Gia đình với công tác phòng chống ma túy ở Thanh Hóa
Nhận thức được vấn đề này nên ngay sau khi sáp nhập, UBDS - GĐ & TE tỉnh Thanh Hóa đã xây dựng kế hoạch triển khai từ góc độ gia đình để tìm giải pháp hữu hiệu trong công tác ngăn chặn và đẩy lùi tệ nạn ma túy, bằng mô hình câu lạc bộ gia đình phòng chống ma túy đang được thực hiện thí điểm tại một số đơn vị xã, phường trong tỉnh.
Để có cơ sở xây dựng mô hình này, năm 2003, thường trực UBDS - GĐ & TE tỉnh đã chỉ đạo cho 3 huyện đại diện cho các vùng, miền trong tỉnh là: Thọ Xuân, Quan Hóa và thành phố Thanh Hóa tiến hành khảo sát ở 2 nhóm hộ gia đình:
- Gia đình không có đối tượng nghiện hút
- Gia đình có đối tượng nghiện hút đã và chưa có biện pháp xử lý.
Sau khi điều tra khảo sát, nhóm thu thập thông tin đã thực hiện khâu xử lý số liệu và đánh giá thực trạng nghiện hút ở các địa bàn, từ đó suy rộng ra thực trạng vấn đề gia đình với công tác phòng chống ma túy trên tòan tỉnh. Kết quả thu được cho thấy:
1. Về thực trạng tình hình nghiện hút
Có thể nói rằng đối tượng bị mắc nghiện hút hiện đã có mặt ở tất cả các địa bàn trong tỉnh, bởi ngoài 90 trường hợp được tiếp cận trực tiếp là gia đình có đối tượng mắc nghiện, số còn lại (kể các những hộ nằm trong địa phận làng, phố) được công nhận là làng (phố) văn hóa đều cho rằng có đối tượng nghiện hút ở địa phận làng (phố) mình. Trong đó, địa bàn có ít nhất là 1, nhiều nhất là 9 đối tượng.
Về lứa tuổi: 5% trong độ tuổi vị thành niên, 59% ở độ tuổi thanh niên trẻ, 39% ở độ tuổi trên 30 (trong đó chỉ có 2 đối tượng là lớn hơn 50 tuổi).
Điều đó nói lên rằng: Tệ nạn ma túy hiện nay đã thâm nhập và đang có xu hướng lan rộng ở độ tuổi vị thành niên và thanh niên trẻ. Đây là một thực trạng nhức nhối, làm băng hoại đạo đức xã hội ở lứa tuổi trẻ, gây hậu quả nghiêm trọng tới sự phát triển thể chất giống nòi trong mỗi gia đình, mỗi dòng tộc và tương lai của tòan xã hội.
Đáng chú ý là trong những đối tượng này có tới 30% là trụ cột gia đình (tức là chủ hộ), 12% là chồng, 58% là con. Nghĩa là có tới 98% là hạt nhân chính trong mỗi gia đình đều bị nghiện hút (tức là trong 90 hộ gia đình được điều tra đã có tới 92 đối tượng là con nghiện). Đây thực sự là một thảm cảnh của xã hội, liệu có thể trông chờ sự phát triển bình thường của “mỗi tế bào” này được không, khi mà những hạt nhân cấu thành này đang trong tình trạng suy thoái đến trầm trọng (?).
Một thông tin cũng rất quan trọng nữa là trong số này, tỷ lệ mới mắc nghiện từ 6 tháng tới 1 năm tương đối nhỏ (4%), số còn lại mắc từ 1 đến 2 năm (37%) và 61% là số mắc nghiện trên 2 năm. Con số này cho ta hy vọng là trong thời gian tới, bằng sự tăng cường giáo dục ở mỗi gia đình và sự vào cuộc thực sự của các cơ quan chức năng, tình trạng nghiện hút ma túy ngày càng được khống chế và đẩy lùi.
Tuy nhiên, hy vọng này vẫn còn là hơi sớm khi mà trong 90 trường hợp có đối tượng nghiện hút này đã có tới 83 hộ gia đình có biện pháp sử lý rồi mà mới chỉ có 33% (tức 30/83 trường hợp) có tín hiệu đã cai hoàn toàn. Số còn lại chiếm tỷ trọng tương đối lớn (67%) là những trường hợp hoặc chưa có biện pháp xử lý gì hoặc đang cai mà chưa có hiệu quả, hoặc đã cai rồi nhưng lại tái nghiện...
Đây là phần việc phải tiếp tục làm của mỗi bản thân đối tượng, mỗi gia đình, dòng tộc và của tất cả chúng ta.
2. Đánh giá về tình hình môi trường xã hội trong mỗi cộng đồng dân cư
Điều đáng mừng đối với tất cả chúng ta là trong khối lượng công việc nặng nề của thời gian tới, có sự ủng hộ nhiệt tình của dư luận cũng như sự cộng tác đắc lực của mỗi gia đình trong cộng đồng dân cư. Với 360 hộ gia đình được phỏng vấn là những gia đình chưa có đối tượng nghiện, họ đều chung nhận thức rằng nguy cơ xâm nhập của ma túy đối với gia đình cũng như là cộng đồng nơi họ đang sinh sống là rất cao, nếu như tất cả đều thờ ơ với nó (kể cả những đơn vị được công nhận là làng (phố) văn hóa.
Như vậy, nạn ma túy đã và đang tiếp tục gõ cửa từng nhà. Nguy cơ này khiến chúng ta không thể nói “không” đơn thuần mà phải có thái độ quyết liệt cộng với những hành động phù hợp thì mới có thể chặn đứng và đẩy lùi được.
Về thái độ của mỗi gia đình hầu như đã thể hiện khá rõ: 74-80% đều đánh giá gia đình có vai trò quan trọng số 1, 54-60% cho rằng tự bản thân đối tượng có vai trò quan trọng số 1, chỉ có 18% cho rằng trung tâm cai nghiện có vai trò quan trọng số 1, còn các yếu tố khác như nhà trường, chính quyền, các tổ chức đòan thể... đều được đánh giá là vai trò thứ yếu sau những yếu tố trên. Và có tới 99,4% số hộ gia đình này đều sẵn sàng hợp tác khi có phong trào hoặc công tác phòng chống ma túy.
3. Vậy chìa khóa để giải quyết vấn đề này là gia đình (?)
Đây là một lập luận lôgíc và chuẩn xác, song để thực hiện được không phải là dễ nếu như UBDS-GĐ & TE các cấp, với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước ở lĩnh vực gia đình không có phương thức phù hợp để tạo nên sức mạnh tổng hợp của cộng đồng dân cư thì việc thất bại cũng là điều khó tránh khỏi. Phương thức này chính là những giải pháp mà chúng ta cần bàn luận và khẩn trương bắt tay cùng thực hiện, mà công việc đầu tiên là thành lập mô hình câu lạc bộ gia đình phòng chống ma túy.
Cho đến nay 9 câu lạc bộ trong tỉnh được thành lập và bước đầu đi vào hoạt động có hiệu quả, chúng ta hy vọng một sự khởi đầu tốt đẹp cho việc phòng chống ma túy bắt đầu từ “gia đình” ở tỉnh Thanh Hóa./.
Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Báo chí và Tuyên truyền số 4 (tháng 7+8)/2005
Bài liên quan
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc trong Báo cáo Chính trị Đại hội XIV của Đảng
- Thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay
- Thành ủy Hải Phòng lãnh đạo phát triển kinh tế biển hiện nay: Thực trạng và giải pháp
- Một số rào cản khi xây dựng văn hóa công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tại Việt Nam*
- Phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay: Thực trạng và giải pháp
Xem nhiều
-
1
Thực trạng và một số giải pháp nâng cao chất lượng thông tin về sức khỏe tâm thần trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay
-
2
Chiến dịch truyền thông về phòng chống bạo lực trẻ em tại Việt Nam: hiệu quả, thách thức và bài học kinh nghiệm
-
3
Chiến lược Tăng trưởng xanh ở của một số nước trên thế giới và gợi mở cho Việt Nam nói chung, Nghệ An nói riêng - Tiếp cận từ góc nhìn Truyền thông quốc tế
-
4
Hiện tượng “Di cư niềm tin” truyền thông của sinh viên và đề xuất mô hình “Truyền thông xác thực” cho các trường đại học
-
5
Phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay: Thực trạng và giải pháp
-
6
Phát huy giá trị di tích Hồ Chí Minh trong nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập lý luận chính trị cho sinh viên hiện nay
Liên kết
- Báo điện tử đảng cộng sản việt nam
- Báo nhân dân
- Báo Quân đội nhân dân
- Cổng thông tin điện tử Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia hồ chí minh
- Tạp chí Cộng sản
- Tạp chí Giáo dục lý luận
- Tạp chí Giáo dục và Xã hội
- Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
- Tạp chí Lý luận chính trị
- Tạp chí Nghiên cứu con người
- TẠP CHÍ Nghiên cứu dân tộc
- Tạp chí Người làm báo
- Tạp chí Nội chính
- Tạp chí Quản lý Nhà nước
- Tạp chí Tổ chức Nhà nước
- Tạp chí Tuyên giáo
- Tạp chí Xây Dựng Đảng
- Thư viện số Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Trang thông tin điện tử Hội đồng Lý luận Trung ương
Quy định về cấu trúc, thể thức trình bày, trích dẫn và tài liệu tham khảo của các bài viết trên Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông bản tiếng Anh
Ban Biên tập Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông trân trọng thông báo tới quý độc giả và tác giả về việc áp dụng Quy định về cấu trúc, thể thức trình bày, trích dẫn và tài liệu tham khảo đối với các bài viết đăng tải trên Tạp chí. Quy định này được xây dựng trên cơ sở Thông tư số 27/2025/TT-BKHCN ngày 31 tháng 10 năm 2025 của Bộ Khoa học và Công nghệ về bài báo khoa học và đánh giá, xếp loại tạp chí khoa học Việt Nam, đồng thời tuân thủ các quy định tại Nghị định số 262/2025/NĐ-CP của Chính phủ về liêm chính khoa học và đạo đức nghiên cứu trong hoạt động khoa học và công nghệ. Theo đó, Ban Biên tập đề nghị các tác giả khi gửi bài viết về Tạp chí thực hiện nghiêm túc và thống nhất các yêu cầu về cấu trúc, thể thức trình bày, trích dẫn và tài liệu tham khảo theo Quy định và hướng dẫn kèm theo.
Cơ sở lý luận và thực tiễn về Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc trong Báo cáo Chính trị Đại hội XIV của Đảng
Cơ sở lý luận và thực tiễn về Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc trong Báo cáo Chính trị Đại hội XIV của Đảng
Bài báo phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xác lập “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam” trong Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng, bài báo làm rõ tính tất yếu khách quan, nội hàm và các đặc trưng cơ bản của kỷ nguyên vươn mình trong bối cảnh mới. Từ việc tổng kết gần 40 năm đổi mới, phân tích những thành tựu, thời cơ và thách thức đan xen hiện nay, bài viết khẳng định việc xác lập kỷ nguyên vươn mình không chỉ phản ánh bước phát triển mới trong tư duy chiến lược của Đảng, mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng công tác lãnh đạo, quản lý và truyền thông chính trị, góp phần thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững ở Việt Nam.
Thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay
Thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay
Thực hành dân chủ cơ sở giữ vai trò quan trọng trong xây dựng nông thôn mới, góp phần phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, huy động nguồn lực xã hội và nâng cao hiệu quả quản lý ở cơ sở. Bài viết làm rõ một số vấn đề lý luận về thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới, phân tích thực trạng triển khai với những kết quả đạt được và những hạn chế còn tồn tại. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất giải pháp phát huy dân chủ cơ sở, đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay.
Thành ủy Hải Phòng lãnh đạo phát triển kinh tế biển hiện nay: Thực trạng và giải pháp
Thành ủy Hải Phòng lãnh đạo phát triển kinh tế biển hiện nay: Thực trạng và giải pháp
Phát triển kinh tế biển có vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quốc gia, tạo việc làm, nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm an ninh quốc phòng, bảo vệ chủ quyền biển đảo và khai thác bền vững. Bài viết làm rõ thực trạng Thành ủy Hải Phòng lãnh đạo phát triển kinh tế biển qua những kết quả đạt được cũng như hạn chế còn tồn tại; từ đó, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này thời gian tới.
Một số rào cản khi xây dựng văn hóa công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tại Việt Nam*
Một số rào cản khi xây dựng văn hóa công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tại Việt Nam*
Sau gần 40 năm thực hiện đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu lớn về kinh tế - xã hội, trong đó văn hóa công vụ (VHCV) đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Tại cấp cơ sở, VHCV không chỉ phản ánh tinh thần phục vụ nhân dân mà còn quyết định mức độ tin cậy của xã hội đối với chính quyền địa phương. Tuy nhiên, thực tế, việc xây dựng và duy trì VHCV trong đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC) cấp cơ sở vẫn đang đối mặt với nhiều rào cản, xuất phát từ yếu tố con người, môi trường tổ chức, cũng như hệ thống quản lý và giám sát công vụ. Bài viết này trả lời câu hỏi: “Hoạt động xây dựng VHCV của đội ngũ CBCC cấp cơ sở tại việt Nam đang gặp những rào cản gì?”. Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp chính sách thúc đẩy đổi mới VHCV phù hợp với bối cảnh tái cấu trúc bộ máy Nhà nước.
llcttt1994dientu@gmail.com
024.38348033
Bình luận