, thì các nhà báo luôn ở tư thế là người quyết định mức độ thân thiết của mối quan hệ. Điều này cũng tương đồng với nhiều nghiên cứu tương tự trước đây ở ngoài nước.
Phương thức xây dựng và phát triển mối quan hệ
Muốn có được mối quan hệ tốt với các nhà báo, nhân viên QHCC phải có một kế hoạch cụ thể cùng những phương thức bài bản. Trong kế hoạch xây dựng mối quan hệ với nhà báo bước đầu tiên không thể bỏ qua đó là tìm cách để liên hệ với họ. Khảo sát các nhân viên QHCC về phương thức liên hệ với các nhà báo cho thấy: 76.1% có một danh sách các nhà báo (media list) để tiện liên hệ, 78.5% thường liên hệ gián tiếp với nhà báo (gọi điện, gửi email, gửi thông cáo báo chí...), 66% thường gặp mặt trực tiếp (hẹn uống café, ăn trưa...) ở ngoài văn phòng cơ quan, 63.6% gặp mặt trực tiếp tại văn phòng làm việc của mình hoặc tại toà soạn.
Dù đã tạo dựng được mối quan hệ với các nhà báo, nhưng nếu nhân viên QHCC không có những phương thức tốt để duy trì mối quan hệ này thì hiệu quả công việc cũng không cao. Các phương pháp duy trì mối quan hệ với các nhà báo thường thấy là: mời dự họp báo (81%), đi du lịch (50%), liên hoan (66%), dự lễ kỷ niệm thành lập, khai trương chi nhánh (80.3%), tặng phong bì (71.4%), đề nghị tài trợ, quảng cáo (66%), tặng ưu đãi các sản phẩm, cổ phiếu của doanh nghiệp (30.9%).
Văn hóa là một yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến việc xây dựng mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo. Dưới góc độ văn hóa, việc tặng quà, phong bì cho nhà báo để xây dựng, duy trì và phát triển mối quan hệ được rất nhiều doanh nghiệp và nhân viên QHCC quan tâm, 71.4% nhân viên QHCC được hỏi thường xuyên tặng quà, phong bì cho nhà báo. Tương tự như ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, tại Việt Nam do những ảnh hưởng của văn hóa phương Đông nên việc tặng quà, phong bì được coi là một trong những yếu tố quan trọng để duy trì, phát triển mối quan hệ.
Đối với hoạt động QHCC, các khoản chi ngoại giao/ đối ngoại dưới hình thức quà tặng trở nên khá phổ biến ở nhiều công ty, doanh nghiệp. Việc thông tin cho báo chí không chỉ đơn giản là viết thông cáo báo chí gửi ảnh kèm theo, hoặc tổ chức họp báo, mời nhà báo đến cung cấp thông tin để được đăng tin trên các phương tiện truyền thông đại chúng mà cần có “phong bì” cho nhà báo. 75% số nhân viên QHCC được hỏi cho rằng việc tặng quà, phong bì cho nhà báo vào những dịp quan trọng là việc làm rất cần thiết.
Trong khi đó, khảo sát đối với các nhà báo về việc nhận quà và phong bì từ các nhân viên QHCC có 57.1% nhà báo cho rằng việc nhận quà, phong bì từ nhân viên QHCC là việc làm bình thường. Thực tế mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo đã cho thấy văn hóa tặng quà đã bị biến tướng nhiều trong mối quan hệ giữa hai nhóm đối tượng này. Việc tặng, nhận quà, phong bì đã trở thành một thông lệ khiến mối quan hệ này đôi khi như sự trao đổi qua lại, không có quà, phong bì công việc không thể chạy được, từ đó sinh ra tâm lý “vòi tiền” của một bộ phận nhỏ các nhà báo hay việc các nhân viên QHCC tìm mọi cách để “gửi quà” đến các nhà báo. Điều này làm ảnh hưởng lớn đến mối quan hệ giữa nhà báo và doanh nghiệp, gây ảnh hưởng đến sự chuyên nghiệp, uy tín và đạo đức nghề nghiệp của cả hai nhóm đối tượng này.
Để duy trì và thúc đẩy mối quan hệ, nhân viên QHCC cần có sự quan tâm cần thiết đối với các nhà báo nhất là trong những dịp quan trọng để tăng sự gắn kết. Khảo sát các nhân viên QHCC cho thấy họ thường xuyên gọi điện, email, tặng quà nhà báo nhiều nhất (76.7%) vào dịp Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21/6, tiếp theo đó là các ngày lễ tôn vinh phụ nữ (8/3, 20/10), đứng thứ ba là ngày Tết âm lịch và ngày kỷ niệm thành lập của cơ quan báo chí. Ngày sinh nhật của nhà báo cũng được quan tâm ở mức độ cao (63.6%).
Nhiều phương thức được nhân viên QHCC tại các doanh nghiệp sử dụng nhằm xây dựng một mối quan hệ tốt đẹp giữa họ và nhà báo. Tuy nhiên, thực trạng của mối quan hệ này tại Việt Nam hiện nay cho thấy nhiều nhân viên QHCC vẫn chưa chủ động xây dựng được một mối quan hệ bình đẳng, tôn trọng nghề nghiệp của nhau, thân mật, cởi mở với các nhà báo. Giữa hai đối tượng này vẫn có những ý kiến phàn nàn, không hài lòng do thiếu sự hiểu biết công việc và đồng cảm với nhau. Điều này gây cản trở không nhỏ cho hiệu quả công việc của cả hai bên. Chính vì vậy, các nhân viên QHCC tại mỗi doanh nghiệp cần có những giải pháp, những phương thức xây dựng mối quan hệ với nhà báo gắn kết và hiệu quả hơn nhằm mang đến những thuận lợi cho việc xây dựng thương hiệu và sự phát triển của cả doanh nghiệp.
Việc nâng cao tính chuyên nghiệp cũng có tác động tích cực đến mối quan hệ giữa nhà báo và nhân viên QHCC, nó được thể hiện ở việc hạn chế bớt đi những yếu tố cá nhân, yếu tố vật chất trong mối quan hệ này như việc gặp gỡ riêng, phong bì cho mỗi lần họp báo, hội thảo, quà tặng dịp lễ tết... Bên cạnh đó là việc tăng cường các yếu tố chất lượng công việc để mối quan hệ hai bên được nâng lên tầm chuyên nghiệp hơn.Ngoài ra, cũng cần lập các hội, nhóm nghề nghiệp của người làm QHCC nhằm tăng tính chuyên nghiệp, cũng như nâng cao các kỹ năng về quan hệ báo chí và đạo đức nghề nghiệp cho các thành viên.
Trên thế giới cũng như tại Việt Nam, các doanh nghiệp đặc biệt là những doanh nghiệp lớn đã và đang đầu tư không nhỏ cho hoạt động QHCC của mình với mong muốn hình ảnh, thương hiệu, dịch vụ của mình tạo được dấu ấn, niềm tin trong con mắt khách hàng, đối tác và các cơ quan quản lý. Để làm được điều này, các nhà báo chính là cầu nối trợ giúp đắc lực cho công tác truyền thông của doanh nghiệp, nhà báo chính là người trực tiếp chuyển tải thông điệp của doanh nghiệp đến với công chúng mục tiêu của mình. Đối với một nhân viên QHCC của doanh nghiệp, việc xây dựng tốt các mối quan hệ, trong đó nổi bật là quan hệ với báo giới chính là một trong những nhiệm vụ hàng đầu.
Thực tế của hoạt động QHCC tại nhiều doanh nghiệp cho thấy, nhiều nhân viên QHCC bị doanh nghiệp sa thải, bởi họ không làm tròn nhiệm vụ cải thiện mối quan hệ giữa doanh nghiệp và giới báo chí. Vì thế, việc nghiên cứu và đúc kết những phương thức xây dựng và phát triển hiệu quả mối quan hệ giữa nhân viên QHCC với nhà báo luôn được họ là việc làm rất hữu ích trong lĩnh vực nghiên cứu QHCC. Kết quả cuộc khảo sát nằm trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội (mã số QG.14.34) này cũng là một trong những nỗ lực nhằm góp phần đáp ứng nhu cầu thực tế đó ở các doanh nghiệp và cả cơ quan báo chí hiện nay./.
______________
Bài đăng trên Tạp chí Người Làm Báo số ra ngày 16.8.2016
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Nguyễn Thị Thanh Huyền (2012), Văn hóa - biến số quan trọng trong nghiên cứu quan hệ công chúng, tr.157-165, Hội thảo Khoa học Văn hóa truyền thông trong thời kỳ hội nhập.
2. Dan Berkowitz (2004), Jonghyuk Lee, Media relation inKorea: Cheong be- tween journalist and public relations prac- titioner, p 431-437, Public Relations Review 30.
3.Lynne M. Sallot,ElizabethA.John- son, (1991-2004), Investigating relation- ships between journalists and public relations practitioners: Working together to set frame and build the public agenda, p.151-159, Public Relations Review 32.
4. Samsup Jo and Yungwook Kim (2004), Media or personalreliations?Ex- ploring media relations dimensions on South Korea, p. 292-306, J&MC Quar- terly Vol 81, No.2.
5. William Kelly, Tomoko Masumoto, Dirk Gibson (2002), Kisha kurabu and koho:Japanese media relations and pub- lic relations, p. 265-281, Public Relations Review 28.
PGS, TS Nguyễn Thị Thanh Huyền
Nguồn: http://nguoilambao.vn
Bài liên quan
- Sửa đổi Luật Báo chí 2016 để bảo đảm tối đa quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân
- Công chúng trả phí tiếp nhận tin tức - xu hướng thế giới và sự phát triển bền vững của kinh tế báo chí ở Việt Nam
- Quản lý tác động của truyền thông đại chúng và dư luận xã hội đến sinh viên đại học hiện nay
- “Nói hay đừng” - Dấu ấn chặng đường làm báo của nhà báo Trần Đức Chính
- Quản lý thông điệp về môi trường trên tạp chí điện tử ở Việt Nam hiện nay - thực trạng và giải pháp
Xem nhiều
-
1
Đại hội Chi bộ khoa Tuyên truyền nhiệm kỳ 2025-2027
-
2
Học viện Báo chí và Tuyên truyền tổ chức Hội nghị Tuyên dương điển hình tiên tiến lần thứ VI (2025-2030)
-
3
Quản lý thông tin về khoa học quân sự trên báo chí quân đội ở Việt Nam hiện nay - thực trạng và một số giải pháp tăng cường
-
4
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức sản xuất các chương trình thiện nguyện của kênh VTV1- Đài Truyền hình Việt Nam
-
5
Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế của Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên hiện nay
-
6
Phát huy vai trò của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh Tây Ninh trong tham gia xây dựng Đảng
Liên kết
- Báo điện tử đảng cộng sản việt nam
- Báo nhân dân
- Báo Quân đội nhân dân
- Cổng thông tin điện tử Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia hồ chí minh
- Tạp chí Cộng sản
- Tạp chí Giáo dục lý luận
- Tạp chí Giáo dục và Xã hội
- Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
- Tạp chí Lý luận chính trị
- Tạp chí Nghiên cứu con người
- TẠP CHÍ Nghiên cứu dân tộc
- Tạp chí Người làm báo
- Tạp chí Nội chính
- Tạp chí Quản lý Nhà nước
- Tạp chí Tổ chức Nhà nước
- Tạp chí Tuyên giáo
- Tạp chí Xây Dựng Đảng
- Thư viện số Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Trang thông tin điện tử Hội đồng Lý luận Trung ương
Nâng cao hiệu quả tuyên truyền, phổ biến pháp luật về an ninh, trật tự cho người nước ngoài tại các khu đô thị mới trên địa bàn quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội theo chức năng, nhiệm vụ của công an phường
Thời gian qua, các khu đô thị mới trên địa bàn quận Hà Đông, Hà Nội đã thu hút một lượng lớn người nước ngoài đến sinh sống và làm việc. Thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, công an các phường trên địa bàn quận Hà Đông đã huy động các lực lượng, sử dụng nhiều hình thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người nước ngoài tại các khu đô thị mới và đã mang lại kết quả tích cực. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, công tác này vẫn còn những hạn chế, bất cập nhất định. Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá thực tiễn, bài viết đưa ra dự báo và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền, phổ biến pháp luật về an ninh, trật tự cho người nước ngoài tại các khu đô thị mới trên địa bàn quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội theo chức năng, nhiệm vụ của công an phường.
Sửa đổi Luật Báo chí 2016 để bảo đảm tối đa quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân
Sửa đổi Luật Báo chí 2016 để bảo đảm tối đa quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân
Luật Báo chí nhằm mục đích cao nhất là bảo đảm quyền tự do ngôn luận (QTDNL) trên báo chí của công dân. Qua mỗi thời kỳ lịch sử, tình hình chính trị, kinh tế, xã hội có những thay đổi nhất định, báo chí cũng thay đổi theo. Luật Báo chí cũng phải luôn được chỉnh lý cho phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới của báo chí.
Công chúng trả phí tiếp nhận tin tức - xu hướng thế giới và sự phát triển bền vững của kinh tế báo chí ở Việt Nam
Công chúng trả phí tiếp nhận tin tức - xu hướng thế giới và sự phát triển bền vững của kinh tế báo chí ở Việt Nam
Trước tình hình doanh thu ngày càng giảm, chi phí sản xuất, phân phối thông tin ngày càng tăng, thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, các cơ quan báo chí, hãng thông tấn ở khắp nơi trên thế giới đang tìm những phương pháp, chiến thuật kinh doanh sáng tạo để tăng doanh thu từ các sản phẩm của họ. Tùy vào từng môi trường chính trị - xã hội, nền báo chí - truyền thông, quy mô, cơ cấu, hoạt động của các cơ quan báo chí - truyền thông mà có những phương pháp, mô hình kinh tế báo chí khác nhau. Trong hoàn cảnh đó, các bức tường phí (paywall) - “hệ thống ngăn người dùng Internet truy cập nội dung trang web mà không đăng ký trả phí”(1) - được dựng lên để yêu cầu công chúng trả phí tiếp nhận tin tức trực tuyến ngày càng trở thành một xu hướng không thể đảo ngược, và cũng là sự thúc đẩy bền vững của báo chí, trong đó có Việt Nam.
Quản lý tác động của truyền thông đại chúng và dư luận xã hội đến sinh viên đại học hiện nay
Quản lý tác động của truyền thông đại chúng và dư luận xã hội đến sinh viên đại học hiện nay
Truyền thông đại chúng và dư luận xã hội đang tác động ngày càng mạnh mẽ, sâu rộng đến mọi người, nhất là thế hệ trẻ, trong đó có sinh viên các trường đại học trên cả bình diện tích cực và tiêu cực. Thực tế cho thấy, việc tác động của truyền thông đại chúng và dư luận xã hội đến sinh viên có vai trò, ý nghĩa hết sức quan trọng, cấp thiết nhằm tạo tâm lý lành mạnh trong cộng đồng sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo của các trường đại học hiện nay. Vì vậy, bài viết làm rõ mối quan hệ giữa truyền thông đại chúng và dư luận xã hội; từ đó phân tích nội dung quản lý về tác động của truyền thông đại chúng và dư luận xã hội đến cộng đồng sinh viên, đưa ra một số yêu cầu giúp quản lý, tạo dựng bầu không khí tâm lý lành mạnh trong cộng đồng sinh viên, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo của các trường đại học trong bối cảnh hiện nay.
“Nói hay đừng” - Dấu ấn chặng đường làm báo của nhà báo Trần Đức Chính
“Nói hay đừng” - Dấu ấn chặng đường làm báo của nhà báo Trần Đức Chính
Cuốn sách “Nói hay đừng” tập hợp hơn 100 bài viết ở các thể loại bình luận, tiểu phẩm báo chí, phóng sự, tản mạn… của nhà báo Trần Đức Chính, được lựa chọn từ hơn 6.000 bài báo trong suốt cả sự nghiệp của ông. Điều đặc biệt là, cuốn sách được những đồng nghiệp thế hệ sau, những “học trò” thân thiết và yêu quý của ông tập hợp và chọn lọc, biên soạn.
Bình luận