Du lịch tỉnh Tây Ninh vươn mình trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Tây Ninh là tỉnh nằm ở miền Đông Nam bộ, Phía đông giáp các tỉnh Bình Dương và Bình Phước, phía Nam giáp Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Long An, phía Tây và phía Bắc giáp Vương quốc Campuchia, với đường biên giới khoảng 240km, với 03 cửa khẩu quốc tế là Mộc Bài, Xa Mát, Tân Nam và 3 cửa khẩu quốc gia là Kà Tum, Chàng Riệc, Phước Tân, 10 cửa khẩu phụ; tiếp giáp với 19 xã, 03 phường thuộc 06 huyện, 01 thành phố của 03 tỉnh: Tbông Khmum, Prây Veng và Svay Riêng - Vương quốc Campuchia.
Tây Ninh được hình thành và phát triển với lịch sử gần 300 năm, xuất xứ từ Phiên An trấn thuộc tỉnh Gia Định xưa. Năm 1836, Tây Ninh chính thức trở thành một đơn vị hành chính cấp phủ, cho đến nay đã gần 190 năm hình thành và phát triển là vùng đất những địa điểm mang tính chất huyền thoại, lịch sử và thơ mộng để lại sự lưu luyến hứa hẹn sẽ trở lại sau lần đầu đặt chân đến miền đất anh hùng, nhiều tình nghĩa và giàu sức sống, tình yêu thương, nổi tiếng với Núi Bà Đen hùng vĩ, Tòa Thánh Cao Đài độc đáo, Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt - Căn cứ Trung ương Cục miền Nam là di tích lịch sử hào hùng, đang chứng kiến những bước chuyển mình mạnh mẽ trong lĩnh vực du lịch, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng. Việc này không chỉ mang lại những cơ hội to lớn mà còn đặt ra những thách thức không nhỏ.
1. Thực trạng du lịch tỉnh Tây Ninh thời gian qua
1.1. Một số kết quả phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh
Những năm qua, phát triển du lịch tại tỉnh Tây Ninh đã đạt nhiều kết quả khả quan. Du lịch phát triển ấn tượng, sản phẩm phong phú, một số khu, điểm du lịch đã được đầu tư nâng cấp, cải thiện về số lượng và chất lượng, tăng cao cả về doanh thu và số lượng du khách.
Theo thống kê từ Sở Du lịch Tây Ninh, trong năm 2022, tình hình dịch COVID-19 được kiểm soát, tỉnh Tây Ninh thu hút được lượng khách du lịch đến Tây Ninh đạt hơn 4 triệu lượt, trong đó có 300,000 lượt khách quốc tế. Năm 2023, tổng lượt khách du lịch đến tỉnh Tây Ninh là 5.100.000 khách. Năm 2024, tổng lượng khách tới tỉnh Tây Ninh là 5.600.000 người.
Khách du lịch đến tỉnh Tây Ninh tham quan ngày càng tăng, doanh thu từ ngày du lịch đẩy mạnh đã dần khẳng định được vai trò phát triển ngành Du lịch hiện nay.
Doanh thu du lịch tỉnh Tây Ninh từ năm 2021 đến năm 2024 đạt 6.606 tỷ, đạt 73,4% chỉ tiêu về Doanh thu du lịch trong giai đoạn 2021-2025 (9.000 tỷ đồng) được đề ra tại Quyết định số 01/QĐ-UBND ngày 04/01/2021 của UBND tỉnh về Ban hành Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Tây Ninh 5 năm 2021-2025 và Quyết định số 1956/QĐ-UBND ngày 23/9/2022 của UBND tỉnh về Ban hành Chương trình hành động của UBND tỉnh thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XI, giai đoạn 2021-2025.
Tỉnh Tây Ninh đã khai thác có hiệu quả các chương trình du lịch liên kết các sản phẩm, dịch vụ du lịch ngoài Khu du lịch Núi Bà Đen, với 26 chương trình du lịch mới, gắn với 15 điểm đến trên địa bàn 06 huyện, thị xã, thành phố, đã tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực, đa dạng hóa thị trường khách du lịch và thu hút được 5.361 lượt khách (trong đó, Khách nội địa khoảng 5.273 lượt (gồm: 1.565 lượt trong tỉnh, 3.708 lượt ngoài tỉnh); Khách nước ngoài: 88 lượt) trong và ngoài nước, từng bước đạt được mục tiêu kéo dài hơn thời gian lưu trú tại tỉnh và tăng mức chi tiêu của khách du lịch khi đến Tây Ninh. Năm 2022, Tây Ninh xếp thứ 15 trong số 63 tỉnh, thành phố về thu hút đầu tư nước ngoài.
Ngành du lịch tỉnh Tây Ninh đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển kinh tế của tỉnh và đem đến nhiều cơ hội trong hội nhập quốc tế, đó là với việc tham gia vào các tổ chức du lịch quốc tế, Tây Ninh có thể quảng bá hình ảnh của mình đến với du khách trên toàn thế giới, thu hút lượng lớn khách du lịch quốc tế đến tham quan và khám phá. Bên cạnh đó còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp du lịch tiếp cận với những xu hướng du lịch mới trên thế giới, nâng cao chất lượng dịch vụ để đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế, từ đó phát triển các sản phẩm du lịch độc đáo và hấp dẫn.
Trong những năm gần đây, nhận thấy được mặt mạnh từ tiềm năng phát triển về du lịch, Lãnh đạo tỉnh Tây Ninh đã quan tâm đầu tư, xây dựng để đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, tập trung khai thác mạnh mẽ, có hiệu quả tiềm năng, lợi thế về du lịch; chú trọng phát triển sản phẩm, xây dựng thương hiệu du lịch đặc sắc; tạo điều kiện, tập trung đầu tư Khu du lịch Quốc gia núi Bà Đen trở thành khu du lịch đẳng cấp, đặc sắc mang tầm quốc tế. Theo kế hoạch quảng bá xây dựng thương hiệu điểm đến du lịch Tây Ninh giai đoạn 2023-2025, tỉnh xác định các điểm tham quan trọng điểm như: Khu di tích lịch sử và danh thắng núi Bà Đen, Tòa thánh Cao Đài, hồ Dầu Tiếng, Căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát... với các điểm đến mang tính kết nối, lan tỏa khác, trở thành những điểm đến có sản phẩm du lịch hấp dẫn, đặc sắc mang đậm nét đặc trưng văn hoá, lịch sử riêng có của tỉnh Tây Ninh. Mục tiêu đến năm 2025, Tây Ninh nỗ lực xây dựng núi Bà Đen trở thành khu du lịch đẳng cấp của khu vực và quốc gia, là tâm điểm dẫn dắt, kết nối lan toả du lịch địa phương và khu vực Đông Nam Bộ. Đến năm 2030, Tây Ninh phấn đấu đưa du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp trên 10% GRDP.
1.2. Một số khó khăn, thách thức đối với du lịch tỉnh Tây Ninh
Thứ nhất, việc khai thác, phát triển khu, điểm du lịch chưa tương xứng với các tiềm năng, lợi thế về du lịch của tỉnh; số lượng khách du lịch đến Tây Ninh so với khu vực và cả nước ở mức khá, nhưng đa phần là khách du lịch nội địa; địa phương chưa có nhiều sản phẩm nổi trội có thương hiệu để thu hút khách quốc tế, do đó doanh thu du lịch thấp và đóng góp của ngành du lịch vào kinh tế - xã hội của tỉnh chưa cao.
Thứ hai, một số dự án du lịch cấp tỉnh và cấp huyện đã đưa vào danh mục mời gọi đầu tư nhưng chưa thu hút được nhiều nhà đầu tư quan tâm; hạ tầng phục vụ du lịch (hệ thống các khu điểm du lịch, cơ sở lưu trú cao cấp, vui chơi giải trí, mua sắm, nhà hàng...) chưa đáp ứng được yêu cầu phục vụ du lịch với quy mô, số lượng lớn khách du lịch.
Thứ ba, những cơ sở dịch vụ, bổ trợ, cơ sở vui chơi giải trí hiện có chưa đạt chuẩn và có quy mô nhỏ nên hạn chế trong việc phục vụ đáp ứng nhu cầu số lượng lớn du khách trong các dịp lễ hội, sự kiện. Các khách sạn đạt tiêu chuẩn từ 3 sao trở lên còn thiếu; các đơn vị có chức năng kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế chưa phong phú.
Thứ tư, chưa thu hút được nhiều khách du lịch quốc tế, nhất là khách đến từ thị trường Campuchia mặc dù có lợi thế về đường biên giới và khách du lịch qua lại các cửa khẩu quốc tế của Tây Ninh.
2. Một số giải pháp giúp du lịch tỉnh Tây Ninh phát triển bền vững, hội nhập quốc tế
Một là, đổi mới nhận thức về du lịch là ngành kinh tế dịch vụ tổng hợp, tạo động lực cho các ngành khác phát triển; vận động doanh nghiệp, cộng đồng ứng xử văn minh, thân thiện và bảo vệ hình ảnh, môi trường; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, bảo đảm an ninh, an toàn cho du khách, tạo ra môi trường đầu tư tốt nhất cho các tổ chức, cá nhân hoạt động trên lĩnh vực du lịch.
Hai là, xác định rõ sản phẩm, dịch vụ cần tập trung phát triển, nâng cao chất lượng để thu hút du khách, tăng thời gian lưu trú và chi tiêu của du khách khi đến Tây Ninh; Tập trung công tác xây dựng, giữ gìn chất lượng sản phẩm, dịch vụ, uy tín gắn với quảng bá hình ảnh, thương hiệu du lịch Tây Ninh.
Ba là, đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá, liên kết phát triển du lịch khu vực Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ và các địa phương trong cả nước và xúc tiến thị trường nước ngoài. Xây dựng thương hiệu du lịch bằng cách phối hợp với các đoàn báo chí, đoàn làm phim, các kênh truyền hình viết bài, thực hiện phóng sự, làm phim về Du lịch Tây Ninh; tích cực đăng cai tổ chức các giải thi đấu thể thao, hội chợ du lịch, hội thảo cấp quốc gia và khu vực.
Bốn là, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện nội dung đã ký kết phối hợp về lĩnh vực du lịch với các tỉnh, thành, các cơ quan truyền thông, báo, đài: Tổng công ty hàng không Việt Nam; Chương trình liên kết phát triển du lịch vùng Đông Nam Bộ; thỏa thuận hợp tác với Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, ký kết Thỏa thuận hợp tác giữa UBND tỉnh Tây Ninh và Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn – TNHH MTV (Saigontourist Group)…
Năm là, thực hiện các chính sách phát triển nguồn nhân lực; tổ chức điều tra, đánh giá chất lượng nguồn nhân lực du lịch làm cơ sở để xác định nhu cầu, định hướng đào tạo; Thực hiện có hiệu quả chính sách đào tạo và thu hút nhân tài của tỉnh.
Sáu là, xây dựng Bộ nhận diện thương hiệu hình ảnh tỉnh Tây Ninh gắn với các chuẩn giá trị trong định hướng phát triển “Tây Ninh Xanh”.
Bảy là, ứng dụng công nghệ thông tin, tiếp tục thực hiện tích hợp thông tin giới thiệu điểm tham quan, di tích vào mã QR tại các di tích, điểm tham quan, phát triển các hạ tầng kỹ thuật, chuyển đổi số trong lĩnh vực du lịch, nghiên cứu và ứng dụng các kỹ thuật hiện đại nhằm đưa du lịch đến gần với các tầng lớp nhân dân khác nhau, khơi gợi cảm hứng, thúc đẩy mong muốn được đi du lịch, được trải nghiệm và khám phá.
Tám là, rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tập trung hỗ trợ về pháp lý để các nhà đầu tư đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện dự án đầu tư tại các khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh. Tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư về chủ trương phát triển du lịch vào các dự án du lịch của tỉnh.
Thực hiện tốt Phát triển du lịch trong bối cảnh hội nhập quốc tế là cơ hội lớn để Tây Ninh vươn mình trở thành một điểm đến du lịch hấp dẫn trong khu vực và trên thế giới./.
________________________________________
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Tây Ninh. Báo cáo số 458/BC-SVHTTDL, ngày 26/11/2024 về kết quả năm 2024 về thực hiện Kế hoạch số 1833/KH-UBND, ngày 10/6/2022 của UBND tỉnh về “Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030”.
2. Ủy ban nhân dân tỉnh. Báo cáo số 859-BC/UBND ngày 28/12/2022 về kết quả 05 năm thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 16/01/2017 của Bộ Chính Trị về “Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn” gắn với việc thực hiện Chương trình hành động số 68-CTr/TU ngày 14/1/2021 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh.
3. Ủy ban nhân dân tỉnh. Kế hoạch số 1833/KH-UBND, ngày 10/6/2022 về “Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030.
Nguồn: Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông điện tử
Bài liên quan
- Tổng thống Vladimir Putin: Bốn nhiệm kỳ và hành trình phục hưng nước Nga
- Đổi mới công tác cán bộ trong cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy nhà nước ở Việt Nam hiện nay: Những vấn đề lý luận và thực tiễn
- Ứng dụng truyền thông số trong hoạt động công tác xã hội tại bệnh viện: Thực trạng và xu hướng
- Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi trì hoãn kết hôn của giới trẻ Việt Nam hiện nay
- Quản lý hình ảnh về phụ nữ dân tộc thiểu số Việt Nam trên các sản phẩm báo ảnh tại Thông tấn xã Việt Nam hiện nay
Xem nhiều
-
1
[Video] Dấu ấn Cách mạng Tháng Tám qua những hiện vật lịch sử
-
2
Tổng thống Vladimir Putin: Bốn nhiệm kỳ và hành trình phục hưng nước Nga
-
3
Những yêu cầu và nguyên tắc phát triển báo chí – truyền thông trong kỷ nguyên mới
-
4
Truyền thông đại chúng trong kỷ nguyên số: động lực đổi mới mô hình phát triển xã hội Việt Nam hiện nay
-
5
Tác động của quảng cáo sản phẩm trên mạng xã hội đến hành vi mua sắm của học sinh trung học phổ thông Hà Nội
-
6
Thực trạng nội dung thông tin về chính sách y tế trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay
Liên kết
- Báo điện tử đảng cộng sản việt nam
- Báo nhân dân
- Báo Quân đội nhân dân
- Cổng thông tin điện tử Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Cổng thông tin điện tử Học viện Chính trị quốc gia hồ chí minh
- Tạp chí Cộng sản
- Tạp chí Giáo dục lý luận
- Tạp chí Giáo dục và Xã hội
- Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
- Tạp chí Lý luận chính trị
- Tạp chí Nghiên cứu con người
- TẠP CHÍ Nghiên cứu dân tộc
- Tạp chí Người làm báo
- Tạp chí Nội chính
- Tạp chí Quản lý Nhà nước
- Tạp chí Tổ chức Nhà nước
- Tạp chí Tuyên giáo
- Tạp chí Xây Dựng Đảng
- Thư viện số Học viện Báo chí và Tuyên truyền
- Trang thông tin điện tử Hội đồng Lý luận Trung ương
Phát huy vai trò của báo chí trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng, “kim chỉ nam” dẫn dắt dân tộc Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong bối cảnh mới, công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là cuộc chiến của lý luận, để bảo vệ lý tưởng và củng cố niềm tin vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Trước sự chống phá của các thế lực thù địch ngày càng gia tăng cả về quy mô lẫn mức độ tinh vi, nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trở nên cấp bách hơn; trong đó, báo chí đóng vai trò hết sức quan trọng.
Tổng thống Vladimir Putin: Bốn nhiệm kỳ và hành trình phục hưng nước Nga
Tổng thống Vladimir Putin: Bốn nhiệm kỳ và hành trình phục hưng nước Nga
Trong suốt hơn hai thập kỷ đầu thế kỷ XXI, tên của Tổng thống Vladimir Putin đã trở thành biểu tượng gắn liền với tiến trình phát triển và chuyển mình của Liên bang Nga. Từ một quốc gia đối mặt với khủng hoảng kinh tế - chính trị nghiêm trọng sau khi Liên Xô tan rã, nước Nga dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Putin đã từng bước khôi phục ổn định, nâng cao vị thế quốc tế và củng cố bản sắc quốc gia. Dù vẫn còn không ít tranh cãi, không thể phủ nhận rằng Tổng thống Vladimir Putin đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử nước Nga hiện đại như một nhà lãnh đạo có ảnh hưởng lớn lao và lâu dài. Bài viết được thực hiện với mục đích phân tích các giai đoạn cầm quyền của ông, từ đó làm rõ những đóng góp, lựa chọn chiến lược và quyết sách của Ông đối với vận mệnh quốc gia. Qua đó, góp phần lý giải vì sao Tổng thống Vladimir Putin được xem là “người sẽ cứu nước Nga” trong thời kỳ chuyển giao và định hình bản sắc, quyền lực quốc gia hậu Xô Viết.
Đổi mới công tác cán bộ trong cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy nhà nước ở Việt Nam hiện nay: Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Đổi mới công tác cán bộ trong cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy nhà nước ở Việt Nam hiện nay: Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Công cuộc tinh gọn bộ máy nhà nước là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm hiện thực hóa mục tiêu xây dựng nền hành chính nhà nước hiện đại, hiệu lực, hiệu năng, hiệu quả, phục vụ nhân dân. Trong tiến trình đó, công tác cán bộ đóng vai trò trung tâm, bởi cán bộ chính là người tổ chức và thực thi cải cách. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, công tác cán bộ hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, chưa thực sự tương xứng với yêu cầu đổi mới bộ máy nhà nước. Bài viết tiếp cận vấn đề từ nền tảng lý luận Mác, Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các văn kiện Đảng để phân tích những vấn đề lý luận, thực tiễn trong đổi mới công tác cán bộ, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu cải cách hệ thống chính trị trong bối cảnh mới.
Ứng dụng truyền thông số trong hoạt động công tác xã hội tại bệnh viện: Thực trạng và xu hướng
Ứng dụng truyền thông số trong hoạt động công tác xã hội tại bệnh viện: Thực trạng và xu hướng
Trong bối cảnh chuyển đổi số y tế đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn quốc, một số bệnh viện tuyến trung ương đã bước đầu ứng dụng truyền thông số hiệu quả trong tư vấn tâm lý – xã hội, kết nối cộng đồng và vận động nguồn lực, tuy nhiên, phần lớn bệnh viện tuyến tỉnh, huyện chưa có điều kiện triển khai đầy đủ. Bài viết đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm tích hợp truyền thông số vào hoạt động công tác xã hội (CTXH) tại bệnh viện, góp phần định hướng phát triển CTXH bệnh viện theo hướng chuyên nghiệp, công bằng và thích ứng với bối cảnh số hóa y tế đến năm 2030.
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi trì hoãn kết hôn của giới trẻ Việt Nam hiện nay
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi trì hoãn kết hôn của giới trẻ Việt Nam hiện nay
Theo thống kê trong giai đoạn từ 2013 – 2023 cho thấy độ tuổi kết hôn trung bình của người dân đang có xu hướng tăng(1). Vì vậy, nhóm tác giả đã thực hiện nghiên cứu nhằm làm rõ những nhân tố ảnh hưởng tới hành vi này tại Việt Nam. Bài nghiên cứu chỉ ra sự thay đổi trong độ tuổi kết hôn của người dân Việt Nam, đồng thời phân tích rõ ảnh hưởng của những nhân tố như trình độ học vấn, nền tảng gia đình, địa lý, chi phí sinh hoạt, thu nhập, nghề nghiệp và truyền thông tới việc trì hoãn kết hôn, thông qua dữ liệu từ cuộc khảo sát gồm 736 người trong độ tuổi từ 18 – 35, trải rộng khắp các vùng miền của Việt Nam. Qua đó, nhóm tác giả nêu lên một số đánh giá về tác động của hành vi trì hoãn kết hôn của giới trẻ tới sự phát triển của kinh tế - xã hội. Sau cùng, nhóm tác giả đề xuất giải pháp để giải quyết vấn đề trì hoãn kết hôn của người trẻ Việt Nam hiện nay.
Bình luận